Báo Việt Nam Dân Chủ

THÁNG 11/2004

  • Để Có Một Tương Lai Chung (Nguyễn Ngọc Dức)"
  • Sức Mạnh Tổng Hợp Của Dân Tộc Đến Từ Đâu ? (Trần Dức Tường)"
  • Thế Liên Minh Dân Tộc Hôm Nay (Vũ Thạch)
  • Dân Chủ và Tự Do Là Khát Vọng Chính Đáng Của Con Người ! (Trần Công L?)
  • H?a Thượng Thích Quảng ?ộ Phản ?ối Chính Quyền CSVN Về Việc Quản Chế Bằng Khẩu Lệnh
  • Diễn Đàn Dân Chủ : Cách Mạng Hay Không Cách Mạng Ở Nga và Đông Âu ? (Nguyễn Học Tập)
  • Sau 59 Năm Độc Lập Chúng Ta Vẫn Đang Phải Xóa Đói Giảm Nghèo (Vũ Huy Phan)
  • Việt Nam Ngày Nay : Tư Duy Hỡi Tư Duy ! (Phan Kiến Quốc)
  • Thế Giới và Chúng Ta : Việt Nam và Hội Nghị ASEM (L? Thái Hùng)
  • Sổ Tay Thường Dân : Sao Khuê (Tưởng Nang Tiến)
  •  

     

     

     

    Để Có Một Tương Lai Chung
    Nguyễn Ngọc Đức
     (LÊN MẠNG THỨ TƯ 17 THÁNG MƯỜI MỘT 2004)

     

    Nếu tính từ khi họ Hồng Bàng lập quốc với triều đại Hùng Vương thứ nhất vào năm 2879 trước Tây Lịch, cho đến đầu thế kỷ 21 này, dân tộc ta đ? trải qua gần 5000 năm lịch sử, trong đó có những thời kỳ vô cùng đen tối, nhưng dân tộc ta vẫn vượt qua được và tồn tại cho đến ngày nay. Trong khi đó, nhiều dân tộc khác có một quá khứ lẫy lừng, nhưng ngày nay chỉ c?n lại những di tích của một thời hiện hữu. Sự tồn tại của dân tộc ta một phần là nhờ ? thức dân tộc mạnh mẽ. ? thức này đ? giúp cho dân ta chiến đấu không ngừng để chống lại sự đồng hóa và thường xuyên vùng lên để giành lại quyền tự chủ. Sự tồn tại của dân tộc c?n nhờ tinh thần h?a hợp cao độ. Từ nhiều thế kỷ qua, trên dải đất kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, hơn 50 sắc dân đ? cùng chung sống và kết thành nước Việt. Nếu không có tinh thần h?a hợp, những sắc dân này khó có thể tồn tại trước các âm mưu phân hóa của các thế lực ngoại bang.

    Ngày nay, trước nhu cầu đấu tranh nhằm chấm dứt độc tài, lạc hậu để đưa đất nước tiến lên, tinh thần h?a hợp dân tộc càng phải được phát huy và phải là nền tảng cho những nỗ lực tổng hợp sức mạnh của dân tộc. Trước hết, chúng ta cần khẳng định một điều, đó là trên đất nước Việt Nam, tất cả những sắc dân sống trải dài từ miền núi xuống đồng bằng đều là người Việt Nam, đều chịu chung một vận mệnh. Vận mệnh đó thịnh hay suy, tất cả đều chia một phần kết quả và chịu một phần trách nhiệm. Kế đến, mặc dù đều là người Việt Nam, nhưng ở mỗi sắc dân, tại mỗi vùng, mỗi địa phương, đồng bào ta có cách sống hay phong tục đặc thù. Chính sự khác nhau này đ? khiến cho nền văn hóa Việt Nam đa dạng và phong phú. Do đó, cần tôn trọng những yếu tố khác nhau, không thể bắt mọi người phải có cùng cách sống, cùng phong tục, cùng lối suy nghĩ, dù nhân danh bất kỳ chủ nghĩa hay chủ trương nào. Chúng ta phải áp dụng tinh thần "h?a và đồng" để xây dựng một tương lai chung cho cả dân tộc Việt Nam. H?a là tôn trọng sự khác biệt. Đồng là cùng chung vai gánh chịu vận mệnh của đất nước, cùng nhận l?nh những khó khăn hay cùng hưởng những thành quả tốt đẹp.

    Biểu hiện của sự h?a hợp trong hành động là sự đoàn kết cùng nhau hoàn thành đại sự. Chính sự đoàn kết đ? là yếu tố giúp cho dân tộc ta vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Ngày nay, chúng ta cũng ? thức là chỉ có đoàn kết mới tạo ra được sức mạnh nhằm gỡ bỏ ách độc tài hiện tại ở Việt Nam và đưa đất nước tiến lên. Khi nào sự đoàn kết chưa được phát huy để tổng hợp thành sức mạnh chung, th? chúng ta khó có thể tranh đấu một cách hữu hiệu. Nói đến phát huy tinh thần đoàn kết, chúng ta phải thực tế để nh?n ra những yếu tố thuận lợi và trở ngại cho các phương thức tổng hợp sức mạnh đấu tranh chung.

    Sự thống hợp của các lực lượng dân tộc dân chủ là phương thức cao nhất để phát huy tinh thần đoàn kết. Nhưng phương thức này khó có điều kiện để tiến hành trong điều kiện dân tộc Việt Nam đang phân chia thành hai bộ phận trong và ngoài nước. Trong nước, sự kiểm soát gắt gao của chế độ là yếu tố trở ngại lớn. Ở hải ngoại, người Việt Nam sống rải rác trên khắp các lục địa, việc liên lạc và phối hợp không phải dễ dàng. Kế đến, mặc dù bên cạnh những điểm chung rất lớn về dân chủ, tự do cho Việt Nam, giữa các lực lượng, tổ chức và đoàn thể vẫn c?n một số điểm khác biệt, do nhận thức, lập trường hay do những ngộ nhận của quá khứ. Sự thống hợp một cách vội v? giữa những con người hay giữa những tổ chức trong điều kiện như vậy dễ dẫn đến thất bại và đôi khi, chính v? muốn phát huy tinh thần đoàn kết mà lại trở nên phân hóa sau khi đứng chung với nhau trong cùng một cơ chế.

    Trong hoàn cảnh hiện nay, phương thức tốt nhất để phát huy tinh thần đoàn kết là cùng nhau phối hợp đấu tranh trong thế liên minh dân tộc. Thế liên minh này, nếu nh?n trên phương diện cá nhân th? có thể hiểu là sự bắt tay và phân công trong việc thực hiện một công tác trong một số giới hạn về không gian và thời gian. Trên phương diện tập thể, sự liên minh của nhiều tổ chức mang ? nghĩa một sự cộng tác, hỗ trợ để cùng hoàn tất một mục tiêu. Trong thế liên minh cá nhân, mỗi phần tử đều có riêng những tư tưởng cá biệt. V? cùng chia sẻ một mục tiêu, v? có chung những ước vọng, họ đ? liên minh với nhau. Trong thế liên minh này không có sự ràng buộc đ?i hỏi phải từ bỏ những đặc điểm cá biệt của mỗi người.

    Thế liên minh giữa nhiều tập thể có nhiều điểm phức tạp hơn v? mỗi tập thể đều có lập trường, quan điểm, chủ trương, đường lối khác nhau. Tuy nhiều dị biệt hơn thế liên minh cá nhân nhưng vẫn có thể thực hiện được. Ở tầm mức quốc tế, nhiều quốc gia đ? từng liên minh với nhau cho một số mục tiêu, trong một số l?nh vực. Ở tầm mức thấp hơn, người ta cũng đ? ghi nhận những liên minh giữa nhiều đảng phái, nhiều tổ chức cùng có chung mục tiêu, nguyện vọng. Sự liên minh này không làm mất bản thể các quốc gia hay đảng phái, tổ chức. Nói cách khác, mỗi thành viên vẫn giữ nguyên lập trường riêng biệt của m?nh và không bị ép buộc phải theo lập trường của người khác.

    Trong thời gian qua, nhiều cá nhân, tổ chức, lực lượng đ? có những nỗ lực để mở rộng sự liên kết đấu tranh. Nỗ lực này cũng được tiến hành giữa hai bộ phận trong và ngoài nước. Trước đây, trong t?nh trạng bưng bít, việc liên lạc trong ngoài khó khăn, nên các lực lượng dân tộc dân chủ quốc nội và hải ngoại không thể tạo được điều kiện phối hợp chặt chẽ, để đấu tranh hữu hiệu. Trong hoàn cảnh hiện nay, tuy sự bưng bít vẫn c?n, nhưng nhiều tổ chức, lực lượng đ? khai thông được những bế tắc về liên lạc và san bằng được nhiều dị biệt về nhận thức và tầm nh?n, để mưu t?m một thế đấu tranh chung, trong một liên minh dân tộc. Đây là một bước tiến vô cùng quan trọng cho phép chúng ta lạc quan. Cả trong lẫn ngoài nước đang h?a cùng một nhịp và cùng hướng về một tương lai chung cho cả dân tộc.

    Nguyễn Ngọc Đức

     

     

    Sức Mạnh Tổng Hợp Của Dân Tộc Đến Từ Đâu ?
    Trần Đức Tường
     (LÊN MẠNG THỨ TƯ 17 THÁNG MƯỜI MỘT 2004)

    Một trong những đặc tính cao qu? của dân tộc Việt Nam là biết đoàn kết. Trải qua hàng ngàn năm, tuy có nhiều sắc dân với những những dị biệt về phong tục, tập quán, về nếp sống và văn hóa, nhưng x? hội Việt Nam luôn giữ được tính hài h?a, an lạc. Dưới nền cai trị của ngoại bang và nhất là của đảng cộng sản Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ qua, x? hội nước ta đ? có những chỉ dấu phân hóa sâu đậm. Nhu cầu của dân tộc Việt Nam trong thời đại hiện tại là phải từ thực tế đa dạng tiến đến đại đoàn kết và Liên Minh Dân Tộc.

    Từ thời thượng cổ, dân tộc Việt Nam đ? quán triệt được chân l? "đoàn kết mang lại sức mạnh". Sức mạnh để đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt, sức mạnh để chống trả kẻ thù hung bạo, sức mạnh để xây dựng kiến tạo những công tr?nh vĩ đại, sức mạnh để chấm dứt những chuỗi ngày sống trong lạc hậu, chậm tiến. Ngành nhân chủng học đ? cho ta thấy lịch sử h?nh thành các quốc gia, dân tộc trải qua nhiều giai đoạn, thời kỳ giao thoa giữa các sắc dân, những nền văn hóa dị biệt. Nói cách khác, v? nhu cầu sinh tồn mà con người vốn có những dị biệt về bản sắc đ? thấy được nhu cầu đoàn kết lại với nhau, cùng chung sống hầu đối phó với những nghịch cảnh. Đoàn kết không phải là một lối nói, một khẩu hiệu ; nhưng là một quan niệm sống, một nếp sống. Có lúc nó đ?i hỏi tích cực, nhưng cũng có khi nó bàng bạc trong tâm tư, suy nghĩ của con người Việt Nam. Dân tộc ta có khả năng từ t?nh trạng đoàn kết "tiêu cực" trong thời b?nh tiến đến t?nh trạng đoàn kết "tích cực", biến thành hành động liên minh, liên kết để đối phó với những t?nh huống nguy ngập. Nói th? dễ ; nhưng hành động đoàn kết dân tộc tiến tới liên minh dân tộc đ?i hỏi nhiều đức tính cao qu?. Dân tộc Việt Nam có những đức tính đó.

      Tinh Thần "H?a Và Đồng"

    Trong khuôn khổ nền văn minh nông nghiệp, nếp sống của dân tộc Việt Nam được xây dựng trong khung cảnh làng x? (chiềng, chạ) với lũy tre, ao cá, cánh đồng... Một số các nhà khảo cổ, các nhà nhân chủng học và x? hội học đ? gọi đây là một h?nh thức "công x? nông thôn". Tuy khởi thủy, làng x? là sự tập trung của nhiều gia đ?nh cùng một chi tộc. Nhưng càng về sau, làng x? Việt Nam ít khi là nơi quy tụ chỉ một gi?ng họ, mà đ? được mở ra cho những người từ xa đến làm dâu, làm rể. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiền h?a và bao dung. Từ bản sắc hiền h?a và bao dung, dân tộc ta chấp nhận sự khác biệt từ trong làng x? cho đến ở quy mô rộng lớn hơn là trong x? hội. Chính tinh thần chấp nhận khác biệt, chấp nhận đa nguyên này mà khi các tôn giáo, tín ngưỡng, triết l? từ nước ngoài du nhập vào nước ta đ? không bị kỳ thị ; trái lại đ? được dân tộc ta "hoan hỉ" chấp nhận.

    Cổ nhân ta có câu "dĩ h?a vi qu?". Dù cho khác biệt đến đâu đi nữa, miễn sống chung với nhau trong h?a b?nh, h?a thuận là qu? rồi. Tư tưởng, lập trường này của dân tộc Việt Nam chứng tỏ thiện chí h?a b?nh của dân ta, chứng tỏ ước vọng xây dựng một x? hội hài h?a, không có tranh chấp, không có thù hận. Tổ tiên ta khai khẩn đất đai là để biến rừng núi thành ruộng đồng canh tác, mưu sinh chứ không đi xâm lấn các nước khác để chiếm chiến lợi phẩm hay thôn tính các sắc dân khác.

    Trên đất nước ta hiện nay có 54 sắc dân sinh sống. Các nhà khoa học đ? phân tích các sắc dân này mà tuyệt đại đa số là người tộc Việt, thành 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau. Các dân tộc này có thể đ? hiện hữu trên đất nước ta từ thời thượng cổ, và cũng có thể di chuyển từ xa tới. Hiện nay họ c?n giữ được ngôn ngữ, văn hóa, cách trang phục riêng biệt. Điều này chứng tỏ dân ta không chủ trương kỳ thị hoặc "đồng hóa" họ. Trái lại, theo các sử gia th?, ngay từ thời Văn Lang, Âu Lạc, người Việt Nam gồm mọi sắc tộc đ? có "Xu hướng thống nhất, đoàn kết, h?a hợp" [1]. Xu hướng này cho phép trong đời sống thường ngày, lúc đất nước thái b?nh th? mỗi sắc tộc đều có điều kiện và sự tự do có nếp sống theo nền văn hóa của riêng m?nh. Tuy có sự khác biệt, tuy không hoàn toàn giống nhau về văn hóa, ngôn ngữ, tập tục... nhưng các sắc tộc, kể cả tộc Việt là mạnh nhất, đông nhất, vẫn sống h?a b?nh, h?a thuận và h?a hợp với nhau. Đây là h?nh ảnh một x? hội đa nguyên trong đó mọi sắc dân, mọi thành tố của x? hội đều có cơ hội để phát triển trong thái h?a.

    Thực tế lịch sử phát triển của dân tộc ta chứng minh r? ràng : Trong quan hệ con người với con người, không những người ngoại tộc mà c?n cả giữa những người cùng n?i giống, dân ta đ? có quan niệm r? ràng về "H?a""Đồng". Gi?ng giống Việt tộc, không v? số đông, không v? sức mạnh, không v? kiến năng vượt trội... của m?nh mà uy hiếp mà bắt mọi chủng tộc, sắc dân khác sống trên l?nh phận quốc gia phải bỏ đi nguồn gốc, văn hóa, tập quán, để trở nên giống như m?nh. Nói cách khác dân tộc ta không chủ trương đồng hóa mà lại tôn trọng những giá trị của các sắc dân khác để chung sống trong h?a b?nh, h?a thuận.

    Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ có khẩu hiệu "E pluribus unum", tức là từ nhiều chủng tộc, nhiều tiểu bang, thống hợp làm một. Dân tộc Việt Nam không có khẩu hiệu đó. Kể cả nguyên tắc "h?a và đồng" cũng không thấy viết ra thành văn, thành cú. Nhưng quan niệm "H?a và Đồng" đ? được ghi khắc vào tâm khảm người dân Việt và đ? trở thành nếp sống của chúng ta. Nó cũng đồng thời nói lên tinh thần bao dung chấp nhận khác biệt, chấp nhận đa nguyên trong cuộc sống.

      Tinh Thần Đại Đoàn Kết Toàn Dân

    Người Việt Nam thường lấy h?nh ảnh "Hội Nghị Diên Hồng" đời Nhà Trần làm tiêu biểu cho tinh thần toàn dân đoàn kết một l?ng, từ vua quan cho đến thứ dân, quyết tâm hy sinh để cùng nhau đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông. Tinh thần đoàn kết toàn dân này đ? trở nên sức mạnh vạn năng giúp dân ta đánh thắng được nhiều thế lực xâm lược hùng mạnh hơn ta gấp bội. Nhưng thực ra, phải nói rằng chính những thế lực xâm lăng ngoại bang mới là những kẻ nh?n thấy r? ràng nhất cái sức mạnh vô địch xuất phát từ tinh thần đoàn kết toàn dân của dân tộc Việt Nam là đáng e ngại đối với họ.

    Thực chất, tinh thần đoàn kết toàn dân là một quan niệm mang tính trừu tượng thuộc l?nh vực tâm tư, t?nh cảm của cả một dân tộc. Nó thể hiện dưới nhiều h?nh thức. Đó là l?ng yêu nước thương n?i. Đó là từ bi của Đức Thích Ca. Đó là bác ái của Chúa Giêsu. Đó là t?nh tương thân tương ái, là cử chỉ "chị ng? em nâng", là mối t?nh "lá lành đùm lá rách", là "t?nh làng, nghĩa xóm". Tóm lại, đó là cái "đạo làm người", cái đạo con người đối xử với con người trong cùng một nước. Để nói lên tinh thần đoàn kết này, từ nhiều thập niên qua, người ta hay dùng hai chữ "Đồng Bào", ? nói người Việt Nam là anh em ruột thịt với nhau, có cùng một nguồn cội là Mẹ Âu Cơ sinh ra 100 cái trứng trong cùng một bọc, để gọi nhau. Nhưng gần đây, tại hải ngoại đ? xuất hiện hai chữ "Đồng Hương" để thay thế cho hai chữ "Đồng Bào". Thiết nghĩ, danh từ kép "đồng hương" diễn tả chính xác hơn thực tế của người cùng chia sẻ cuộc sống trên đất nước Việt Nam chúng ta. Danh từ này thể hiện được đặc tính không phân biệt hay kỳ thị chủng tộc của dân ta. Nó đồng thời cũng thể hiện một cách r? nét tinh thần "H?a và Đồng". Hiểu được ? nghĩa của quan niệm "H?a và Đồng" th? mới hiểu được tinh thần đoàn kết toàn dân của người Việt Nam.

    Khi phải đối phó với những t?nh huống đ?i hỏi một sự hợp đồng sức mạnh, từ quan niệm trừu tượng, tinh thần đoàn kết dân tộc của người Việt Nam được khơi dậy và trở thành hành động cụ thể, trở thành sức mạnh vạn năng. Lịch sử đ? chứng minh nhiều lần tinh thần đoàn kết dân tộc của ngư?i Việt Nam đ? thể hiện thành sức mạnh không những để đánh đuổi ngoại xâm, giữ vững bờ c?i, mà c?n để khai phá, tiến hành những công tr?nh lớn. Lịch sử cũng đ? chứng minh, các thế lực xâm lăng, các thế lực cường quyền chuyên chính đ? sử dụng nhiều phương thức để phá hoại tinh thần đoàn kết của dân tộc ta.

    Những Âm Mưu Phá Hoại T?nh Đoàn Kết Dân Tộc

    Trái ngược với đoàn kết là chia rẽ. Nhiều người, kể cả Việt Nam và ngoại quốc đ? đưa ra lời khẳng định : "Người Việt Nam không đoàn kết" hoặc "Người Việt Nam chia rẽ", hoặc "Người Tàu họ đoàn kết hơn người Việt"... Thiết nghĩ, những nhận định này đều mang tính phiếm diện và không phản ảnh đúng thực tế Việt Nam. Nếu ví tinh thần đoàn kết của dân tộc ta như một cây cung th? chỉ khi nào xạ tiễn, tức là bắn tên, th? cây cung mới được giương lên. Quá tr?nh lịch sử hào hùng của dân tộc đ? cho thấy những lúc cây cung được giương lên và bắn đi những phát tên bách chiến, bách thắng. Và cũng có những thời gian dài, cây cung nằm yên, và x? hội sinh hoạt trong bối cảnh đa nguyên đ? khiến cho nhiều người hiểu rằng dân ta không biết đoàn kết. Chính v? biết r? tinh thần đoàn kết dân tộc của người Việt Nam mà những kẻ thù ngoại xâm, những thế lực cường quyền chuyên chính đ? t?m cách phá hoại tinh thần đoàn kết của ta. Thêm vào đó, c?n phải kể đến một vài tầng lớp trong x? hội Việt Nam, v? bị tiêm nhiễm chủ trương của ngoại bang, v? muốn bảo vệ ngôi vị, quyền lợi mà có thái độ bất đoàn kết với các tầng lớp khác.

    Ngoại bang muốn phá hoại tinh thần đoàn kết của Việt Nam

    Nước Việt Nam đ? từng bị nhiều thế lực đế quốc ngoại bang xâm lăng và chiếm đóng. Chúng biết r? tinh thần quật cường và tinh thần đại đoàn kết toàn dân của người Việt Nam đ? từng bao lần đánh đuổi những quân xâm lược khét tiếng trong lịch sử loài người như quân của Tần Thủy Hoàng nhà Tần thời thượng cổ, quân Nguyên Mông thời trung cổ và quân M?n Thanh hồi thế kỷ thứ 18. Thời cận đại, thực dân Pháp cũng đ? đô hộ nước ta gần 80 năm... Chính sách chung của các thế lực ngoại bang cai trị dân ta là "chia để trị".

    Chủ trương chia rẽ của bọn cai trị ngoại bang nhằm phá vỡ sức mạnh đề kháng của toàn dân ta. Chúng biết r? là nếu để khối đại đoàn kết toàn dân Việt Nam khôi phục, chúng sẽ phải đương đầu với một sức mạnh vô địch, sức mạnh của cả dân tộc và chắc chắn chúng sẽ bị đánh đuổi. V? thế chúng dồn nỗ lực chia cắt đất đai, chia rẽ con người Việt Nam với nhau. Thời Bắc thuộc, đất nước ta cũng đ? bị chia cắt thành các quận huyện theo như bên Tàu. Nhưng điển h?nh nhất là dưới thời Pháp thuộc, Việt Nam đ? bị chia thành 3 kỳ riêng rẽ với 3 thể chế cai trị khác nhau, cộng với hai nước Lào và Cao Miên thành 5 quốc gia riêng biệt trong cái gọi là Đông Dương thuộc Pháp. Song song, chúng gây chia rẽ, kỳ thị giữa người Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Sự nghi kỵ, chê bai giữa người miền này với miền kia, giữa người Việt với các sắc dân thiểu số đ? được đẩy mạnh, đôi khi trở nên sự kỳ thị, ghét bỏ và tệ hại hơn nữa thù hận. Mục đích của chúng là phá hủy tính bao dung, hiền h?a, đa nguyên của dân tộc để thay vào đó tính cục bộ, hẹp h?i không chấp nhận kẻ khác.

    X? hội nào cũng có người tốt, kẻ xấu. Chúng làm cho dân ta ở vùng này coi người vùng khác toàn là kẻ xấu. Chúng lợi dụng những kẻ hẹp h?i, ích kỷ, thiển cận để đào sâu thêm hố chia rẽ dân tộc. Chúng bắt đầu từ những chuyện đơn giản như chế diễu giọng nói, cách ăn mặc, điệu bộ để làm sao gây được sự hiềm khích thù hằn không sao h?a giải được giữa người vùng này với vùng kia. Chúng lợi dụng tất cả những sự khác biệt trong x? hội để gây chia rẽ : chia rẽ tôn giáo, chia rẽ giai cấp, vv...

    Khi dân chúng chia rẽ th? sẽ không c?n nghĩ đến kẻ thù trước mắt là thế lực ngoại bang đô hộ, quên đi kẻ xâm lăng để "gà cùng một mẹ" đấu đá với nhau. Thậm chí trong tranh chấp x? hội, c?n mang nhau ra trước công đường nhờ quân xâm lược xét xử...

    Nhưng không phải chỉ có ngoại bang xâm lược vào cai trị nước ta mới áp dụng thủ đoạn phá khối đại đoàn kết toàn dân của nước ta. Những nước lân bang, yếu kém hơn ta cũng không muốn nước ta hùng mạnh v? họ lo sợ ta sẽ thôn tính họ. V? thế họ cũng t?m cách gây rối loạn trong nội bộ chúng ta để họ hưởng lợi hay được yên ổn. Lịch sử đ? cho thấy hơn một lần ngoại bang đ? gây dựng, nuôi dưỡng, cung cấp hậu cứ an toàn và tiếp vận lương thực vũ khí cho những thành phần phản loạn để khuấy phá nước ta.

    Các chế độ phong kiến, độc tài phá hoại tinh thần đoàn kết của Việt Nam

    Bản chất của các chế độ độc tài và các triều đại bạo chúa giống nhau và cũng tương tự như các chính quyền cai trị ngoại bang. Điểm giống nhau ở đây là các chế độ này khinh dân, coi dân như phương tiện, như nô lệ phục vụ cho m?nh. Có khác chăng là phương thức thực hiện phá hoại khối đại đoàn kết của các chế độ bản xứ có kỹ thuật hơn.

    Chế độ độc tài thường dựa vào một đội ngũ tay chân thân cận. Thời xưa th? là đám qu? tộc, và quan lại tuyệt đối trung thành với triều đ?nh để được hưởng bổng lộc và để có thế lực hà hiếp dân chúng. Thời nay chế độ độc tài cũng dựa vào lực lượng cốt cán của m?nh. Các chế độ độc tài không cộng sản th? thường dựa vào quân đội, công an. Chế độ độc tài cộng sản như tại Việt Nam th? ngoài quân đội và công an được huấn luyện tuyệt đối trung thành và quyết tâm bảo vệ đảng và Nhà Nước cộng sản, họ c?n dựa vào đội ngũ đảng viên của họ.

    Dưới chiêu bài "cách mạng", họ dựng lên giai cấp "công nhân" mà họ phong cho là trong sáng nhất. Từ đó họ phát động chính sách "hận thù giai cấp", "đấu tranh giai cấp". Bộ máy tuyên truyền và giáo dục của họ đ? bơm vào đầu óc người dân "tư duy giai cấp""lập trường giai cấp". Giai cấp công nhân được mang tiếng là l?nh đạo đất nước phải coi giai cấp tư sản, địa chủ là thù nghịch, phải căm thù hơn cả căm thù quân xâm lăng phương Bắc. Giai cấp này cũng phải coi các giai cấp khác như trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, vv... là những thành phần phản động cần phải cải tạo để cho phù hợp với cái x? hội mà họ vẽ ra từ trí tưởng tượng của những tên ngoại quốc tâm thần như Marx, Engel, Lênin, Mao Trạch Đông... mà họ gọi là x? hội XHCN. Giai cấp này cũng phải coi các tôn giáo, các tín đồ các tôn giáo là thù nghịch... Với đường lối, chủ trương như vậy, quả đ? chủ tâm phá hoại tinh thần đoàn kết dân tộc. Họ đ? đánh lạc hướng nhân dân bằng cách chỉ vẽ ra những đối tượng thù nghịch khác, hầu trốn tránh sự phẫn nộ của nhân dân chống lại chế độ độc tài.

    Những hành động phá hoại tinh thần đoàn kết từ người Việt Nam

    Sau nhiều thế kỷ bị cai trị bởi những thế lực ngoại bang xâm lược, người dân Việt Nam không những bị tiêm nhiễm tinh thần cục bộ, chia rẽ, kỳ thị... do chủ trương của kẻ đô hộ ; mà ngay nền văn hóa Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không ít bởi nền văn hóa do chế độ mang đến. Dân tộc ta vốn là một dân tộc có ? chí thăng tiến và hiếu học. Khi tiếp giáp với các nền văn minh, văn hóa ngoại bang, dân ta luôn chấp nhận và học hỏi. V? thế nền văn hóa Việt Nam đ? chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Trung Hoa. Đức Khổng Tử đ? để lại cho hậu thế những tư tưởng triết l?, luân l? rất có giá trị. Nhưng, nếu không đào sâu suy nghĩ th? chính những giá trị đó lại dẫn đến những điều tiêu cực. Vấn đề là phải hiểu đúng ? của Thánh Nhân.

    Về việc học, để khuyến khích người dân phải học hỏi để mở mang trí tuệ để giải phóng con người ra khỏi sự ngu tối hầu vươn lên có một cuộc sống tốt đẹp hơn, Đức Khổng Tử đ? dạy "người có học ví như châu như ngọc ; người không học ví như cỏ như rác". Và người dân đ? trọng sự học, dù nghèo khó cũng vẫn cố gắng cho con cái đi học. Con đường học vấn là con đường dẫn đến công danh, sự nghiệp, phú qu? vinh hoa, là con đường đưa con người từ cỏ rác lên hàng châu ngọc... Thực ra, đ? có rất nhiều người sau khi đi học đỗ đạt, ra làm quan cho triều đ?nh hay cả cho giặc ngoại xâm. Nhưng cũng có rất nhiều người sau khi thành đạt trên đường học vấn, v? không chịu khuất phục cường quyền, không chịu luồn cúi trước quân xâm lược, đ? m?i m?i chỉ là "ông đồ" dạy học trong làng, trong xóm... Ở đây không bàn về khí tiết của kẻ sĩ thời nho học, nhưng đ? ghi nhận sự kiện không ít kẻ khoa bảng khinh khi người ít chữ, kẻ quan quyền coi dân như cỏ rác... Mất đoàn kết, kỳ thị là ở chỗ này, là ở hạng người này. Ngày xưa, trật tự x? hội được mô tả bằng câu nói "nhất sĩ nh? nông" ; nhưng người nông dân ít học cũng biết đáp lại "Hết gạo chạy rông th? nhất nông nh? sĩ". Trên đây chỉ là một ví dụ. Sự nông cạn và tinh thần phường hội, phe nhóm không phải chỉ xuất hiện ở một tầng lớp nào trong x? hội Việt Nam. Nó là hậu quả của sự tiêm nhiễm những quan niệm ngoại lai, đi ngược lại truyền thống đoàn kết của dân tộc. Điển h?nh là chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.

    Khối đại đoàn kết toàn dân là gia nghiệp qu? giá của tổ tiên để lại cho chúng ta. V? là qu? giá nên chúng ta có bổn phận phải g?n giữ, phải bảo vệ và phải phát huy. V? đại đoàn kết toàn dân làm nên sức mạnh kiên cường để đương đầu với mọi thứ hiểm nguy, đe dọa đến từ thiên nhiên và đến từ con người, nên thiên nhiên vẫn luôn thử thách dân tộc ta và con người, những kẻ muốn đè đầu cưỡi cổ dân tộc ta luôn luôn t?m cách phá hoại. Nếu dân ta với kinh nghiệm ngàn đời, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, đ? phần nào khám phá ra các quy luật của thiên nhiên, th? đối với con ngư?i, chúng ta vẫn hằng phải tỉnh táo, và luôn luôn đề cao cảnh giác.

      Sức mạnh tổng hợp của dân tộc đến từ đâu ?

    Dưới nền cai trị của ngoại bang và nhất là của đảng cộng sản Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ qua, x? hội nước ta đ? có những chỉ dấu phân hóa sâu đậm. Tinh thần đoàn kết của dân ta đ? sa sút trầm trọng. Việt Nam đang là một quốc gia trong đó dân không giầu, nuớc không mạnh. Câu hỏi được đặt ra là "làm thế nào để xây dựng sức mạnh tổng hợp của dân tộc" ?

    Chế độ CSVN th? lo âu sức mạnh đó sẽ tấn công vào thành tr? độc tài độc đảng của m?nh, nên t?m cách kiểm soát sự đoàn kết toàn dân bằng biện pháp dựng lên các tổ chức quần chúng giả hiệu rồi tập trung trong cái mà họ gọi là Mặt Trận Tổ Quốc. Song song, muốn gỡ bỏ ách độc tài cộng sản hiện nay, cũng cần phải có sức mạnh tổng hợp của mọi tầng lớp nhân dân. Tóm lại, ai cũng nh?n thấy được sức mạnh sẽ đến từ khối đại đoàn kết dân tộc. Những tổ chức đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam đ? đưa ra nhiều giải pháp nhằm xây dựng khối đoàn kết toàn dân để tạo sức mạnh đối trọng với đảng cộng sản cầm quyền. Có ? kiến là phải dựng lên một tổ chức chặt chẽ, thống hợp mọi thành phần trong x? hội. Có tổ chức quan niệm phải dựng lên một chính phủ lâm thời, chính phủ lưu vong... Nhưng thiết nghĩ, những giải pháp này bất khả thi trong t?nh h?nh hiện nay.

    Vấn đề là phải làm sao tạo dựng được một môi trường để tất cả mọi tầng lớp nhân dân, mọi xu hướng dân chủ, mọi tôn giáo, mọi đảng phái... có thể liên minh, liên kết mà vẫn giữ được bản sắc riêng biệt của m?nh, vẫn giữ được tính đa nguyên của x? hội để cùng nhằm vào một mục tiêu chung là tranh đấu cho dân chủ, tự do cho đất nước. Môi trư?ng này, sự kết hợp này có thể được mệnh danh là "Liên Minh Dân Tộc". Trong thế Liên Minh Dân Tộc, các thành phần dân tộc bao gồm các tầng lớp, xu hướng, tôn giáo trong x? hội sẽ h?a hợp để đạt tới những mục tiêu chung. H?a hợp nhưng không h?a tan thành một "tổ chức" duy nhất. Trong thế Liên Minh Dân Tộc các thành viên cùng nhau hoạt động cho mục tiêu chung, nhưng đồng thời cũng phải tôn trọng sự khác biệt. Nguyên tắc "H?a và Đồng" được hiểu ở đây là các thành phần dân tộc trong Liên Minh Dân Tộc tuy có những khác biệt nhưng vẫn cùng hoạt động trong h?a khí để cùng đạt tới mục tiêu chung. Chỉ trên căn bản H?a và Đồng, Liên Minh Dân Tộc mới là h?nh thức đoàn kết dân tộc lâu bền và mới có cơ đạt được mục tiêu chung phục vụ cho quyền lợi chung của tất cả các thành phần x? hội là chấm dứt độc tài độc đảng, xây dựng nền dân chủ nhân bản cho đất nước Việt Nam.

    [1] Đại Cương Lịch Sử Việt Nam Toàn Tập của Trương Hữu Quỳnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu H?n (nxb. Giáo Dục) 2001

    Trần Đức Tường

     

     

     

    Thế Liên Minh Dân Tộc Hôm Nay
    Vũ Thạch
     (LÊN MẠNG THỨ TƯ 17 THÁNG MƯỜI MỘT 2004)

    Liên minh dân tộc là từ ngữ ngày nay để đặt tên cho một hiện tượng đ? xảy ra bao lần trong lịch sử đất nước Việt Nam. Đó là sự kiện toàn dân hợp l?ng, muôn người như một, tập trung vào những mục đích chung của đất nước, đặc biệt khi phải đối diện với các đại nạn sinh tử cho cả dân tộc.

    Có những liên minh dân tộc được khởi xướng và l?nh đạo bởi những vị vua vị tướng hết l?ng v? đất nước như dưới thời nhà Trần. Nhưng ngay cả khi không có một triều đ?nh lo nghĩ đến đất nước, như các vua quan cuối đời nhà Nguyễn, liên minh dân tộc vẫn h?nh thành do chính người dân chủ đề xướng và tập hợp quanh những nhà l?nh đạo yêu nước đứng lên giữa l?ng quần chúng. V? vậy, có thể nói, liên minh dân tộc là tiến tr?nh tự nhiên của nỗi dằn vặt từ l?ng yêu nước và sự xót xa của t?nh đồng bào trước giờ phút bùng lên thành hành động. Qua liên minh dân tộc, sự tập trung tuyệt đối vào mục tiêu của đất nước có khả năng nâng từng cá nhân vượt lên trên sự sợ h?i của riêng m?nh và nhờ đó mà liên minh dân tộc Việt Nam, trong suốt gi?ng lịch sử, đ? là những cơn b?o khủng khiếp cho những kẻ dám chống cự lại.

      Liên Minh Dân Tộc Trong Lịch Sử Việt Nam Cận Đại

    Hơn ai hết, những người Cộng Sản, Việt Nam và Quốc Tế, hiểu r? sức mạnh của l?ng yêu nước và tận dụng sức mạnh này. Chính v? vậy mà Vladimir Lenin đ? viết chính thức vào cẩm nang và chỉ thị cho cán bộ, đặcbiệt là cán bộ ở các nước thuộc địa, phải dùng Chủ Nghĩa Dân Tộc làm phương tiện tạo đầu cầu và bành trướng Chủ Nghĩa Cộng Sản.

    Ông Hồ Chí Minh, một người cộng sản quốc tế thuần thành được huấn luyện nhiều năm tại Mạc Tư Khoa dưới thời Stalin, đ? triệt để áp dụng chiến lược này khi trở về Việt Nam suốt giai đoạn chưa nắm quyền. Từ h?nh ảnh "Cha già dân tộc" đến tuyên bố giải tán đảng Cộng sản Việt Nam để thành lập một chính phủ của toàn dân, các chi tiết được chăm sóc tận t?nh và phóng lớn qua bộ máy tuyên truyền nhằm đánh bóng lớp sơn dân tộc của "bác Hồ". Kết quả là một liên minh dân tộc vào thời đó đ? được h?nh thành đứng dưới sự l?nh đạo của các cán bộ cộng sản dấu kín tông tích, qua h?nh ảnh "Việt Minh". Chính liên minh dân tộc này đ? trở thành nấc thang cho đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện và tiến lên nắm quyền sau khi thành công trong việc cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945.

    Nhưng khi một đảng Cộng sản đ? lên nắm quyền th? ng?i bút Lenin viết tiếp : Nhà nước Công Nông phải dẹp bỏ Chủ Nghĩa Dân Tộc, Chủ Nghĩa Yêu Nước tiểu tư sản v? chính nó làm chậm bước tiến lên thế giới đại đồng ; ranh giới quốc gia đi ngược với chiều hướng phát triển quốc tế cộng sản. T?nh yêu nước kể từ đó phải lồng trong Ồ nghĩa là phải đứng sau Ồ t?nh yêu giai cấp. Chủ trương này được gói trọn vẹn trong khẩu hiệu "yêu nước là yêu chủ nghĩa x? hội". Hiển nhiên trong môi trường này liên minh dân tộc không có chỗ đứng v? l?ng yêu nước thuần túy, nền tảng của liên minh dân tộc, bị xem là "hủ lậu", "l?ng mạn tiểu tư sản", "thiếu cách mạng", thậm chí "phản cách mạng" v? sai với chủ trương của đảng.

    Tuy nhiên, chủ trương loại bỏ l?ng yêu nước thuần túy chỉ được thực hiện một phần tại miền Bắc trong thời gian 1954 - 1975 v? vẫn c?n nhu cầu vận động dân chúng miền Bắc vào cuộc chiến "giải phóng đồng bào ruột thịt Miền Nam". L?ng căm thù "đế quốc Mỹ xâm lược" và h?nh ảnh đồng bào miền Nam ruột thịt đang "rên siết dưới gót giày Mỹ Ngụy" lại được phóng lên để vận động cho sự kết đoàn của toàn dân vào cuộc chiến mới. H?nh ảnh bác Hồ - đánh nhịp điều khiển ban nhạc hợp ca bài Đoàn Kết, Đoàn Kết, Đại Đoàn Kết được lặp lại gần như hàng ngày trên khắp miền Bắc suốt mấy thập niên. Một lần nữa, khai thác l?ng yêu nước của hàng triệu thanh niên miền Bắc Việt Nam để "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu miền Nam", đảng Cộng sản Việt Nam đ? thành công và tiến lên nấc thang thứ hai hầu nắm quyền trên cả nước.

    Có thể nói tháng 4 năm 1975 đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử kể từ ngày thành lập, đảng Cộng sản Việt Nam không cần đến khối dân tộc để duy tr? hay mở rộng quyền lực nữa. Thế là kế hoạch cải tạo đất nước và x? hội Việt Nam theo định hướng x? hội chủ nghĩa được tiến hành với vận tốc tối đa, trong đó cả l?ng yêu nước thuần túy lẫn t?nh liên đới đồng bào đều không c?n chỗ đứng. Mọi loại giá trị truyền thống dân tộc được diễn dịch qua lăng kính giai cấp và nếu cần th? bị thay thế hẳn bằng các biểu tượng cách mạng vô sản. Cùng lúc đó, không một loại liên kết hàng ngang nào trong x? hội được chấp nhận, mà chỉ có một loại liên kết với đảng Cộng sản ở trung tâm, qua h?nh thức Mặt Trận Tổ Quốc. Ngay cả các hành động từ thiện nhỏ nhất như cứu lụt của các tôn giáo cũng bị cấm, và ngay cả những người thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũ muốn tề tựu lại với nhau đều bị cấm, theo d?i và cẩn mật đề ph?ng. T?nh liên đới hàng ngang giữa con người trong cùng một nước hoàn toàn bị xóa bỏ bởi không khí ngờ vực lẫn nhau trong từng cơ quan, từng khu phố, và thậm chí trong cả gia đ?nh.

    Nỗ Lực Khôi Phục Liên Minh Dân Tộc Tại Việt Nam Trong Những Năm Qua Phải chờ đến khi Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Xô Gorbachev cắt mọi nguồn viện trợ cho các nước cộng sản đàn em vào năm 1986, những người cầm quyền tại Hà Nội mới bắt đầu hạ giọng "cởi trói" cho thành phần này, "mở cửa" cho loại sinh hoạt kia. Và chỉ sau khi Liên Xô và khối Cộng Sản Đông Âu tan vỡ vào đầu thập niên 1990, đảng Cộng Sản Việt Nam mới thực sự mất hết hy vọng về những đế quốc cộng sản do Liên Xô hay Trung Quốc l?nh đạo, và mới bắt đầu ôm chầm lấy các h?nh ảnh tổ tiên, anh hùng dân tộc, lịch sử, văn hóa nguồn cội, v.v.... sau nhiều năm coi tất cả là tàn dư phong kiến để hoặc phá hủy hoặc bỏ mặc trong bụi bặm.

    Câu hỏi được đặt ra là liệu đảng Cộng sản Việt Nam có quấn lại được vào m?nh lá cờ dân tộc hay không ?

    Liệu những sắc lệnh tổ chức Huế Festival, mở lại ngày Hội Đền Hùng, sửa đường lên chùa Hương, v.v... có đủ để thuyết phục một tập hợp dân tộc khác làm bệ quyền lực mới cho đảng trong giai đoạn chuyển tiếp khó khăn sang thể chế độc tài tư bản đỏ hôm nay ?

    Với chủ trương rập khuôn Trung Quốc của các nhà l?nh đạo Hà Nội hiện nay, người ta có thể nh?n vào những nỗ lực của Bắc Kinh trong l?nh vực này để biết những g? sẽ xảy ra tại Việt Nam trong thời gian sắp tới. Sau khi chính thức rời xa chủ nghĩa cộng sản với việc công nhận quyền tư hữu và mời thành phần tư sản vào đảng Cộng sản Trung Quốc, các nhà l?nh đạo Bắc Kinh biết r? không c?n có thể dùng chủ nghĩa này để vận động và tập hợp dân chúng như trong quá khứ. Thay vào đó, kể từ đầu thập niên 90, Nhà Nước bắt đầu nhấn mạnh đến nỗi "quốc nhục" của Trung Hoa bị các cường quốc xâu xé vào cuối đời M?n Thanh, đặc biệt là những tội ác tày trời của đoàn quân Nhật Bản tại Nam Kinh, để kích động dân chúng tập hợp sau lưng Đảng với mục tiêu rửa nhục cho Trung Quốc. Phong trào đ? thực sự bùng lên cùng với chiến dịch vận động tổ chức Thế Vận Hội đầu thiên niên kỷ tại Bắc Kinh.

    Tuy nhiên, phong trào ái quốc này lập tức tạo những lo lắng mới cho những người cầm quyền. Họ muốn khích động nhiệt t?nh yêu nước trong giới trẻ nhưng lại cũng sợ giới trẻ "yêu nước quá" để rồi lại phát sinh một vụ Thiên An Môn khác. Khi có nhu cầu chính trị như trong vụ phản đối máy bay Mỹ đụng chiến đấu cơ Tàu vào đầu năm 2001, Bắc Kinh khuyến khích thanh niên sinh viên kéo đến biểu t?nh ném đá vào sứ quán Mỹ nhân danh "quốc nhục" ; nhưng khi các chủ h?ng ngoại quốc đối xử bất công với công nhân Trung Hoa hoặc khi các h?ng ngoại quốc trúng thầu với chính phủ trên đầu các h?ng nội địa th? các tiếng nói phản đối trong giới trí thức, sinh viên bị dập tắt ngay. Hiển nhiên người ta không thể yêu nước nửa chừng hay yêu nước theo sự đóng mở của chính quyền như một v?i nước, và với thời gian dân chúng nhận ra dần ? đồ lợi dụng của Đảng cho những ? định riêng, nên phong trào này đến nay hầu như không c?n tác dụng.

    Tương tự như vậy, người dân Trung Quốc cũng không thể yêu dân m?nh nửa chừng hay chỉ yêu những những người nào mà Đảng gật đầu cho phép. Việc buộc dân chúng nhắm mắt làm ngơ trước những cảnh đàn áp thô bạo của công an, như cảnh đánh đập vào đầu, vào mặt cả phụ nữ và những người già theo Pháp Luân Công tại những nơi công cộng dù họ không hề chống cự, tiếp tục giết chết sự liên đới giữa những con người trong x? hội. Hơn thế nữa, như trong mọi chế độ độc tài khác, đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rêu rao chứ không dám phục hồi t?nh liên đới thực sự giữa con người trong x? hội v? lo sợ sẽ tạo ra những mảng chống đối.

    Khi chính đảng ra tay dập tắt l?ng yêu nước và ngăn chặn t?nh đồng bào, th? chắc chắn đảng ấy không thể tập hợp dân tộc, và lại càng không có hy vọng kéo tập hợp ấy vào sau lưng m?nh. Có thể nói khi Bắc Kinh chỉ c?n cách khích lệ dân chúng bằng khẩu hiệu làm giàu cho cá nhân m?nh là vinh quang, họ đ? thú nhận thất bại hoàn toàn trong nỗ lực vận động tư tưởng.

    Dĩ nhiên nếu công thức này được đưa vào áp dụng tại Việt Nam, các l?nh tụ tại Hà Nội sẽ phải đối diện những vấn nạn tương tự. Nhưng khó khăn hơn nữa cho đảng Cộng sản Việt Nam là việc 3 đời Tổng Bí Thư và toàn nhóm Tổng Bộ Chính Trị đồng l?ng dâng nhượng l?nh thổ và l?nh hải Việt Nam cho Trung Quốc. Hành động bất chấp dân tộc này đ? xóa sạch h?nh ảnh yêu nước mà hệ thống tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam đ? gầy dựng. Thêm vào đó, tiếng nói chân thực của ông Bùi Minh Quốc, bà Dương Thu Hương, và hàng ngàn cựu chiến binh đang vạch r? dần sự lợi dụng của đảng Cộng sản Việt Nam đối với l?ng yêu nước của họ trong cuộc chiến quá khứ, mà thực chất chỉ để bành trướng quyền lực cho đảng và làn sóng cộng sản. Ngoài ra, tiếng nói lương tâm của những người từng nằm trong guồng máy cai trị như các ông Bùi Tín, Lê Hồng Hà, Trần Độ, v.v... cũng đang vạch r? dần bản chất của đảng là chỉ phục vụ đảng chứ không v? dân mà cũng chẳng v? nước.

    Với thành tích và bản chất đó, sẽ chẳng bao giờ c?n có một liên minh dân tộc nào nữa đứng sau lưng đảng Cộng sản Việt Nam.

      Vai Tr? Của Một Liên Minh Dân Tộc Đối Với Tương Lai Việt Nam

    Nỗi khó khăn cho đất nước chúng ta là giữa lúc mọi người đang thấy r? dần những lừa bịp và lạm dụng l?ng yêu nước của đảng Cộng sản Việt Nam đối với liên minh dân tộc trong quá khứ th? cũng là lúc mà đất nước chúng ta rất cần một liên minh dân tộc mới để vượt qua cơn quốc nạn hôm nay và vươn lên ngày mai.

    Điều hiển nhiên đầu tiên là chế độ độc tài với tất cả những tiêu cực và khổ đau đ? thấy sẽ tiếp tục tồn tại nếu không có một liên minh dân tộc đủ mạnh để tháo gỡ nó. Trong t?nh h?nh hiện nay không một cá nhân hay đoàn thể riêng lẻ nào có thể làm được công việc này. Với một liên minh dân tộc đúng nghĩa và đủ lớn rộng, không những chế độ độc tài có thể gỡ bỏ được mà sự thay đổi c?n có thể diễn ra không cần đổ máu. Đó là thực tế đ? xảy ra trong cuộc Cách Mạng Nhung tại Tiệp Khắc.

    Kế đến, một liên minh dân tộc vô cùng cần thiết để chữa trị các tật bệnh trầm trọng trong x? hội Việt Nam hiện nay, từ nạn tàn phá môi sinh, băng hoại luân l? trong x? hội đến nạn ung thư tham nhũng, cướp phá tài nguyên quốc gia, v.v... Những căn bệnh này đ? tràn lan vào từng ng? ngách của đời sống và vượt quá khả năng giải quyết của một chính quyền, dù là chính quyền biết lo cho nước cho dân. Thang thuốc cho đất nước và x? hội Việt Nam đ?i hỏi sự đóng góp của mọi thành phần dân tộc đồng loạt và rộng khắp.

    Một khi vượt qua các căn bệnh hiện tại, đất nước cũng không thể bắt kịp thế giới bên ngoài nếu không được đẩy bởi một liên minh dân tộc, cùng chấp nhận những hy sinh giai đoạn trong một số l?nh vực để dồn sức phát triển đất nước có kế hoạch lớp lang. Nếu không có sự đồng l?ng của toàn dân và để mặc cho t?nh trạng phát triển rừng rú hiện tại tiếp tục trên căn bản mỗi cá nhân tập trung làm giàu tối đa cho m?nh, những cảnh "phá thẳng tay, cướp bán tất cả những g? có thể, và lừa tất cả mọi người khi có cơ hội" sẽ tiếp tục cột chân đất nước trong v?ng những nước đói nghèo nhất thế giới.

      Điều Kiện Cần Có Để H?nh Thành Và Duy Tr? Một Liên Minh Dân Tộc

    Trước nhu cầu phải có một liên minh dân tộc để đưa đất nước ra khỏi bế tắc hiện tại và trước sự phá sản tinh thần toàn diện của chế độ độc tài hiện tại, dân tộc Việt Nam không c?n chọn lựa nào khác ngoài nỗ lực tự đứng lên tạo dựng liên minh này như đ? từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử dân tộc. Đây là phản ứng tự nhiên và truyền thống của dân tộc, phát xuất từ sự thôi thúc của l?ng yêu nước và yêu giống n?i.

    Tuy vậy, trong quá khứ cũng đ? có những nỗ lực liên kết bất thành. Học hỏi từ những kinh nghiệm này, các đoàn thể và nhân sĩ đang vận động cho một Liên Minh Dân Tộc (LMDT) mới đang tiến dần đến một số điều kiện cơ bản chung như sau :

    - LMDT mới phải đặt căn bản trên l?ng yêu nước và t?nh liên đới thực sự giữa đồng bào với nhau. LMDT này không đơn thuần là một liên minh chính trị. Trong khi các liên minh chính trị chỉ có tính ngắn hạn để vượt qua một cuộc bầu cử hay hoàn tất một nhiệm kỳ, LMDT là sự liên kết dài hạn để thay đổi tương lai của cả đất nước. Và trong khi các liên minh chính trị chỉ dựa trên những hứa hẹn êm tai hời hợt, LMDT đ?i hỏi sự cảm thông và tin tưởng sâu xa để cùng chấp nhận những chọn lựa khó khăn v? lợi ích lâu dài của đất nước. Chính LMDT cũng sẽ là hạt nhân phục hồi t?nh liên đới giữa người Việt Nam với nhau trên toàn đất nước và khắp 5 châu.

    - LMDT mới phải được xây dựng trên căn bản H?a và Đồng. Các thành viên LMDT không nhắm tiêu diệt hay xóa tên nhau. Không thành viên nào phải lo ngại bị h?a tan. Mọi sự h?a nhập, nếu có, đều dựa trên căn bản tự nhiên và tự nguyện. Chính LMDT này sẽ là mẫu mực cho x? hội Việt Nam tương lai.

    - LMDT mới phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ. Mọi thành viên dù lớn hay nhỏ đều có tiếng nói. LMDT sẽ dựa trên một số luật lệ vận hành do mọi thành viên cùng hội ? đề ra, chứ không đơn thuần dựa vào cá nhân. Từ đó tránh được thói quen chờ đợi minh chủ hay tranh giành vị trí minh chủ.

    - LMDT mới phải tôn trọng nguyên tắc đa nguyên. Mọi thành viên coi những khác biệt ? kiến là điều b?nh thường miễn là không đi ngược lại những mục tiêu chung ; nhưng cùng lúc không chấp nhận những ? kiến mang tính vu cáo, bôi xấu, chia rẽ, phát xuất từ l?ng ganh tị, thù hằn.

    Đó là những yếu tố tối thiểu để duy tr? sự lâu bền và hữu hiệu của một liên minh dân tộc trong trận thế đấu tranh ngày nay.

      Kết Luận

    Đất nước Việt Nam đứng trong vũng bế tắc hiện tại đ? quá lâu. Sau nhiều năm bàn bạc, người Việt Nam từ trong nước đến hải ngoại đều đ? nhận ra nhu cầu phải xây dựng Liên Minh Dân Tộc Việt Nam của thiên kỷ mới. H?a Thượng Thích Quảng Độ, ứng viên giải Nobel H?a B?nh đ? tóm tắt ước vọng và sứ mạng này như sau :

    Để đối trị xu thế độc đảng và chuyên quyền, cần h?nh thành một liên minh dân tộc bao gồm mọi khuynh hướng chính trị và tôn giáo làm nền tảng cho một chính quyền dân chủ đa nguyên. Cụ thể là bỏ điều 4 trên Hiến pháp hầu xác định vị trí tối thượng của văn hóa và tư tuởng Việt khởi phát từ thời đại các Vua Hùng, đồng lúc tạo cơ sở cho sự h?nh thành và ra đời của liên minh dân tộc này ;

    Để đối trị chế độ độc tài toàn trị, cần thực thi toàn vẹn những công ước quốc tế liên hệ đến nhân quyền, đến các quyền dân sự và chính trị, mà Việt Nam đ? k? kết, tham gia. Cụ thể là ban hành tự do lập hội không thông qua Mặt Trận Tổ Quốc, một công cụ tay sai của đảng Cộng sản ; tự do ngôn luận không thông qua l? luận hay tư duy toàn thống Mác - Lê ; tự do báo chí do tư nhân điều hành và độc lập với đảng Cộng sản ; tự do nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi người lao động. Các tự do căn bản này là nền tảng bảo đảm cho sự phát biểu các ngưỡng vọng và quyền sống của nhân dân ;

    Để đối trị xu hướng vọng ngoại, từ ? thức hệ đến các cơ cấu tổ chức x? hội, cần phát huy nền văn minh truyền thống Việt Nam, một nền văn minh biết tiếp thu và dung h?a tinh hoa của các luồng văn hóa nhân loại.

    Thời điểm vào cuộc cho cả dân tộc Việt Nam đ? bắt đầu !

    Vũ Thạch

     

     

    Dân chủ và tự do là khát vọng chính đáng của con người !
    Trần Công L?
    (LÊN MẠNG THỨ BA 26 THÁNG MƯỜI 2004)

    KÍNH gửi :

    - Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
    - Tổng bí thư Nông Đức Mạnh.
    - Bộ Chính trị và ban Bí thư.
    - Ban kiểm tra Trung ương Đảng.
    - Ban bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương Đảng.
    - Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
    - Ông Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
    - Ông Chánh án T?a án tối cao

    Chúng tôi là những thương binh và thân nhân của những thương binh, liệt sĩ đ? đổ máu trong bốn cuộc chiến tranh mà đất nước phải gánh chịu trong v?ng gần 60 năm qua.

    Dù không có thông tin và phải dành gần hết thời giờ hàng ngày cho việc mưu sinh đầy khó khăn, nhưng rồi chúng tôi cũng được biết một sự thật động trời : đó là vụ án chính trị siêu nghiêm trọng mà Đại tướng V? Nguyên Giáp, thượng tướng Nam Khánh và nhiều tướng tá, nhân sĩ khác gọi là : "Vụ án Tổng cục II" hoặc "Vụ T4".

    Thưa các cấp l?nh đạo,

    Là những công dân lương thiện, tin vào sự l?nh đạo đúng đắn của Đảng và nhà nước, nay chúng tôi thấy hoang mang sợ h?i ; cứ tưởng như trong chiêm bao - rất mong rằng m?nh đ? đọc nhầm, nghe nhầm !

    Nhưng nhầm sao được khi các văn bản kia có đầy đủ họ tên, chức vụ và địa chỉ đáng tin cậy của người gửi cũng như tên, chức danh r? ràng của nơi nhận ?

    Chả nhẽ Đại tướng Giáp, Thượng tướng Khánh và nhiều vị khác là những công thần của đất nước này, từng được cả kẻ thù kính nể, lại là những người hồ đồ, nh?n nhầm, nói lẫn ?

    Vậy nếu vụ này là có thật (mà chắc là có thật), th? chả nhẽ các vị l?nh đạo ở các cấp cao nhất của Đảng, nhà nước và quân đội, đ? hoặc đang đứng đầu những tổ chức quyết định đến vận mệnh của quốc gia kia (xin không nêu lại tên) ; lại là những con người có nhân cách tồi tệ, hành xử phạm pháp đến như vậy ư ?

    Th? cứ cho rằng họ chỉ là những cá nhân xảo quyệt, thoái hóa biến chất, chui sâu, leo cao. Vậy th? c?n hàng vạn cán bộ Đảng viên chân chính, bầu ra hàng trăm ủy viên BCH Trung ương gương mẫu, hàng chục ủy viên Bộ chính trị sáng suốt ; qua ngần ấy nhiệm kỳ đại hội nghiêm túc, có một guồng máy to lớn đầy đủ các ban ngành chặt chẽ, có điều lệ và các nguyên tắc l?nh đạo đúng đắn ; được các nghị quyết soi sáng dẫn dắt ; tiêu tốn cơ man nào là tiền của của nhân dân đ? làm được những g? ? Phải chịu trách nhiệm g? trong vụ án nghiêm trọng này ? ? ?

    Chúng tôi thật sự hoang mang hoảng sợ là v? những nhẽ đó !

    Chúng tôi cần có l?ng tin để thống nhất hành động trong công cuộc đổi mới đất nước, th? l?ng tin đó bây giờ cần phải đặt vào đâu ? Ai, tổ chức nào biết quan tâm lắng nghe nguyện vọng của chúng tôi, để thật sự cải thiện t?nh h?nh ? H?y chỉ cho chúng tôi những tiêu chuẩn nào để có thể phân định được đâu là địch, c?n đâu là ta ? Làm đến chủ tịch nước mà cầm đầu, giật dây, dung túng cho một tổ chức t?nh báo quan trọng bậc nhất của quốc gia, bịa đặt thông tin giả để hại anh em nội bộ, thậm chí đem bán cả kế hoạch ph?ng thủ bầu trời cho nước ngoài, th? phải gọi là chủ tịch g? ? Với những người như thế mà có những người chủ trương chỉ xét xử nội bộ, th? cái nội bộ ấy là nội bộ của ai ? ? ?

    Tóm lại, chúng tôi cần và phải được biết toàn bộ sự thật của vụ án này. V? an hay nguy của đất nước là an nguy của tất cả mọi người dân chúng tôi - chứ không phải của riêng Bộ Chính Trị.

    Chúng tôi cần những việc làm cụ thể, thiết thực, giúp chúng tôi vượt qua đói nghèo, lạc hậu. Chúng tôi muốn Đảng và những người l?nh đạo phải lành mạnh, quang minh chính đại, thực sự v? nước, v? dân ; Chứ không cần những khẩu hiệu, những lời nói suông, hứa hẹn suông, nói một đường làm một nẻo.

    Đảng đ? chủ trương đúng rằng : "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Vậy mà với một vụ án tày đ?nh đến như thế - Một nhóm người có vai tr? quyết định trong Bộ chính trị lại chủ trương giấu diếm sự thật với cả Ban chấp hành Trung ương (là tổ chức đ? bầu ra BCT, và BCT phải có trách nhiệm báo cáo nó) ; Th? có phải là các vị này định dùng khẩu hiệu nói trên để giễu cợt, nhạo báng dân chúng tôi không ? Thật là khinh miệt chúng tôi quá lắm !

    Xin những ai bị danh lợi làm cho loá mắt, đ? nhẫn tâm quay lưng lại với nhân dân, cần phải hiểu rằng : Miếng cơm manh áo hàng ngày các vị dùng là do dân chúng tôi đóng góp ; Các vị tiêu vặt cả ngàn đô-la như không, là lấy từ bữa ăn sáng của con em chúng tôi ; Hàng triệu đô-la các vị gửi ở ngân hàng nước ngoài, không trực tiếp th? gián tiếp móc từ túi của dân đen chúng tôi ; Những người đang canh gác cho các vị ngon giấc, cũng đều là con em chúng tôi cả ; Thậm chí dưới nền móng ngôi biệt thự các vị đang ngự kia, có thể c?n có hài cốt liệt sĩ là đồng đội của chúng tôi đấy !. Xin các vị h?y suy xét cho cẩn trọng ! Gieo g? th? phải gặt nấy - là chân l? bất biến của muôn đời. Hậu quả có thể thấy nh?n tiền, cũng có thể đến tận đời con cháu. Việc mộ ông Lê Đức Thọ bị ai đó đổ cứt lên mấy lần, phải bí mật đào đi chôn giấu ở chỗ khác chắc các vị biết cả, chả nhẽ không nói lên được điều g? ư ?

    Chúng tôi là những thường dân lương thiện, làm g? cũng phải có lề lối, phép tắc ; Chứ không như ai đó quen dùng những thủ đoạn bỉ ổi, hèn mạt để vu oan, đánh lén, hại đến cả đồng chí, đồng đội của m?nh. V? thế mà chúng tôi chân thành cùng nhau viết lá thư ngỏ này gửi đến các cấp l?nh đạo của Đảng, với hy vọng các vị lấy lại được công tâm mà làm cho r? trắng đen, phải trái của vụ án tồi tệ nhất lịch sử này ; Rồi công bố sự thật cho bàn dân thiên hạ biết ; Xét xử đúng người đúng tội, không được bỏ sót một ai. Có thế th? may chăng l?ng tin của dân chúng và kỷ cương phép nước mới được v?n hồi. Dân chúng tôi mới có thể sinh sống yên ổn được.

    C?n nếu v? bất cứ l? do g? mà bao che tội phạm, xử l? nội bộ rồi ỉm đi th? đấy là những người đ? cố ? phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, làm tan r? chút hy vọng c?n sót lại của dân chúng. Hậu quả xấu của nó chưa thể lường hết được đâu. Đúng như thượng tướng Nam Khánh nói : "Không ai có thể che giấu và bịt kín được sự thật, sự thật sẽ tự mở đường mà đi".

    Chúng tôi cũng cho rằng : Không ai cầm quyền mà có bụng Bồ-tát, tự đem dân chủ đến cho chúng tôi đâu. Muốn có dân chủ, chúng tôi phải hiểu r? nó, và phải biết cách giành lấy.

    Xin những ai c?n có công tâm, c?n biết xót thương n?i giống, c?n nghĩ đến chúng tôi xin h?y giúp chúng tôi giành lấy dân chủ bằng con đường hợp pháp và h?a b?nh. V? cái giá của sự đổ vỡ mà con đường bạo lực đem lại chúng tôi đ? biết và chịu đựng quá đủ rồi !

    Sự thật phải được đem ra soi dưới ánh sáng mặt trời công l?. Dân chủ và tự do là khát vọng chính đáng của con người. Chỉ có kiên tr? con đường dân chủ thật sự mới hy vọng chữa lành dần những căn bệnh trầm kha mà x? hội đang mắc phải. Người Việt Nam ta không phải là một n?i giống hèn kém, khiếp nhược, phải được hưởng quyền tự do dân chủ ấy.

    Chúng tôi biết ơn những ai đ? bớt chút thời giờ đọc lá thư này, và cảm thông với nguyện vọng của chúng tôi, cùng chúng tôi phấn đấu cho một ngày mai tốt đẹp hơn.

    Hà Tây, ngày 11/10/2004.
    K? tên : Trần Công L?

    Thay mặt cho những công dân là thương bệnh binh của các cuộc chiến tranh mà dân tộc đ? phải chịu đựng trong gần 60 năm qua.

     

     

    Hoà Thượng Thích Quảng ?ộ Phản ?ối Việc CSVN Quản Thúc Phi Pháp
    (LÊN MẠNG THỨ NĂM 28 THÁNG MƯỜI 2004)

    Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
    Viện Hóa ?ạo
    Thanh Minh Thiền viện,
    90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh

    Phật lịch 2548
    Số 05/VH?/VT

    ?ồng kính gửi :
    - Ông Nông ?ức Mạnh, Tổng Bí thư ?ảng Cộng sản Việt Nam
    - Ông Trần ?ức Lương, Chủ tịch CHXHCNVN
    - Ông Phan Văn Khải, Thủ tướng CHXHCNVN
    - Ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch Quốc hội CHXHCNVN

    V/v : Vu cáo tàng trữ "bí mật Nhà nước".

    Sài G?n, ngày 21.10.2004

    Thưa qu? Ngài,

    Kể từ cuộc đàn áp bắt bớ không l? do hàng giáo phẩm thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở Lương Sơn gần thành phố Nhatrang sáng ngày 9.10.2003, trong ấy có ?ức Tăng thống Thích Huyền Quang và tôi, Thích Quảng ?ộ, tính đến nay đ? 378 ngày tôi bị quản chế hành chính tại Thanh Minh Thiền viện theo khẩu lệnh của Công an thành phố Hồ Chí Minh. Trong thế giới, chưa hề có quốc gia văn minh nào quản chế công dân bằng "khẩu lệnh" như ở nước ta ! C?n ?ức Tăng thống Thích Huyền Quang th? bị dẫn độ về quản chế, cũng bằng "khẩu lệnh", tại Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh B?nh ?ịnh. Tuyệt nhiên chúng tôi không biết quản chế về tội g?, v? chưa một lần xét xử nên chẳng có án lệnh. Hơn bốn năm nay, đường dây điện thoại của tôi bị cắt, công an canh gác cẩn mật trước chùa, không ai được tự do thăm viếng tôi.

    V? vậy tôi viết bức thư hôm nay gửi đến qu? ngài, mong qu? ngài xuống lệnh cho các cơ quan công quyền chấm dứt t?nh trạng phi pháp nói trên. Tôi nói phi pháp v? hai lẽ, một là bắt bớ, quản chế không l? do ; hai là chiếu theo điều 10 trong Bộ luật Tố tụng h?nh sự, th? "không ai có thể coi là có tội và phải chịu h?nh phạt, khi chưa có bản án kết tội của T?a án đ? có hiệu lực pháp luật", điều 71 trong cùng bộ luật, th? "thời hạn tạm giam không được quá 2 tháng đối với tội ít nghiêm trọng ; không được quá 4 tháng đối với tội nghiêm trọng". Tổng cộng tối đa không được quá 12 tháng, và "khi đ? hết thời tạm giam th? người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam".

    Sau khi ?ức Tăng thống và tôi cùng các Thượng tọa, ?ại đức đi cùng chuyến xe từ B?nh ?ịnh về Sài G?n bị chận bắt không l? do như đ? nói ở trên, tôi có nghe ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao, tuyên bố với báo chí quốc tế hôm thứ sáu 10.10.2003, rằng l? do bắt bớ ?ức Tăng thống và tôi là do hai chúng tôi tàng trữ "bí mật Nhà nước". ?ức Tăng thống Thích Huyền Quang có cho chúng tôi biết rằng, khi công an ở Lương Sơn khám xét thân thể ngài, chỉ t?m thấy "không quá mười đồng bạc". Vậy xin hỏi bạc tiền do Nhà nước in ra cho dân chúng tiêu pha có là "bí mật Nhà nước" không ?

    C?n phần tôi, không cần thiết phải biện luận. Tôi chỉ muốn cơ quan công quyền trả lời cho tôi biết "bí mật Nhà nước" t?m thấy trong túi xách tay của tôi ở Lương Sơn hôm 9.10.2003 là g? ? Nếu đ? t?m thấy "bí mật Nhà nước", th? tại sao cơ quan công an hay Nhà nước không công bố các "tài liệu" ấy ra cho nhân dân trong nước và công luận thế giới được am tường ? Sự im lặng này kéo dài trên một năm hơn rồi, chứ đâu c?n là chuyện mới xảy ra hôm qua ?

    Câu hỏi tôi đặt ra trên đây cốt thông giải cho bản thân tôi cũng như sự thắc mắc quá lâu của Phật giáo đồ ở trong và ngoài nước, cũng như giới bằng hữu quốc tế thường quan tâm đến vấn đề Việt Nam. Lời đáp cho câu hỏi này sẽ minh chứng về một Nhà nước Pháp quyền, điều mà mọi người đang trông đợi, và muốn chứng kiến trong thực tiễn.

    Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng, trong Bộ luật H?nh sự của CHXHCNVN không thấy một điều nào quy cho tội tàng trữ "bí mật Nhà nước". Như vậy th? sự vu cáo ?ức Tăng thống Thích Huyền Quang và tôi có cơ sở pháp l? để bắt và quản chế suốt hơn một năm qua không ?Hay là sự vu cáo tàng trữ "bí mật Nhà nước", vốn vô tội chiếu theo bộ Luật H?nh sự, chỉ tạo tiền đề cho một vu cáo khác sẽ đến sau, là "thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài", mà chiếu theo điều 80 sẽ bị khép vào "tội gián điệp" là tội có thể lĩnh án 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử h?nh ? Hoặc sẽ tạo tiền đề để vu cáo "tội cố ? làm lộ bí mật Nhà nước", chiếu điều 263 có thể bị phạt tù đến 15 năm ?

    Tôi nói như thế cốt cho qu? ngài dễ nhận ra thực trạng phi pháp phổ biến đang tồn tại trong x? hội nước ta ngày nay nhằm khủng bố người hiền lương. Chứ trong thực tế, chúng tôi không mắc vào bất cứ một tội nào cả, ngoài sự kiện chúng tôi bị các cơ quan công quyền vu h?m và lăng nhục suốt một năm hơn.

    Việc tôi nêu trên đây vô cùng trầm trọng. Các ngài là người lo việc nước việc dân tất không thể nại bất cứ cớ g? để làm ngơ không xử l?.

    Nhân thấy việc bắt bớ phi l? nói trên, ngày 17.10.2003, Thượng tọa Thích Viên ?ịnh, Phó Viện trưởng Viện Hóa ?ạo đ? viết thư gửi qu? Ngài yêu cầu trả tự do cho ?ức Tăng thống Thích Huyền Quang và tôi. Sang ngày 19.4.2004, nhân danh Hội đồng Lưỡng viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, H?a thượng Thích ?ức Chơn và Thượng tọa Thích Viên ?ịnh lại một lần nữa viết thư yêu cầu qu? ngài trả tự do cho chúng tôi và hàng giáo phẩm bị quản chế hoặc bằng Quyết định hoặc bằng khẩu lệnh. Nhưng cả hai lá thư ấy không hề được quí ngài hồi âm.

    Tôi hy vọng bức thư tôi viết hôm nay sẽ được các ngài quan tâm xử l?.

    Ở đây chúng tôi không kêu gọi sự khoan hồng hay ân huệ nào cả. Chúng tôi chỉ mong công l? được thi hành trên đất nước này, pháp luật được áp dụng, pháp quyền được tôn trọng cho mọi công dân bất phân chính kiến, tôn giáo. Chúng tôi chỉ mong Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà Nhà nước CHXHCNVN k? kết tại Liên Hiệp Quốc ngày 24.9.1982 được thực hiện và bảo đảm cho mọi công dân. Nếu chúng tôi tàng trữ "bí mật Nhà nước" th? xin h?y công bố tài liệu bí mật đó là tài liệu g? ? do ai viết ra ? do ai sản xuất ? sản xuất với mục tiêu g? ? Nếu chúng tôi có tội, th? xin áp dụng luật pháp để tiến hành tố tụng, đưa chúng tôi ra t?a án xét xử công khai và công bằng như tại các quốc gia văn minh và dân chủ với mọi quyền luật sư bào chữa, như qui định trên Hiến pháp, trong bộ Luật Tố tụng H?nh sự hay trong Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị của LHQ.

    Năm ngoái, báo chí ?ảng và Nhà nước loan tải việc "Chiến lược phát triển hệ thống Pháp luật Việt Nam" sẽ được thực hiện trong v?ng bảy năm, bắt đầu từ ngày 4.9.2003 và kết thúc năm 2010. Chiến lược này được quốc tế hoan nghênh và tài trợ. ?ảng và Nhà nước đ? nhận được của Cơ quan phát triển LHQ, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, và các nước Thụy ?iển, ?an Mạch, Nhật Bản, Canada, Pháp, Úc khoản tài trợ năm (5) triệu Mỹ kim cho bốn năm đầu.

    Với ? chí phát triển và cải thiện nền pháp luật Việt Nam, với số tiền to lớn mà thế giới cung cấp, tôi hy vọng rằng làm sáng tỏ việc bắt bớ, quản chế ?ức Tăng thống Thích Huyền Quang và tôi suốt một năm qua, và việc vu cáo chúng tôi tàng trữ "bí mật Nhà nước" cần được giải quyết nhanh chóng và công minh theo hướng phát triển nền pháp luật mới trên đất nước này.

    Trân trọng kính chào qu? Ngài.

    Viện trưởng Viện Hóa ?ạo
    Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
    (ấn k?)
    Sa môn Thích Quảng ?ộ

     

     

    Cách Mạng Hay Không Cách Mạng Ở Nga và Đông Âu ?
    Nguyễn Học Tập
     (LÊN MẠNG THỨ BẢY 20 THÁNG MƯỜI MỘT 2004)

    Mấy lúc gần đây không thiếu ít nhiều dư luận cho rằng cuộc chiến đấu của những người Quốc Gia chống lại Cộng Sản để mong đem lại dân chủ, tự do và nhân quyền cho đất nước là hành vi của những người quá khích, không c?n hợp thời.