Quan điểm bạn-thù, ta-địch mơ hồ
— Các hiện tượng trên trường quốc
tế và trong nước rất nhiều và rõ rệt.
Trên trường quốc tế, trong các nước dân
chủ của ta thôi, ta thấy những điều làm
ta suy nghĩ. Ta thấy chẳng hạn những người
suốt đời hi sinh cho sự nghiệp cách mạng,
giữ những trọng trách trong chính thể cách
mạng, rồi bỗng nhiên phải truất quyền,
khai trừ ra khỏi Đảng, tống giam, thậm chí
có khi bị giết nữa. Rồi ít lâu sau, ta lại
thấy các người ấy được khôi
phục công quyền, đảng tịch, cương
vị, người nào bị kết án tử hình
rồi thì được an táng lại ở các đài
kỷ niệm các liệt sĩ mà Tổ quốc ghi tên
muôn đời.
Trong nước ta, qua cuộc Cải cách Ruộng đất
ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng thành tích
lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai
huy chương kháng chiến (ở ngoại thành Hà
Nội) bị kết án là phản động, cường
hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay
bị hành hình. Ấy là không nói đến các người
trong quần chúng bị hi sinh oan. Đối với các
nạn nhân này, ta có thể một phần nào hiểu các
sai lầm đã phạm, vì họ thiếu hay không có thành
tích cách mạng hay kháng chiến. Nhưng đối
với các đảng viên ưu tú, tinh hoa của dân
tộc, lúc bị xử trí như ta đã biết, thì
ta tự hỏi trong đầu óc của những người
xử họ có cái gì mà ta gọi là lý tính không? Ngay
một thường dân, không phải là một nhà chính
trị hay văn hóa, chỉ sử dụng cái lẽ
phải của mình thôi, cũng không thể nào hỗn
hợp người xấu với kẻ tốt như
vậy được. Ta phải đặt vấn đề
rằng cán bộ từ trên xuống dưới, tham gia
Cải cách Ruộng đất, không phải là người
điên cuồng, cũng không phải là người
chủ mưu, dụng tâm phá hoại. Nếu như
thế thì ta sẽ gửi họ đến bác sĩ chuyên
môn chữa bệnh thần kinh, hay đến công tố
viện của các tòa án. Nhưng không phải như
thế, ta tin như vậy. Do đó, kết luận mà ta
tiến tới, dù muốn hay không, là các các cán bộ
ấy có một quan điểm rất mơ hồ
về ta-thù, bạn-địch.
Còn gì đau đớn hơn là câu ta được
nghe “ta đánh cả ta nữa”. Nếu như vậy
thì ta cần phải nhận rằng ta không phân biệt
được bạn và thù. Ta đọc lại các bài
gần đây đăng trong báo Nhân Dân của các đồng
chí bị xử trí oan, hoặc các đồng chín
ấy nói, hoặc không nói, nhưng ta đều hiểu
các đồng chí ấy nghi ngờ những người
kết án các đồng chí, không phân biệt được
bạn và thù. Vì vậy nên đánh cả bạn,
giết cả bạn.
Tôi thấy đây là một điều cực kỳ
quan trọng. Nguyên do ở đâu? Phải chăng ở
một tinh thần cảnh giác quá cao đến nỗi mù
quáng, ở một tả khuynh mà ta thường mắc
trong giai đoạn ấu trĩ của cách mạng?
Đây không phải là nơi và lúc mà ta cần phân tích
sâu sắc điều ấy. Chủ yếu là ta nhận
thấy rằng một nguyên nhân sai lầm là ở trong
quan điểm thù bạn rất mơ hồ. Nếu ta
không kịp sửa chữa sai lầm, xây dựng lại
quan điểm thù bạn, một ngày kia ta sẽ lại
phải khóc trên kỷ niệm của những vị có
công nhất với cách mạng, với nhân dân. Ta cương
quyết không thể nào để tình trạng ấy tái
diễn ra được.
Bất chấp pháp luật — Giáo sư Ba Lan Mahelli
nói chuyện ở Bộ Tư pháp, cho ta biết rằng
bên Ba Lan, khi cách mạng thành công, các nhà chính trị
bất chấp pháp luật. Họ quan niệm rằng
họ đủ tài năng để đảm nhận
các cương vị lãnh đạo trong ngành tư pháp,
để bó buộc tư pháp phục vụ triệt
để chính trị mà không đếm xỉa đến
các nguyên tắc căn bản của pháp lý. Kết
quả là chẳng bao lâu bộ máy tư pháp sộc
sệch, không những không củng cố được
chính thể cách mạng, ngược lại, tác hại
quá nhiều gây bao nhiêu khó khăn cho chính quyền cách
mạng. Sai lầm ấy đuợc uốn nắn
kịp thời: hoàn cảnh khách quan đã dạy
một bài học cho chủ quan các nhà chính trị, để
lãnh đạo chuyên môn phải nhập trường
học tập, trước non 2 năm, sau 5 năm, để
qua pháp lý, phục vụ chính trị và cách mạng.
Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên. Trong giai
đoạn đầu tiên, chính trị say sưa với
các thắng lợi đã thu —và dĩ nhiên các thắng
lợi ấy vĩ đại— lâm vào tình trạng
tự mãn và bao biện.
Nhưng quản trị một nước, đặc
biệt một nước đang xây dựng chính
quyền cách mạng, nghĩa là một cái gì vô cùng
mới mẻ và khó khăn — không giống như là
đề ra đường lối và khẩu hiệu
tranh đấu cách mạng và vận động quần
chúng làm cách mạng. Hai khu vực hoạt động
ấy tuy quan hệ mật thiết với nhau, nhưng
mỗi ngành hoạt động có kỹ thuật và quy
luật của nó. Lúc nhà chính trị bao biện, bất
chấp hoàn cảnh khách quan kinh nghiệm xương máu
của lịch sử, thì chẳng sớm thì muộn ta
thấy diễn ra những tai hại hiện thời làm
chúng ta đau xót. Trên con đường bao biện và
tự mãn ấy, các nhà chính trị đã bị thúc
đẩy bởi những thành kiến đối
với pháp lý và tin rằng pháp lý là cái gậy chỉ
dùng để chọc bánh xe, không hiểu rằng, trái
lại, chính pháp lý giúp xe khỏi lật, khỏi gây tai
nạn. Nguy hại hơn là chính trị tự đặt
mình lên trên pháp luật. Ngay trong trường hợp chính
trị sau khi đặt mình lên trên pháp luật, còn
giữ vững thái độ chân chính, cũng đã gây
ra bao khó khăn rồi. Pháp luật chủ yếu đề
ra những cái gì có thể làm được, cái gì không
được phép làm, do đó nhân dân vững tâm
biết rõ đường mà đi. Nhưng tâm hồn
quần chúng chỉ được ổn định khi
nào quần chúng biết rõ rằng cái gì bó buộc mình
cũng đồng thời bó buộc nhà cầm
quyền. Trái lại, khi pháp luật chỉ gò bó
quần chúng mà không gò bó nhà cầm quyền thì nhà
cầm quyền mỗi lúc có thể vẽ ra các
đường mới mà quần chúng chưa từng
biết. Vì vậy quần chúng hoang mang: cái gì hôm qua làm
được, ngày mai với sự độc đoán
của nhà cầm quyền có thể bị coi là phi pháp.
Hoang mang ấy lên tới cực độ khi tác dụng
của sự thay đổi thái độ này của nhà
cầm quyền không những ảnh hưởng đến
tương lai, mà là ảnh hưởng cả về quá
khứ nữa. Đó là trường hợp nhà cầm
quyền, lúc tự đặt mình lên trên pháp luật,
giữ thái độ chân chính đúng mực, huống
hồ là khi nhà cầm quyền sử dụng quyền
thế của mình một cách lộng quyền, như ông
Trường Chinh đã nhận định. Quyền
xử tử người một cách đơn giản như
vậy trái với luật pháp: đó chỉ là một
giải pháp chính trị mà thôi. Nếu mà các người
sử dụng quyền ấy lại không sử dụng
với tinh thần chính sách của lãnh đạo,
sử dụng một cách lộng quyền thì kết
quả thế nào, hiện thời ta đã trông thấy
rõ.
Bất chấp chuyên môn — Các nhà chính trị
bất chấp pháp luật. Nhưng nếu các vị
ấy tranh thủ ý kiến của các nhà chuyên môn và
cho phép các nhà chuyên môn đề đạt ý kiến thì
các nhà chuyên môn cũng sẽ yêu cầu các nhà chính
trị nên chú ý đến pháp luật, và dùng pháp
luật phục vụ cách mạng.
Nhưng tiếc thay, trong 10 năm vừa qua, ta thấy
một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh
đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ
“lập trường” làm ta mất ăn mất
ngủ. Nếu được dùng một hình ảnh
“duy tâm”, tôi ví lập trường như cái oan
hồn ngày đêm theo đuổi kẻ nào đã hãm
hại người chủ của nó. Có một điều
lạ, là các anh em công nông, các vị lãnh tụ không bao
giờ nói đến lập trường trong sinh
hoạt hàng ngày. Trái lại, các cán bộ và đảng
viên tiểu tư sản không lo ngại gì bằng
sự mất lập trường. Vì vậy, để
nhớ đến nó, mở miệng ra là nêu lập trường
rồi. Đó là tinh thần tự ti của một giai
cấp mất khí thế, quên rằng mình đứng
trong hàng ngũ cách mạng. Dù sao, ở Việt Nam chúng
ta cũng đã xẩy ra những sự việc như
sau đây, ta cần ghi nhớ để con cháu ta cười
muôn thuở: khi chọn một người vặn lái ô
tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái
và đã vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi: “Có
lập trường không?” Kết quả là từ hai năm
nay, riêng trong thủ đô Hà Nội, hàng trăm tai
nạn xảy ra do các người vặn lái ô tô có
lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi
đưa tới bệnh viện một bệnh nhân
cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước
tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào?
Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”.
Để nó chết mới chứng minh mình có “lập
trường giai cấp” (hiện tượng do B.S.
Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra).
Tại sao có những hiện tượng quái gở như
vậy? Là vì chính trị chiếm đóng tất cả
các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng
ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu
của con người, làm chúng ta khước từ các
chân lý. Chân lý cho biết rằng chính trị không
thể nào thay thế được cho chuyên môn, không làm
được việc của chuyên môn. Nếu như
vậy thì ít ra chính trị cũng hỏi ý của chuyên
môn mới là phải. Nhưng không. Chính trị nghi
ngờ chuyên môn, không tin ở chuyên môn. Lúc thì cho
rằng chuyên môn là do văn hoá và khoa học tư
sản đế quốc xây dựng, là vô dụng (đó
là một sai lầm nghiêm trọng các người tin như
vậy chưa đọc Lenin). Lúc thì cho rằng các nhà
chuyên môn không phải xuất hiện ở tầng
lớp cơ bản, công hay nông, thì không có đảm
bảo vì thái độ lừng chừng, lập trường
lỏng lẻo, dù là 10 năm nay họ đã bước
chân vào đường cách mạng và chứng minh
nhiệt tình của mình đối với sự
nghiệp giải phóng dân tộc, kiến thiết
quốc gia.
Theo ý tôi, đây là một vấn đề then chốt.
Các anh em trí thức kháng chiến thường phàn nàn
rằng Đảng Lao động thiếu tín nhiệm
họ. Họ đau khổ mà nhận thấy rằng
mặc dầu họ đã trải qua bao nhiêu thử thách,
chịu đựng bao nhiêu hi sinh, trải qua bao nhiêu gian
nguy, Đảng vẫn chưa tin ở họ. Nào họ
có yêu sách gì quá đáng đâu? Họ có đòi làm
Bộ trưởng hay Đại sứ đâu? Không.
Đại đa số các anh em trí thức nói chung, không
mơ ước các cương vị, công tác lộng
lẫy đâu, họ vui lòng nhường chỗ cho các
nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ
thiết tha đòi hỏi được mang khả năng
chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ
nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết tha mong muốn
được bảo toàn danh dự trí thức của
họ và cái tự do tư tưởng mà họ quan
niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người
trí thức mà thôi. Họ đã từng nghe thấy Đảng
tuyên bố: Người trí thức là vốn quí của
dân tộc. Nhưng họ cảm thấy vốn ấy quí
quá đến nỗi phải cất nó đi thật
kỹ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một hoàng
hôn trường cửu. Nếu có ai cho rằng tôi nói không
đúng, tôi cứ đề nghị người ấy
quay mặt nhìn chung quanh, ở các cương vị công
tác trong chính thể của ta. Có một chỗ nào mà người
trí thức ngoài Đảng nắm được
thực quyền không? Tác dụng “hiếu hỉ” hay
“cười gật” thì có, mà lại có nhiều. Nhưng
ngay ở các cương vị ấy, ngoài vai trò
hiếu hỉ, cười gật, người trí
thức có một trách nhiệm gì không, có quyền nói gì
làm gì không, quần chúng đã biết và miễn tôi
giả nhời.
Chính trị chèn ép chuyên môn như thế nào, xua đuổi
người trí thức ra ngoài con đường cách
mạng ra sao, lịch sử kháng chiến đã cho ta kinh
nghiệm đau đớn. Năm 1949, phong trào tư pháp
liên khu III tan vỡ vì chính quyền quan niệm tư pháp
phải thuộc sự điều khiển của mình. Năm
1951, phong trào quân y, dân y liên khu IV sụp đổ vì các
chính trị viên đưa vào các bệnh viện đã
đàn áp chuyên môn, thúc đẩy các bác sĩ có công
với cách mạng, với kháng chiến, phải gạt
nước mắt mà rời bỏ kháng chiến. Đó
không phải là chủ trương của Đảng Lao
Động. Nhưng có một điều làm ta suy nghĩ:
sao mãi bây giờ sau 10 năm Đảng mới nghiên
cứu một chính sách cho trí thức? Điều ấy
chứng tỏ rằng từ khi cách mạng thành công, ta
chưa đánh đúng giá người trí thức, chưa
đặt vấn đề trí thức. Do đó, làm
thế nào khai thác được tất cả khả năng
của người trí thức để họ mang chuyên
môn ra phục vụ nhân dân?
Trên đây, tôi nói về người trí thức từ
chiến khu trở về. Đối với người
trí thức vẫn ở trong Thủ đô, ta thấy
sự thiếu tín nhiệm ấy lại còn trầm
trọng hơn nữa. Bao lần ta nghe tiếng chua cay
của các anh em ấy phàn nàn bị coi như là kẻ
thù, mặc dầu các anh em vì yêu nước đã
khắc phục mọi lo sợ do tuyên truyền của
địch gây ra và ở lại với chúng ta. Ta để
cho cán bộ hộ khẩu xâm phạm đến danh
dự của các anh em, ta không tìm cách nào sửa chữa
sai lầm ta đã phạm đối với anh em. Ở
các công sở tình trạng chèn ép của chính trị
đối với chuyên môn đã đưa đến cái
danh từ bi đát làm cho ta đau lòng: “họ Lưu,
họ Kháng”. Không đoàn kết được các anh
em, ta lại còn có thái độ úp mở, nhùng nhằng
(ta tưởng như vậy là thượng sách),
thậm chí ta lại còn nghi ngờ các anh em. Ta không
hiểu rằng làm như vậy, ta bất công với các
anh em, ta không tôn trọng lời đã hứa qua chính sách
tiếp quản và cương lĩnh Mặt Trận, ta
đẩy các anh em xa rời ta, ta vô tình ném xuống
bể tiêu cực cái vốn chuyên môn của các anh em trí
thức trong Thủ đô.
Đó là những nguyên nhân trực tiếp. Đào sâu hơn
nữa, ta thấy rằng sở dĩ có những
hiện tượng như ta vừa phân tách trên đây,
chẳng qua chỉ vì sự lãnh đạo của ta
thiếu dân chủ, xa lìa quần chúng.
Chính thể ta thiếu dân chủ như thế nào, ta
đã từng biết. Vai trò của các vị Bộ và
Thứ trưởng ngoài Đảng như thế nào, các
vị đó làm được những gì trong Hội
đồng chính phủ, trong các ngành chuyên môn mà các
vị ấy phụ trách, ta không nên đi quá sâu. Ta
chỉ cần liếc mắt nhìn qua công việc làm trong
mỗi Bộ, ta chỉ cần nghe tiếng than phiền
của các cán bộ, công chức làm việc trong các
Bộ là ta hiểu. Ta cũng biết rằng chủ trương
của Đảng có lẽ không phải như vậy
đâu, nhưng trong thực tế công tác, mỗi anh em
ta tiếp xúc với các vị Bộ hay Thứ trưởng
ngoài Đảng, đều nhận thấy rằng
quyền hành của các vị ấy hình như không
phải là quan trọng cho lắm. Nhận định như
vậy có lẽ ta lầm đấy. Nhất định
ta lầm. Nhưng dù sao có “dư luận” không ai
chối cãi được. Do đó, nếu chủ trương
của Đảng không phải như vậy thì ít ra
Đảng cũng mang trách nhiệm không làm thế nào
để tiêu tan cái dư luận tai hại mà chúng ta
thấy tồn tại từ thời kỳ kháng chiến
đến giờ. Nhưng cũng có điều chắc
chắn không ai chối cãi được, là các vị
Bộ hay Thứ trưởng không có trách nhiệm gì trước
Quốc hội, trước nhân dân, chỉ có trách
nhiệm trước Chính phủ mà thôi. Chưa bao
giờ ta thấy vị Bộ truởng nào bị lật
đổ cả. Phải đợi đến các sai
lầm đặc biệt nghiêm trọng trong Cải cách
mới thấy hai vị Thứ trưởng phải rút
lui khỏi Hội đồng Chính phủ. Các hiện tượng
ấy chứng tỏ rằng Chính phủ ta chưa
thực hiện được dân chủtrong khi lập
Hội đồng Chính phủ, vì các vị Bộ hay
Thứ trưởng đều được cử hay
bị truất, ngoài sự tham gia trực tiếp hay gián
tiếp (qua Quốc hội) của quần chúng.
Tình trạng của Quốc hội lại rõ hơn
nữa. Mười năm Quốc hội đã thành
lập. Các vị đại biểu Quốc hội còn
phản ảnh được ý nguyện của quần
chúng không, quần chúng có tín nhiệm ở Quốc
hội nữa không, đó là một vấn đề. Nhưng
dù vấn đề ấy ta giải quyết như
thế nào đi nữa, có một điều chắc
chắn là một Quốc hội già 10 năm rồi mà
vẫn tồn tại ngoài sự can thiệp của
quần chúng, sự lựa chọn của quần chúng,
chứng minh rằng quần chúng 10 năm nay đã
bị truất quyền cử đại biểu của
mình rồi. Dĩ nhiên trong thời kỳ kháng chiến,
bầu lại Quốc hội là một điều không
làm được. Và hiện thời, Nam-Bắc bị
tạm chia cắt, do đó sự bầu lại toàn
thể Quốc hội cũng là khó khăn. Nhưng dù
sao riêng ở các miền giải phóng này, nếu ta chú
ý đến quyền người dân cử đại
biểu của họ thì nhất định ta phải
cho phép người dân bỏ phiếu rồi. Từ khi hòa
bình trở lại, 2 năm đã qua, mãi bây giờ trước
phong trào quần chúng đòi thực hiện dân chủ,
ta mới nghĩ đến quyền bỏ phiếu
của người dân và bổ sung Quốc hội.
Nào có thế thôi đâu? Ngay cái Quốc hội ta đang
có hiện thời, ta có thực hiện dân chủ
với nó không? Chắc chắn là không. Thỉnh
thoảng ta mới họp Quốc hội, và trong các
buổi họp đó ta chỉ thấy Chính phủ
đưa ra các báo cáo để Quốc hội nghiên
cứu, xây dựng, hay các chính sách để Quốc
hội tán thành và bổ khuyết. Quyền lập pháp
của Quốc hội ở đâu? Quyền đề ra
đường lối, chủ trương trong nội
trị, ngoại giao, quyền nêu trách nhiệm của Chính
phủ và các Bộ, quyền lựa chọn nhân viên
trong Hội đồng Chính phủ, bấy nhiêu
quyền, Quốc hội có được hưởng
dụng không? Dư luận quần chúng quan niệm
rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính
sách mà thôi. Còn như các sắc lệnh hay đạo
luật thì thường thường, quyền thông qua
ấy chỉ thuộc ban Thường trực của
Quốc hội. Nếu Quốc hội là tổ chức
cao nhất của quần chúng, đại diện cho
quần chúng, thì ta phải khách quan nhận thấy
rằng, với vai trò vô cùng yếu ớt của
Quốc hội hiện thời, quyền dân chủ
của quần chúng không được thực hiện.
Nói đến Mặt trận thì tình hình cũng tương
tự. Mặt trận hiện thời là tổ chức
quần chúng có lẽ sát tình hình quần chúng nhiều
nhất. Nhưng ta có để nó đóng vai trò của
nó không? Không. Tác dụng của nó là động viên
quần chúng để tán thành, ủng hộ và thi hành
các chính sách. Đứng về phương diện này,
nó làm tròn nhiệm vụ của nó. Nó xứng đáng
với tín nhiệm của Đảng và Chính phủ. Nhưng
hoạt động của nó như thế chỉ có
một chiều thôi. Ta chưa khai thác các khả năng
của nó. Ta chưa nhận thấy bản chất
của nó. Nó có thể là liên lạc “hai chiều”
giữa quần chúng và Đảng, Chính phủ. Một
mặt như nó thường làm, nó động viên
quần chúng để thực hiện các chủ trương
của Đảng và Chính phủ. Nhưng mặt khác, nó
có thể là cơ quan phản ảnh lên Đảng và
Chính phủ các ý kiến, thắc mắc, nguyện
vọng của quần chúng, góp phần xây dựng các
chính sách, nói lên tiếng nói của quần chúng, cung
cấp tài liệu nguồn gốc ở quần chúng, tích
cực giúp đỡ cấp lãnh đạo tránh khỏi
chủ quan, thắt chặt liên lạc giữa cấp lãnh
đạo và quần chúng. Nhưng muốn để cho
nó đóng vai trò ấy, ta phải “dân chủ” đối
với nó, nghĩa là phát động tự do tư tưởng
của nó, để nó mạnh dạn nói lên ý kiến
của quần chúng, dù là các ý kiến trái ngược
với nhận định của cấp lãnh đạo.
Nhưng từ trước tới nay, ta không làm như
vậy. Ta thấy khó chịu khi nó thỏ thẻ
—chỉ thỏ thẻ thôi— những lời làm ta
một phút chốc tỉnh giấc mộng chủ quan mà
ta trong cấp lãnh đạo đang say sưa. Vì vậy
ta chỉ thường cho phép nó, chỉ khuyến khích nó
phụ họa ta, tán đồng ta với thái độ
của đứa con khen hay khi mẹ nó hát. Tóm lại,
ta không dân chủ với nó. Do đó, ta hạn chế
khả năng của nó, nó không giúp ích gì cho cấp lãnh
đạo.
Thiếu dân chủ là gì? Là xa rời quần chúng, là
giam hãm mình vào ngục thất của chủ quan. Tại
sao một chính thể cách mạng lại có thể
phạm sai lầm nghiêm trọng như vậy được?
Trước đây, ta không trả lời được.
Những người kính yêu cách mạng rất ngạc
nhiên khi thấy có kẻ đi tìm tự do, rời
bỏ hàng ngũ cách mạng để lén sang phía tư
bản. Ngay trong thủ đô ta hiện thời, qua Đại
hội lần thứ 3 của Mặt trận Thành, ta
thấy phản ảnh ý muốn của bao nhiêu đồng
bào muốn đi Nam. Ta nghĩ đến các đồng
bào, trong thời kỳ kháng chiến, gạt nước
mắt mà trở về Hà-nội. Nếu cách mạng
mang lại cho họ ánh sáng và hạnh phúc, sao lại có
người lo ngại trước cách mạng, đau
đớn vì cách mạng. Các người ấy không
phải thuộc thành phần kẻ thù của cách
mạng, trái lại thuộc thành phần cơ bản
trong nhân dân, như nông dân, công nhân. Thế thì đâu là
chân lý? Đó là một vấn đề mà trước
đây ta chỉ đặt thôi và không giải quyết
được.
Bây giờ sau Đại hội lần thứ 20 của
Đảng Cộng sản Liên-sô, sau các cuộc bạo
động ở Berlin, Poznan, bên Tiệp, bên Hung, ta
hiểu rõ vấn đề, ta giải quyết được
nó. Chung quy, mặc dầu cách mạng là tốt đẹp,
mang lại hạnh phúc cho dân tộc, sở dĩ vẫn
có người xa lánh cách mạng, chẳng qua là vì chính
thể cách mạng mắc trầm trọng bệnh xa lìa
quần chúng, thiếu dân chủ, do đó đi càng ngày
càng sâu vào tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, duy trì
một thái độ lãnh đạo hẹp hòi, độc
đoán, có khi độc tài. Thái độ một
chiều không muốn, không cho phép ai nói cái gì trái ngược
ít nhiều với ý kiến nhận định, thành
kiến của mình. Mình tự phụ, tự hào mình có
độc quyền tìm thấy và gìn giữ chân lý.
Đó là tật tự cao tự đại của nhà cách
mạng. Ta bay bổng lên trời xanh của ảo tưởng,
ta chỉ tin ở ta. Trong tư tưởng, ta không khinh
quần chúng, nhưng trong hành động, quả
thật con mắt khách quan nhận thấy ta bất
chấp quần chúng. Thậm chí, khi ta nghe thấy
một tiếng nào từ quần chúng nói lên rằng ta
nhầm, ta làm như thế này mới phải, lập
tức ta thét ngay đó là tiếng của địch.
Sở dĩ quan điểm bạn thù của ta mơ
hồ, và đâu ta cũng trông thấy địch,
chẳng qua là vì ta quá tự phụ, ta sùng bái ta quá
đáng mà thôi. Bây giờ ta biết rõ là nếu
bệnh ấy phổ biến trong hàng ngũ cách mạng
hiện thời thì trách nhiệm chính là Stalin phải
chịu. Vì tự cao, tự đại, tự phụ,
tự mãn, Stalin không cho phép ai dân chủ với mình,
đâu cũng trông thấy địch. Kết quả
thế nào ta đã biết: khẩu hiệu nêu lên, thét
lên, gào lên là: đề cao cảnh giác. Và lợi
dụng tình thế ấy, ta biết Béria đã làm
những gì, phạm tội ác như thế nào.
Nếu không có quyết nghị lần thứ 20 của
Đảng Cộng sản Liên-sô, nếu không có
những sai lầm cực kỳ tai hại trong Cải cách,
ta chưa mở mắt được, ta sẽ còn
thấy bao nhiêu máu oan chảy thành suối thành sông, bao
nhiêu người kính yêu cách mạng mà vẫn đau sót
rời bỏ cách mạng. Tuy ta phải trả một giá
quá cao, nhưng bây giờ ta biết rõ nguyên do của các
đau khổ của ta: ta thiếu dân chủ.
III. Phương hướng sửa chữa các sai
lầm
Qua lịch sử tranh đấu của quần chúng hai
nghìn năm nay, ta thấy cái gì mà nhân bản của loài
người đòi hỏi thiết tha nhất, đó là
một đời sống vật chất tương
đối đầy đủ êm ấm, đó là
một đời sống tinh thần tương đối
ổn định, có đảm bảo và tự do.
Hạnh phúc của loài người xây dựng trên cơ
sở dân sinh và dân quyền. Tôi muốn nhấn mạnh
ở đây về vấn đề dân quyền. Ta
được biết từ hai thế kỷ nay chủ
yếu trong vấn đề dân quyền là vấn đề
dân chủ, nghĩa là quyền của người dân làm
chủ trên đất nước, đồng thời là
quyền của con người được sống
theo các nhu cầu thiết yếu và chính đáng của
nhân bản. Từ cuộc Cách mạng tư sản Hoa
Kỳ cuối thế kỷ 18, Cách mạng tư sản
Pháp 1789, tới cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa
của Nga, quần chúng nổi giậy, mang xương máu
để giành kỳ được chế độ dân
chủ. Sau cuộc đại chiến lần thứ hai,
Hiến chương Liên hiệp quốc đúc kết
những thành quả của các phong trào lịch sử
tranh đấu cho dân chủ và đặt các nước
văn minh trước trách nhiệm của họ để
thực hiện và đảm bảo các nguyên tắc dân
chủ. Đối với các nước tư bản ta
không ngạc nhiên thấy chế độ dân chủ
thực hiện với những thiếu sót quan trọng.
Nhưng ta có quyền ngạc nhiên khi ta thấy các
thiếu sót ấy cũng xuất hiện trong các nước
đã hoàn thành cuộc Cách mạng dân chủ nhân dân và
xã hội chủ nghĩa. Đại hội lần
thứ 6 của Hội Quốc tế các luật gia dân
chủ họp trong tháng 5 vừa rồi tại Bruxelles
đã lấy làm tiếc mà nhận thấy rằng trong
tất cả các nước, dù tư bản hay xã
hội chủ nghĩa, mặc dầu các Hiến pháp, các
bộ luật tuyên bố trịnh trọng, tôn trọng
thực hiện, đảm bảo thực hiện các
nguyên tắc dân chủ, tuy nhiên các nguyên tắc này
vẫn bị dày xéo. Vì vậy trong tất cả các nước,
quần chúng tranh đấu kịch liệt.
Ở nước ta, trong bản Tuyên ngôn độc
lập, trong Hiến pháp cũng như trong các sắc
lệnh, đạo luật, nguyên tắc dân chủ đã
được ban bố. Nhưng qua phong trào phát huy dân
chủ mà Chính phủ chủ trương, qua đại
hội nhân dân thủ đô lần thứ 3, các Đại
hội Mặt trận Trung ương, Mặt trận Thành,
qua thông cáo của Hội nghị lần thứ 10
của Trung ương Đảng Lao động, của
Chính phủ v.v., nhân dân nhận thấy, và Đảng cũng
như Chính phủ xác nhận rằng ta thiếu sót
về dân chủ khá nhiều. Vì các thiếu sót ấy,
ta phạm các sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách
ruộng đất như tôi đã trình bày trên đây.
Nguyên nhân sâu sắc của các sai lầm ấy, ta có
thể quy kết được. Sở dĩ đời
sống tinh thần của ta không được ổn
định, lúc nào ta cũng nơm nớp lo sợ các hành
động “lộng quyền” của nhà đương
cục, là vì ta thiếu một chế độ pháp
trị phân minh, không đề ra nghĩa vụ và
quyền lợi của mọi người, đồng
thời cả của cấp lãnh đạo nữa.
Sở dĩ cấp lãnh đạo có thể phạm
được các sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách
Ruộng đất, tổn thất cho xương máu,
mồ hôi nước mắt của đồng bào, cho uy
tín của Đảng và Chính phủ, là vì người
dân không có quyền, không có phương tiện nói lên
ý kiến của mình, tham gia xây dựng các chính sách
của Chính phủ.
Do đó, phương hướng sửa chữa các sai
lầm là một chế độ pháp trị chân chính,
một chế độ dân chủ thực sự.
Một chế độ pháp trị chân chính —
Ở đây, chưa phải lúc và chỗ để tôi
trình bày ý kiến về vấn đề pháp trị. Ta
sẽ có dịp khác. Ở đây, tôi chỉ muốn trình
các quí vị một nhận xét.
Đảng Lao động và chính phủ có nhận
thấy cần thiết, trong chính sách sửa chữa các
sai lầm trong Cải cách, phải “tăng cường
chế độ pháp trị” của ta. Tôi e rằng
trong tư tưởng lãnh đạo, sự nhận
thức về vấn đề pháp trị chưa
được rõ và đầy đủ. Chính trị
vẫn coi pháp luật như một “bà con nghèo”.
Chữ “tăng cường” là một chứng minh. Tuy
rằng trong nước ta có một Bộ Tư pháp, có
các toà án, có luật lệ, nhưng chế độ pháp
trị hầu như không có. Đó là một điều
tôi sẽ nghiên cứu sâu sắc hơn khi nào tôi trìng bày
ý kiến về chế độ pháp trị, một
chế độ pháp trị chân chính. Theo ý tôi, thì
vấn đề không phải là tăng cường mà là
xây dựng.
Một chứng minh khác trong chính sách Sửa sai trong
Cải cách này, tôi vẫn thấy chính trị lấn áp
pháp lý. Trước hết bức thư của ông
Hồ Viết Thắng tự phê bình và xin rút lui
khỏi Mặt trận Trung ương chỉ là một
giải pháp chính trị mà thôi. Trong cuộc mạn đàm
với các vị đại biểu đến họp
hội nghị này, tôi nhận thấy không ai “thông”
về ý kiến và biện pháp ông Hồ Viết
Thắng trình bày cả. Riêng về phần tôi là
một nhà luật học, tôi chưa thể nào nhận
định được trách nhiệm của ông
Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy
rất lớn, có thể rất nhỏ. Đứng trên
tinh thần pháp lý, sự nhận tội lỗi của
một người không đủ để qui định
trách nhiệm của người ấy. Trong Cải cách,
khi những đảng viên ưu tú bị đoàn
Cải cách gán cho là phản động, ra trước
nhân dân, có người cũng nhận tội trong khi
biết là mình oan. Ta nên rút kinh nghiệm vừa qua,
sửa sai không phải là phạm các sai lầm khác. Do
đó, đứng trên một lập trường pháp
trị chân chính, tôi đề nghị phải lập
một ủy ban điều tra gồm các vị đại
biểu Quốc hội, Mặt trận, Đảng Lao
động với sự cộng tác của các vị
thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để
lập một hồ sơ theo phương pháp pháp lý
đã nhận định, trên quá trình đi từ lãnh
đạo qua chỉ đạo đến chỗ
thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào
và do những ai phải chịu. Sau khi kết thúc
cuộc điều tra, ủy ban ấy sẽ phân tách trách
nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý. Ai chịu
trách nhiệm chính trị sẽ trả lời trước
Quốc hội biến thành Toà án tối cao. Ai chịu
trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các
tòa án tư pháp. Dưới con mắt của quần chúng
theo dõi xây dựng cuộc điều tra và xét xử, công
lý phát huy, không còn ai thắc mắc nữa.
Có người hỏi làm thế để làm gỉ? Tôi
xin phép trả lời. Làm thế để rút kinh
nghiệm. Tôi cảm thấy ngay hiện thời ta chưa
rút được kinh nghiệm đâu. Chính trị không
những lãnh đạo pháp lý —đó là đúng— nhưng
vẫn lấn át pháp lý, thay thế cho pháp lý, như
trong trường hợp ông Hồ Viết Thắng, như
thế là ta vẫn mở cửa cho các sai lầm mới
còn nguy hại hơn nữa. Không những thế, ta
biết rằng nhu cầu công lý thuộc nhân bản con
người văn minh. Từ người bị xử trí
oan cho đến các người chỉ chịu thiệt
gián tiếp vì các sai lầm, có thể nói được
rằng toàn dân đợi chờ công lý. Một biện
pháp chính trị xuề xoà không thỏa mãn được
ai. Bằng chứng ở nông thôn, ta được
biết tình hình “căng thẳng”. Phong trào trả thù,
tự xử diễn ra khắp mọi nơi, kéo chúng ta
trở về quá khứ của lịch sử. Còn như
các đảng viên bị xử trí sai, tâm hồn các anh
em như thế nào, ta chỉ cần đọc lại báo
Nhân Dân. Tuy rằng các anh em kết thúc các bài tường
thuật lại đau khổ của mình bằng
những lời phấn khởi, nhưng các lời này không
làm ta quên được các lời phẫn uất, chua xót,
cay đắng mà các anh em nói lại với ta từ
đầu bài. Nhưng bi đát hơn hết là các
chiếc khăn trắng chít trên đầu họ hàng thân
thích của những anh em bị xử tử, những bàn
thờ vẫn dựng trong nhà, các thổn thức phá
vỡ im lặng của các đêm hiu quạnh, các ngày cúng
giỗ nhắc lại hàng năm bi kịch thê thảm
đã diễn ra trong gia đình vì cuộc Cải cách. Nhân
dân đòi hỏi các người có công được
thưởng và các người có tội phải đền
tội. Trách nhiệm của tất cả mọi người
từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên,
phải được qui định rõ ràng, dứt khoát.
Như thế mới yên được lòng dân, như
thế mới thu phục được nhân tâm. Kinh
nghiệm lịch sử dạy ta điều ấy. Trong
chính sách sửa chữa sai lầm, ta không thể quên
được bài học lịch sử. Quần chúng im
lặng đợi chờ công lý.
Chúng ta thiết tha mong ước ở chính trị
một nhận định đúng về vai trò của pháp
luật phục vụ cách mạng. Kinh nghiệm đau
đớn vừa qua bó buộc ta phải xây dựng
lại quan điểm “địch” trên cơ sở pháp
lý và pháp trị. Các sai lầm nghiêm trọng ta đã
phạm bắt nguồn ở một quan điểm chính
trị về địch. Quan điểm ấy linh động
quá, “biện chứng” quá, nên ta không biết phân tách
địch và ta, do đó ta đánh cả ta nữa.
Muốn tránh các sai lầm hôm qua đừng tái diễn
ngày mai, ta cần xác định theo hình luật thế nào
là địch. Lúc đó ta mới đánh đúng địch,
và có đánh đúng địch ta mới củng cố
được ta, ổn định được nhân tâm,
duy trì lại trật tự và an ninh ở thôn quê,
kiến thiết lại đoàn kết giữa các
tầng lớp nhân dân ở thôn quê cũng như ở
thành thị, đảm bảo cho quần chúng một
đời sống tự do, thoát khỏi mọi sự
đe dọa của “lộng quyền”, bênh vực các
quyền căn bản và thiết yếu của con người.
Tóm lại, nếu chính trị giác ngộ, vui lòng tôn
trọng pháp lý, thiết lập một chế độ
pháp trị trong đó chính trị vẫn lãnh đạo
pháp lý, nhưng đồng thời nêu thật cao gương
phục tùng pháp lý và pháp trị thì nhất định
chính trị khôi phục đuợc uy tín và được
quần chúng nhiệt liệt ủng hộ.
Một chế độ thực sự dân chủ
— Thế nào là một chế độ thực sự dân
chủ? Đó là một chế độ trong đó người
dân được làm chủ trên đất nước
không những trong hiến pháp, mà cả trong thực
tế nữa. Đây không phải là lúc, là chỗ, mà
ta đi sâu vào vấn đề. Ta chỉ cần
nhận thấy rằng trong giai đoạn hiện
thời, quần chúng có đòi hỏi cái gì quá đáng
đâu, chỉ yêu cầu có một điều thôi, là
được đàm thoại với cấp lãnh đạo,
được đề đạt lên cấp lãnh đạo,
ý kiến về các chính sách do cấp lãnh đạo xây
dựng. Các vị lãnh tụ đã bao lần khen dân ta
tốt. Mà dân ta tốt thật. Bằng chứng là điều
tôi vừa nhắc lại đây. Trong khi quần chúng có
quyền đòi hỏi ở một chính thể cách
mạng rất nhiều, nhân dân ta chỉ có một yêu
cầu mà ai cũng phải nhận là chính đáng.
Tại sao nhân dân chỉ có cái yêu cầu nhũn
nhặn ấy mà thôi? Là vì nhân dân thông cảm với
cấp lãnh đạo phải đương đầu
với bao khó khăn. Nhưng nếu nhân dân chỉ đề
ra có một yêu cầu, yêu cầu ấy thiết
yếu. Tôi tin rằng cấp lãnh đạo cũng
nhận thấy như vậy. Tôi không quên lời
của ông Trường Chinh đọc bản tự phê
của Đảng Lao động tại Hội nghị này.
Ta nghe thấy cấp lãnh đạo thú nhận trước
Hội nghị rằng Trung ương Đảng đã
phạm sai lầm là xa quần chúng, chỉ tiếp xúc
với quần chúng qua báo cáo của các cán bộ đảng
viên mà thôi. Ta phải nhận định rằng đây
là một sai lầm nghiêm trọng. Do đó, cuộc
Cải cách Ruộng đất của ta đã gặp các
thất bại cay đắng. Trái với lời ta thường
nói, ta đã thiếu dân chủ với nhân dân.
Nhân dân nhất định không để tình trạng
tai hại ấy kéo dài nữa. Tôi xin phép Hội
nghị góp một số ý kiến để chấm
dứt tình trạng đó. Tôi không đặt vấn
đề dân chủ nói chung. Tôi chỉ chú ý đến
yêu cầu thiết tha nhất hiện thời của
quần chúng là được phản ảnh lên ý
nguyện của mình. Theo ý tôi, để thực
hiện và đảm bảo yêu cầu vô cùng chính đáng
ấy, chỉ cần ba giải pháp.