Cuộc tàn sát Tết Mậu Thân ở
Huế
Trích
từ Diển Đàn Dân Chủ - Tuệ
Chương
(Trích
dịch từ Vietcong Stratregy of Terror của Douglas Pike từ
trang 23)
Vài
lời trần tình của người dịch:
Ngày 15 tháng 7 năm 2002 vừa qua, quân đội Do Thái
tấn công vào Gaza City, khiến 15 người Palestine
bị thiệt mạng và hàng trăm người bị thương.
Cả thế giới và cả Liên Hợp Quốc lên án hành
động tàn ác nầy của Do Thái. Việc lên án
nầy không sai mặc dù những người chết nói
trên chỉ là bị vạ lây mà mục tiêu chính là
Shehade, tên trùm khủng bố kiểu tự sát của
Palestine.
Cũng
giống như vụ Sơn Mỹ (Mỹ-Lai), rồi đây,
có thể người ta sẽ dựng tượng đài
để tưởng nhớ những người chết
oan. Thế còn hơn 5 ngàn người bị thảm sát
hồi Tết Mậu Thân ở Huế thì saỏ Hơn ba
mươi năm qua, cả thế giới và cả người
Việt ở trong nước cũng như hải
ngoại, nghĩ gì về những cái chết oan khiên
đó?!
Huế
là một trong những thành phố buồn nhất trên hành
tinh của chúng ta, không phải chỉ vì những gì không
ai có thể tưởng tượng nỗi đã xảy
ra ở đây hồi Tết Mậu Thân năm 1968. Ðó là
điều đáng quở trách âm thầm cho tất
cả chúng ta, những người thừa hưởng
một nền văn hiến bốn ngàn năm. Những người
trong thời đại chúng ta gom nhặt được
những ý niệm trừu tượng chính trị mà
chỉ làm cho chúng ta rơi vào sự suy đồi tệ
hại nhất về việc vi phạm đạo đức
thời hiện đại, chẳng quan tâm gì tới tính
cách dã man của nó.
Những
gì xảy ra ở Huế làm cho những ai còn là người
văn minh trên địa cầu nầy phải dành
nhiều phút giây ngừng nghỉ để tư duy
về những điều đã được khắc
ghi, cùng với những tai họa khủng khiếp khác
về những hành động dã man của người
đối với người sẽ không bao giờ quên
được và trở thành một dấu ấn sâu
sắc trong dòng lịch sử nhân loại.
Huế
còn chứng tỏ một điểm khác nữa về
điều là người ta không có gì phải ngần
ngại khi cố áp dụng những biện pháp chính
trị để theo đuổi một cách nông cạn
việc thực hiện giấc mơ xây dựng một xã
hội hoàn hảo.
Một
cách tự nhiên, những điều xảy ra ở
Huế là vài sự thống kê mau lẹ và nhạy
cảm. Cuối cùng, lực lượng quân sự
Cộng sản lên tới 12 ngàn người đã tấn
công Huế ngay đêm mồng một tết (30 tháng 1 năm
1968), chiếm thành phố 26 ngày và cuối cùng bằng hành
động quân sự họ bị đánh bật ra
khỏi nơi họ chiếm đóng.
Trong
trận tấn công nầy, 5 ngàn 8 trăm người dân
thường bị giết và mất tích. Ðến bây
giờ tất cả họ coi như đã chết. Từ
đó, thi hài họ được tìm thấy lẻ
tẻ hay trong những ngôi mộ tập thể ở
những vùng chung quanh Huế - Trung tâm văn hóa VN-
thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Ðó
chỉ là những dữ kiện chính yếu, những
thống kê quan trọng, chẳng vui gì khi nói về
Huế, là điều được viết xuống
bằng thứ ngôn ngữ bình thường của báo chí,
rõ ràng chẳng gây được ấn tượng gì
cho tinh thần và lương tâm của nhân loạị
Chẳng có tiếng thét đầy uất hận nào! Và các
tòa đại sứ của Cộng sản Bắc Việt
Nam trên thế giới đều im hơi lặng tiếng.
Ngoài
tiếng thở dài cay đắng, người dân sẽ nói
cho quí vị hay những gì về Huế mà thế
giới đã không biết tới, và nếu có biết,
họ cũng chẳng quan tâm.
Trận chiến
Trận
đánh Huế là một phần trong Chiến
dịch
Ðông-Xuân của Cộng sản năm 1967-68.Toàn bộ
chiến dịch
chia
làm ba giai đoạn:
1/
Giai đoạn 1 gồm các tháng 10,11 và tháng 12 năm
1967 được gọi là phương pháp hợp đồng
chiến
đấu,
có nghĩa là trên toàn bộ chiến trường,
thực
hiện
các trận tấn công riêng rẽ vào các vị trí cố
định
hay trung tâm quân sự của phe Ðồng Minh. Các trận
đánh
ở Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long, Dakto thuộc
tỉnh
Kontum
và Cồn Tiên ở Quảng Trị, ba nơi nầy
thuộc vùng rừng
núi của Nam Việt Nam, gần biên giới Camphuchia và Lào
là
kiểu mẫu những trận đánh chính của giai
đoạn 1.
2/
Giai đoạn 2 thuộc các tháng Giêng, 2 và 3
năm
1968 bao gồm việc ứng dụng một cách rộng
lớn
phương
pháp chiến đấu độc lập, có nghĩa là
mở
nhiều
cuộc tấn công bằng các đơn vị thiện
chiến nhỏ và đồng
thời khắp một vùng địa lý rộng lớn,
sử dụng
các
đơn vị tinh nhuệ nhất cũng như kỹ
thuật tiến bộ
nhất
trong chiến tranh du kích. Trong khi Giai đoạn 1 lực lưọng
tác chiến chính là quân Cộng sản Bắc Việt
(Khoảng
55 ngàn người đang hoạt động ở Nam VN).
Ở Giai
đoạn
2 thì sử dụng quân Giải phóng Nam VN. Cao điểm
của Giai đoạn
2 là cuộc tấn công Tết Mậu Thân qua đó 70 ngàn
quân
tấn công 32 trung tâm đông dân cư nhứt ở Nam VN,
gồm
cả Huế.
3/
Giai đoạn 3 gồm các tháng 4, 5 và 6 năm
1968
chủ yếu là phối hợp hai phương pháp tác
chiến của hai
giai
đoạn trên, tạo thành cao điểm trong các
trận
đánh
lớn. Do bắt được tài liệu nên biết
đây là điều
Cộng sản gọi là đợt hả Có khả năng
đó là Khe Sanh,
căn
cứ Thủy Quân Lục Chiến HK ở phía đông-bắc
Nam VN,
hoặc
có lẽ là Huế. Không có cuộc tấn công đợt
2
chính
là vì những trận đánh trong Giai đoạn 1 và 2
đã
không
phát triển được như Cộng sản hy
vọng. Tuy
nhiên,
chiến cuộc đạt tới thời kỳ đẫm
máu nhứt trong vòng
tám
năm sau đó, kể từ trận Mậu Thân Huế
hồi tháng
Hai
cho đến khi rút khỏi cuộc bao vây Khe Sanh vào mùa hè
tiếp
theo cùng năm đó.
Trong
ba tháng nầy, quân Mỹ thương vong trung
bình
500 người một tuần, phía Việt Nam Cộng Hòa
thì
gấp đôi,phía Việt Cộng và Cộng sản thì
gần 4 ngàn
một
tuần(cao hơn phía Mỹ 8 lần).
Cộng
sản bắt đầu Chiến dịch Ðông-Xuân
với
khoảng 195 ngàn quân của các lực lượng quân
sự chính
của
Việt Cộng và Cộng Sản Bắc Việt xâm lược.
Trong
vòng 9 tháng họ bị tiêu vong 85 ngàn người.
Chiến
dịch Ðông-Xuân của Cộng sản là một
cố
gắng hoàn toàn nhằm bẻ gãy sức mạnh chính
yếu
của
Quân đội Nam VN để chính quyền phải thay
đổi
đường
lối, cùng với lực lượng Ðồng minh trong
những thành phố
bị bao vây và chỉ có khả năng phòng thủ. Nói
một
cách
chính xác hơn, trận đánh ở Huế thuộc giai
đoạn 1
hơn
là giai đoạn 2 khi Cộng sản áp dụng kế
hoạch hợp đồng
tác chiến và sử dụng quân Cộng sản Bắc
Việt
hơn
là quân du kích Việt Cộng. Có nghĩa là về phía
Cộng
sản họ sử dụng rộng rãi hai sư đoàn quân
Cộng sản Bắc
Việt: Sư đoàn số Năm 324 B cộng thêm các
tiểu đoàn
chính,
một số đơn vị du kích cùng 150 chính ủy và
cán
bộ.
Trận
đánh Huế sơ lược có những phát triển
chính như sau:
Khởi
đầu tấn công chủ yếu với hai tiểu
đoàn
800 và802 cùng với lực lượng bí mật xâm
nhập
trước.
Ðến sáng sớm ngày đầu tiên, Cộng sản
kiểm soát
toàn bộ thành phố ngoại trừ Bộ Tư lệnh
Sư đoàn
1/BB
(thành Mang cá) và khu phái bộ Cố vấn HK (MACV). Ngay hôm
đó quânViệt Mỹ tiến vào Huế tăng cường
và phòng
thủ
các nơi kể trên. Cộng sản tăng cường
tiểu đoàn
804
với ýđồ chặn đứng các lực lượng
tăng phái
Mỹ-Việt.
Cộng
sản không thực hiện được ý đồ
nầỵ
Hai địa điểm trên được củng cố
mạnh mẽ và không
còn
bị đe dọa nghiêm trọng nữạ
Trận
đánh trở thành cuộc bao vâỵ Quân Cộng
sản ở trong Thành Nội và khu thành phố phía tâỵ
Liên
quân Mỹ Việt ở ba phía kia, bao gồm cả khu phía
nam
sông
Hương,đẩy quân Cộng sản ra khỏi thành
phố, khởi thủy
là vớihy vọng dùng pháo binh và không kích. Nhưng vì
thành
Huế xây dựng quá vững chắc nên quân Cộng
sản
vẫn
giữ được vị trí của họ. Họ
chỉ có thể bị đánh
bật bằng chiến thuật chiến tranh trong thành
phố,
cận
chiến từng nhà, từng khu, lâu dài và tiêu haọ
Tới
tuần lễ thứ ba của tháng Hai (1968),
việc
bao vây thành phố đã thực hiện xong; quân dội
VNCH và
TQLC Mỹ tiến chiếm từng thước đất
trong Thành
Nộị
Tới sáng ngày 24 tháng Hai, binh sĩ Sư đoàn 1/BB VNCH đã
hạ được lá cờ Cộng sản treo trên
cột cờ Ngọ Môn
24
ngàỵ Cuộc phản công đã thắng lợi, mặc
dù các cuộc
chạm
súng lẻ tẻ vẫn còn xảy ra bên ngoài thành phố.
Tại trong
thành phố, Cộng sản thương vong 2 ngàn 5 trăm
người
và trong cuộc truy kích bên ngoài Huế, một con số
tương
tự đã bị giết. Phía Ðồng minh có 357 người
chết.
Tìm
kiếm
Sau
khi trận đánh chấm dứt, nhiều xáo
trộn
vẫn tiếp diễn. Mệnh lệnh đầu tiên là
khẩn cấp
cứu
trợ dân chúng, trước hết là thực phẩm,
thuốc
chích
ngừa và thuốc bệnh, v.v... Tiếp theo là cố
gắng giúp
dân xây dựng lại nơi cư ngụ. Sau đó thì lo
kiểm điểm
thương vong. Sau cuộc tấn công, không có cuộc
kiểm tra
dân chúng thật sự nào được thực hiện.
Tới tháng Ba 1968,
nhà cầm quyền cho biết có 1.900 dân thường
được
đưa vào bệnh viện vì thương tích chiến
tranh và khoảng 5.800 người bị Cộng sản bắt đi mất
tích.
Nơi
đầu tiên tìm thấy các nạn nhân Cộng
sản
là sân trường Trung Học Gia Hội vào sáng ngày 26
tháng
Hai; tổngcộng có 170 xác người đã được
tìm thấy
ở
đâỵ
Mấy
tháng sau, người ta tìm thấy thêm 18
nơi
chôn tập thể, lớn nhất là khu ở gần chùa Tăng
Quang
(67 thi thể), Bãi dâu (77), khu Chợ Thông (khoảng
100),
khu lăng tẩm (201), Thiên Hàm (khoảng 200), Ðồng Gi (khoảng
100).Nhìn chung, khoảng 1.200 thi thể tìm thấy trong
những
hầm hố đào lấp vội vã.
Ít
ra, một nửa những vụ tìm kiếm nầy cho
thấy
có sự giết chóc nầy tàn ác. Tay bị trói bằng dây
thép gai buột ra sau lưng, giẻ nhét vào miệng, thân
xác
không còn nguyên vẹn nhưng không có dấu vết bị
thương
(Cho thấy là bị chôn sống). Có gần 600 xác chết
khác
có
dấu tích bị thương nhưng không có cách nào để
xác
minh
họ bị bắn hàng loạt hay thương vong vì tên
bay đạn lạc.
Nhóm
lớn thứ nhì được tìm thấy tại
quận
Phú Thứnăm 1969 tại vùng những đồi cát và
Lệ Xá tây,
quận Phú Thứ, làng Văn Hòa, Xuân Dương vào
cuối
tháng Ba, tháng Tư năm 1969. Cũng vào năm này, vào tháng
Năm ngườita còn tìm thấy thêm nhiều ngôi
mộ tập
thể
ở quậnVinh Lộc và ở quận Nam Hòa vào tháng
Bảỵ
Nhóm
lớn nhất tìm thấy là ở những đồi
cát
của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá đông, và Xuân Ổ;
đây
là
vùngđồi cát liên tiếp nhau, nhiều đụn
cỏ, ở
gần
biển Ðông. Cách xa cách vùng đầm nước mặn,
đây
là nơi thuận tiện để chôn tập thể. Hơn
800
người
tìm thấy ở khu nầỵ
Tại
các ngôi mộ trong vùng đồi cát nầy,
người
ta thấy nạn nhân bị trói thành từng nhóm 10
hoặc 12
người,
sắp hàng bên cạnh những cái hố do dân địa
phương
đào rồi họ bị bắn bằng súng máy do Nga
sản xuất, (Người
ta tìm được những vỏ đạn cũ bên
cạnh ngôi mộ).
Thông thường
những người chết được chôn
thành
nhóm ba bốn người nên rất khó phân loạị
Nơi
tìm thấy lớn thứ ba là ở quận Nam
Hòa,
chỗ gọi là khe Ðá Mài, hay là nơi người dân Phú
Cam
bị
giết, tìm thấy hôm 19 tháng 9 năm 1969. Cán binh Cộng
Sản đào ngũ khai với viên chức tình báo
thuộc binh
đoàn
Không Kỵ 101 rằng họ đã chứng kiến
việc giết hàng
trăm
người ở khe Ðá Mài, cách Huế 10 dặm về phía
nam vào
tháng Hai 1968. Khu nầy hoang vu, không có dân cư,
khó
đến được. Ðơn vị Hoa Kỳ gởi
tới đây một
toán
tìm kiếm; họ báo cáo
trong dòng suối có rất nhiều đống
xương người chồng chất lên nhaụ.
Bằng
nhiều tin tức gom góp được, người
ta
đoán được những gì xảy ra ở khe Ðá Màị
Vào
hôm
mồng 5Tết, tại khu Phú Cam, nơi có khoảng 40 ngàn
dân,
hầu hết theo đạo Thiên Chúa, chiếm 3/4 dân
số thành phố,
chạy vào nhà thờ tránh súng đạn như ở VN
người
dân thường làm. Thực ra, nhiều người trong
số đó
không
phải là người có đạo. Cán
bộ Cộng sản vào nhà thờ bắt đi
khoảng
400 người, một số thì có tên sẵn còn một
số thì
theo
nhân dạng mà bắt (trông có vẽ giàu có, sang trọng,
trung
niên chẳng hạn). Cộng Sản tuyên bố họ
được đưa vào
vùng
giải phóng để học tập chính trị trong vòng
ba
ngày,
sau đó, sẽ được tha về.
Họ
được dẫn đi 9 cây số, tới một ngôi
chùa
nơi Cộng sản đặt bộ Chỉ huỵ Hai
chục người
được
gọi ra trước cái gọi là tòa án cách
mạng, bị
tố
cáo là có tội, bị hành quyết và chôn ngay trong sân
chùạ
Những người còn lại được đưa
qua sông và giao
cho
đơn vị Cộng sản địa phương, có
lẽ họ muốn những
người
nầy được cải tạo và được tha
về sau, nhưng có
lẽ vì tình hình biến chuyển nên họ không còn
kiểm
soát
được nữa.
Bảy
ngày sau đó, không rõ số lượng bao
nhiêu,
cả người bắt và người bị bắt
đi về một vùng
quệ
Và để không cho ai thấy, người bị bắt
bị dẫn qua
những
vùng núi non lởm chởm nhất miền Trung VN, tới khe
Ðá Mài. Tại đây họ bị bắn hay bị
đập đầu, xác
bị
đạp xuống lòng khe.
Binh
đoàn 101 Không vận HK thấy không thể
dùng
đường bộ đến khe Ðá Mài được.
Tàng lá cây
dày
đặc, ở VN người ta gọi đó là cái
lọng đôi, nghĩa là
có
hai tàng lá, một ở gần mặt đất, gồm cây
và bụi rậm
và một tàng lá cao, che phủ bên trên. Bên dưới
đó
chỉ
có ánh sáng mờ mờ. Công binh Quân đội Hoa Kỳ
cho
trực
thăng bay lưng chừng bên trên rồi thòng chất
nổ xuống
qua khỏi các tàng lá cây và nổ để những
chiếc
trực
thăng dùng làm máy bay hốt cốt có thể đáp
xuống
được.
Rõ ràng Cộng sản dùng nơi nầy làm nơi giết
người
kín
đáo mà không cần chôn cất. Trên một đoạn
khe dài
hơn
một trăm mét là sọ, xương người
chồng lên nhau
(những
người tin có linh hồn nằm chết lẫn lộn
trong đó,
linh
hồn sẽ lang thang cô đơn vĩnh viễn vì họ
chết mà
không
được chôn), trong vòng 20 tháng, nước suối
chảy
đã
làm cho xương sạch trơn và trắng bạch.
Sau
đó, chính quyền địa phương đưa ra
một
danh
sách gồm 428 người, xác nhận rằng đó là tên
những
người chết ở khe Ðá Màị Về phía Cộng
sản thì
họ
tuyên bố rằng đó là những ô phần tử
phản cách mạng.
Danh sách 428 người đó thành phần gồm có: 25% là
quân
nhân: Có 2sĩ quan. Số còn lại 25% là học sinh, sinh
viên;
50% là công chức, viên chức xã ấp, làm nghề cá nhân
nhiều
loại khác nhau và thợ.
Khu
vực lớn thứ tư tìm được hồi tháng11
1969
thuộc quận
Phú Thứ, gần làng đánh cá Lương
Viên,
cách Huế 10 dặm, ở về phía đông, là vùng hoang
vắng.
Hồi đầu tháng đó, quân chính phủ cố
gắng quét sạch các
bộ phận Cộng sản còn lại ở làng
nầỵ Dân
làng,
khoảng 700 người, sợ Cộng sản trả thù nên
không dám
khai
báo gì. Sau
đó (khoảng 20 tháng sau biến cố tàn sát),
họ mới dám dẫn viên chức chính quyền đi tìm.
Căn cứ
trên
trí nhớ không mấy chính xác của họ, viên chức
chính
quyền
địa phương phỏng đoán có khoảng từ
300 đến 1
ngàn
người bị giết ở đâỵ
Câu
chuyện đau thương nầy vẫn chưa chấm
dứt.
Nếu số dự đoán của chính quyền địa
phương là
gần
đúng thì còn khoảng 2 ngàn người vẫn còn
mất tích.
Sau
cuộc chiến, chính quyền Nam VN tính phỏng thương
vong dân sự trong trận đánh Huế là 7.600
người.