Nguyên Tắc Dân Chủ (1/4)
Mục tiêu dân chủ phải được hướng dẫn bằng tư tưởng dân chủ và xây dựng bởi nỗ lực dân chủ.  Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực hiện hoặc dễ thất bại khi nhân tố tham chính  (cộng-sản hay không-cộng-sản) mang hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ Do đó trong quan niệm ‘vấn nạn hiện thực không phải là chấp nhận tư tưởng dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng và hành động phản-dân-chủ’  Diễn đàn Dân Chủ cố gắng giới thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu tư đến tương lai dân tộc có thể suy luận  để so sánh  phủ định quan điểm và  hành động phản-dân-chủ  bởi vì Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công  cơ chế quốc trị dân chủ quy phục và phụng sự nhân dân trong tương lai trên nền tảng tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không lẽ trong khi các quốc gia phú cường tiếp tục phát triển nhờ vào cơ chế dân chủ khai phóng tiềm năng đóng góp của toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam lại tiếp tục bị cầm tù trong ngục tù nghèo hèn bởi thành phần lãnh đạo độc tài mang hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ?
Phần tài liệu Các vấn đề dân chủ sau đây  trình bày nhiều đề tài khả dụng như  định chế dân chủ,  vai trò chính đảng,  truyền thông,  luật pháp, kinh tế thị trường, trách nhiệm của chính quyền, bầu cử tự do và hình thức tuyển cử, xã hội dân sự, nhân quyền, tư sản, quyền lợi và giới hạn của công dân, v.v., tuy sơ lược nhưng minh bạch do đó Diễn đàn Dân Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn.

Các vấn đề dân chủ
(Trich tu Dien Dan Dan Chu - Việt Nam đi tới)


I. Tổng Quát
1.   Dân chủ là gì?
2.   Tại sao phải gắn bó với dân chủ ?
3.   Nguồn gốc của ý tưởng dân chủ
4.   Chế độđại nghị có thực sự dân chủ không?
5.   Vai trò của chínhđảng trong chếđộ dân chủ
6.   Vai trò quan trọng của truyền thông trong một chếđộ dân chủ
7.   Tại sao các chế độ dân chủ đại nghị có thể được xem là tự do?
8.   Có thể có những hình thức dân chủ nào khác với chế độ dân chủ tự do không?
9.   Dân chủ có đòi phải có kinh tế thị trường không?
10. Quyết định của đa số có phải lúc nào cũng dân chủ không?
11. Trong chế độ dân chủ, một cá nhân có quyền bất tuân pháp luật hay không?
12. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc và dân chủ có liên quan gì với nhau?
13. Có thể cai trị một quốc gia một cách dân chủ không?
14. Làm thế nào để giữ sau khi đã thiết lập được dân chủ?
15. Những thành tố chính yếu của một chế độ thực sự dân chủ
        (i) Những cuộc bầu cử tự do và bình đẳng
        (ii) Một chính quyền hoạt động minh bạch và có trách nhiệm
        (iii) Dân quyền và quyền chính trị
        (iv) Xã hội dân chủ hay xã hội dân sự


II. Những cuộc bầu cử tự do và công bằng
16. Tại sao những cuộc bầu cử lại quan trọng?
17. Nguyên thủ quốc gia có cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử không?
18. Còn những người ở chức vụ nào khác cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử?
19. Có cần bầu một nghị viện thứ hai không?
20. Chu kỳ của các cuộc bầu cử
21. Có cần phải giới hạn quyền bầu cử không?
22. Làm sao thiết lập danh sách cử tri?
23. Có cần cưỡng chế bầu cử không?
24. Tại sao phải bỏ phiếu kín?
25. Ðiều kiện ứng cử
26. Tại sao ít có phụ nữ trong các chức vụ dân cử?
27. Dân biểu được xem là "đại diện" của cử tri trong chừng mực nào?
28. Sự khác biệt của các lối bầu cử
29. Ưu và khuyết điểm của các lối bầu cử
30. Hình thức liên minh cầm quyền có dân chủ không?
31. Làm thế nào để bảo đảm sự công bằng trong diễn tiến bầu cử?
32. Công quỹ có cần tài trợ cho các chính đảng không?
33. Có nên cho các dân biểu thay đổi đảng tịch giữa 2 kỳ bầu cử không?
34. Các cử tri có quyền hành gì giữa hai kỳ bầu cử?
35. Trong chế độ dân chủ, khi nào phải sử dụng hình thức trưng cầu dân ý?

III. Tính trong suốt và trách nhiệm của chính quyền
36. Tại sao hoạt động trong suốt của chính quyền lại quan trọng đối với dân chủ?
37. Làm thế nào để bảo đảm cho hoạt động chính quyền được trong suốt?
38. Thế nào là trách nhiệm của chính quyền?
39. Tại sao sự phân quyền lại quan trọng?
40. Thế nào là thượng tôn pháp luật và làm sao để bảo vệ nguyên tắc đó?
41. Vai trò của quốc hội trong việc kiểm soát trách nhiệm của chính quyền
42. Ai có thể trở thành dân biểu quốc hội?
43. Có nên cho phép dân biểu nhận các việc làm có thù lao khác không?
44. Làm thế nào để tận diệt tham nhũng chính trị?
45. Vai trò của bộ máy hành chính trong chế độ dân chủ
46. Công dân có phương tiện nàođể buộc các cơ quan nhà nước phải làm tròn trách nhiệm đã được giao phó?
47. Làm thế nào để bảo đảm sự kiểm soát của một chính quyền dân sự đối với quân đội?

48. Cơ quan tình báo có chỗ đứng trong một chế độ dân chủ không?
49. Tại sao các đơn vị hành chánh địa phương lại quan trọng đối với nền dân chủ?
50. Chế độ liên bang thích hợp trong những điều kiện nào?

IV. Những quyền tự do cá nhân và phương cách bảo vệ chúng
51. Nhân quyền là gì?
52. Nhân quyền được phân loại ra sao?
53. Có nhân quyền nào được xem là quan trọng hơn các nhân quyền khác không?
54. Nhân quyền có tính phổ quát không?
55. Cộng đồng quốc tế có thể bày tỏ sự quan tâm chínhđáng của mình về cách thực thi nhân quyền tại một quốc gia nào đó không?
56. Nhân quyền liên quan ra sao với dân chủ?
57. Các quyền dân sự và chính trị liên quan ra sao với dân chủ?
58. Các quyền kinh tế và xã hội liên quan ra sao với dân chủ?
59. Trong trường hợp nào một chính quyền dân chủ được phép giới hạn nhân quyền?
60. Trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nào thì được phép đình chỉ nhân quyền?
61. Một người có thể bị từ chối tư cách công dân trong một chế độ dân chủ không?
62. Quyền của các cộng đồng thiểu số có được bảo đảm không?
63. Về mặt thực tiễn, nhân quyền được bảo vệ bằng cách nào?

V. Xã hội dân chủ hoặc xã hội công dân
64. Xã hội công dân là gì ?
65. Hoạt động của các hiệp hội công dân có gây trở ngại cho dân chủ không?
66. Hoạt động của các tổ chức kinh tế có cần tuân theo các nguyên tắc dân chủ không?
67. Tài sản tư nhân có cần thiết cho dân chủ không?

Nguyên Tắc Dân Chủ
(1/4)

I. Tổng Quát

1. Dân chủ là gì?

Trong đời sống, mỗi chúng ta đều thuộc về một nhóm hay một tập thể, kể đi từ gia đình đến quốc gia và dân tộc, từ phường khóm đến câu lạc bộ hay xí nghiệp. Trong những tập thể dù lớn hay nhỏ này, có những việc phải quyết định liên quan đến toàn thể, ví dụ như quyết định về mục tiêu, về nội quy hay về sự phân chia trách nhiệm và quyền lợi giữa những thành viên. Những quyết định này được xem là của tập thể để phân biệt với những quyết định cá nhân, chỉ liên quan đến riêng cá nhân ấy mà thôi.

Dân chủ là một thuộc tính của diễn trình lấy quyết định tập thể. Dân chủ là hiện thân của lý tưởng, theo đó, những quyết định liên quan đến tập thể phải được thông qua tất cả các thành viên của tập thể đó, mỗi thành viên đều có quyền được tham gia như nhau vào diễn trình lấy quyết định. Nói một cách khác, dân chủ đòi hỏi phải tôn trọng hai nguyên tắc được xem là căn bản như nhau sau đây: một là sự kiểm soát của quần chúng trên diễn trình lấy quyết định tập thể và hai là mỗi người đều có quyền ngang nhau khi thi hành việc kiểm soát đó. Một tập thể được gọi là dân chủ nếu mọi vấn đề liên quan đến tập thể đó đều được quyết định dựa trên hai nguyên tắc vừa nêu.

Một định nghĩa như vậy về dân chủ sẽ dẫn đến hai hệ quả. Thứ nhất, dân chủ sẽ không chỉ là thuộc tính của quốc gia hay của cơ quan quyền lực như người ta thường nghĩ, mặc dù trong thực tế, dân chủ trên bình diện quốc gia liên quan chặt chẽ với dân chủ biểu hiện trong các cơ cấu khác của xã hội. Nếu xem quốc gia như một hiệp hội với tầm hoạt động rộng lớn nhất, bao gồm quyền điều phối các công việc của toàn xã hội và khả năng tăng thuế, thì quả dân chủ ở bình diện quốc gia mang một tầm quan trọng đặc biệt. Do đó chúng ta sẽ lưu tâm xem xét kỹ đến những vấn đề dân chủ của những chính quyền.

Hệ quả thứ hai là dân chủ không thể được đo lường đơn giản theo cách hoặc có hoặc không và cũng không thể áp dụng loại tiêu chuẩn này để xét đoán xem một tập thể, bất kỳ loại nào, có hoàn toàn dân chủ hay không. Ðúng ra đây là vấn đề mức độ. Một mặt dân chủ phụ thuộc vào việc áp dụng các nguyên tắc về sự kiểm soát của dân chúng và về quyền bình đẳng chính trị, mặt khác dân chủ còn tùy thuộc vào mức độ thực hiện lý tưởng bình đẳng tham gia vào diễn trình lấy quyết định. Thông thường chúng ta đánh giá một quốc gia là có dân chủ nếu những nhà lãnh đạo quốc gia đó biết đặt hành động của họ dưới sự chấp thuận của dân chúng thông qua những cuộc bầu cử tự do để dân chúng chọn lựa người cầm quyền giữa các ứng cử viên khác nhau.

Như vậy phẩm chất dân chủ của một quốc gia được đánh giá qua việc các công dân trưởng thành của quốc gia đó có quyền bầu cử và ứng cử như nhau và việc các quyền công dân và chính trị được bảo vệ bởi luật pháp. Thực ra ngay cả tại các quốc gia thuộc dạng vừa kể, hai nguyên tắc về sự kiểm soát của quần chúng và về sự bình đẳng chính trị cũng chưa được tôn trọng tuyệt đối. Nhìn như vậy, tiến trình dân chủ hóa sẽ không bao giờ được hoàn tất; vì lẽ đó mà những con người dân chủ trên toàn thế giới, bất kể họ sống trong chếđộ hoặc thể chế chính trị nào, vẫn tiếp tục tranhđấuđể củng cố và phát huy việc áp dụng các nguyên tắc dân chủ.

2. Tại sao phải gắn bó với dân chủ ?

Sự gắn bó chínhđáng với dân chủ có thểđược biện minh bằng nhiều lý do, sauđây là 5 lý do quan trọng nhất.

(a) Mục đích của dân chủ là đem lại cho mọi cá nhân một sự đối xử như nhau. Nhà Hiến pháp học Jeremy Bentham viết rằng: "mỗi người chỉ được tính là một và không ai được tính hơn một" để phản bác lại lập luận của một số quý tộc cho rằng mạng sống của một số cá nhân nào đó quan trọng hơn của những người dân khác. Nguyên tắc bình đẳng này không chỉ nói lên rằng các chính sách chung phải nhằm bảo vệ quyền lợi của tất cả mọi người một cách như nhau mà còn cho thấy những quan điểm cá nhân cũng phải được tôn trọng như nhau, không có phân biệt giữa người này kẻ khác..

Trong một vở tuồng của Euripide, một công dân thành Athènes đã tuyên bố rằng: "chúng ta không chấp nhận trao quyền lực đặc biệt cho sự giàu có; tiếng nói của người nghèo cũng không ít quan trọng hơn của người khác". Những người chống dân chủ luôn cho rằng đám đông quá thiếu kiến thức, thiếu học và thiển cận để có thể tham gia dưới một hình thức nào đó vào việc xây dựng chính sách. Do đó người dân chủ phải trả lời rằng nếu quả thực là quần chúng cần thông tin và cần thời giờ để hiểu nó, thì họ sẽ đủ khả năng để hành động một cách có trách nhiệm một khi tình thế đòi hỏi. Tất cả mọi người trưởng thành phải được xem như có trách nhiệm về lối sống của họ cũng như có khả năng tham gia vào những quyếtđịnh liên quanđếnđời sống xã hội của họ.

(b) Một chính quyền thuộc loại dân chủ dễ thỏa mãn nhu cầu của những dân thường hơn bất cứ loại chính quyền nào khác. Càng kéo nhiều người cùng tham gia vào việc định chính sách, chính sách càng dễ phản ánh những bận tâm và khát vọng của họ. Một ngạn ngữ cổ của Hy Lạp đã chẳng cho rằng "nếu người thợ làm ra đôi giày thì chỉ kẻ mang nó mới biết có vừa không". Trong thực tế chính người dân thường là kẻ phải gánh chịu hậu quả của chính sách. Người làm chính sách chỉ rút được kinh nghiệm khi quần chúng được trang bị những phương tiện tốt và hữu hiệu để có thể gây những ảnh hưởng và áp lực cần thiết. Nếu dân chúng không có cách gì để tạo ảnh hưởng hoặc kiểm soát những người có chức quyền, cho dù họ có ý tốt, thì những chính sách của họ, nếu khá, cũng không thể thích ứng được với nhu cầu của dân chúng, còn nếu xấu thì những chính sách này sẽ chỉ là conđẻ của tham nhũng hoặc chỉđể phục vụ quyền lợi cá nhân.

(c) Dân chủ dựa trên sự tranh luận, sự thuyết phục và sự thỏa thuận. Khi tranh luận trong chế độ dân chủ, điều quan trọng không chỉ là sự có mặt của những quan niệm hoặc quyền lợi khác nhau đại diện cho phần đông những khuynh hướng lớn mà còn là sự tôn trọng quyền được phát biểu một quan điểm khác biệt và quyền được lắng nghe. Như vậy dân chủ chấp nhận sự đa dạng và đa nguyên trong xã hội cũng như sự bình đẳng giữa các công dân. Gặp sự biểu hiện đa dạng này, những khác biệt quan điểm phải được giải quyết bằng sự tranh luận, sự thuyết phục và sự thỏa thuận chứ không phải bằng sự cướng bức hoặc bằng sự xác định quyền lực một cách đơn thuần. Người ta thường diễu các chế độ dân chủ đại diện như những bộ máy chuyên nói ba láp. Ðáng lý ra khả năng tổ chức tranh luận công khai của những chế độ này cần phải đáng được khen hơn là bị chê bởi tranh luận là phương tiện tốt nhấtđể tìmđồng thuận cho các chính sách và tranh luận không nhất thiết cản trở việc hoạtđộng hiệu quả.

(d) Dân chủ bảo đảm việc tôn trọng các quyền tự do căn bản. Không thể có tự do tranh luận -một phương tiện để bày tỏ và giải quyết những khác biệt trong xã hội- nếu những quyền tự do đó không được bảo vệ bởi những quy định về quyền công dân và quyền chính trị như: quyền tự do phát biểu, tự do lập hội, tự do đi lại và quyền được an toàn. Người ta có thể tin rằng chế độ dân chủ sẽ bảo vệ những quyền này bởi thiếu chúng cỗ máy dân chủ không thể hoạt động được. Nếu thực hiện một cách lý tưởng những quyền căn bản này, cá nhân sẽ phát triển và những quyết định tập thể sẽ dễ đạtđược hơn khi bịđem rađối chất với nhiều lý luận và chứng cứ khác.

(e) Dân chủ sẽ đem lại sự đổi mới xã hội. Bằng cách cho phép loại bỏ những chính sách hoặc những người lãnh đạo bị thất bại hay đã hết hữu hiệu theo một tiến trình nề nếp và ôn hòa, những chế độ dân chủ sẽ có khả năng bảo đảm sự đổi mới của xã hội và sự tiếp nối giữa các thế hệ mà không tạo rađảo lộnđáng kể nào hoặc làm rối loạn sinh hoạt quốc gia như thường xảy ra mỗi khi những người cầm quyền trong những chếđộ phi dân chủ bị gạt bỏ.

3. Nguồn gốc của ý tưởng dân chủ

Trong suốt lịch sử loài người, quan niệm cho rằng người dân phải có quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến số phận của họ đã trở thành một khát vọng của nhiều xã hội. Chính tại Athènes vào thế kỷ thứ V và VI trước Thiên Chúa mà nguyên tắc này được nâng lên thành cơ chế. Khi quy định về việc các ứng cử viên vào các chức vụ công cộng phải là sở hữu chủ được bãi bỏ vào hồi đầu thế kỷ thứ V, tất cả mọi công dân của Cộng hòa Athènes đã được trực tiếp tham gia các cuộc luận bàn hoặc các cuộc bỏ phiếu tại Nghị viện; Nghị viện này có nhiệm vụ định ra luật lệ và chính sách của tập thể. Ngoài ra mỗi người đều có thể tham gia vào việc điều hành đô thị (chú thích:: Athènes khi ấy là quốc gia đô thị) tỷ dụ như tham gia bồi thẩm đoàn hoặc hội đồng đô thị; thành viên của những cơ chế này được bầu lại định kỳ bằng cách bốc thăm.

Từ đó đến nay, sự điều hành của nền dân chủ đầu tiên này luôn được tham chiếu và được xem là kiểu mẫu cho tất cả các nền dân chủ. Sự kiện một chính quyền dân chủ được xây dựng lên trong một giai đoạn mà Athènes xác định được ưu thế về kinh tế và hàng hải và trải qua một thời kỳ mà sự sáng tạo trong nghệ thuật và sự tư biện trong triết học nở rộ một cách phi thường đủ đánh đổ quan niệm của những người chống dân chủ, cho rằng việcđể cho thường dân tham gia vào việc quản lý việc công sẽ dẫnđến hoặc một xã hội hoàn toànđồng nhất hoặc một loại chính quyền vô trách nhiệm.

Nền dân chủ tại Athènes thực ra vừa có mặt hơn vừa có mặt kém dân chủ hơn những chế độ dân chủ mà chúng ta biết đến ngày nay. Nó dân chủ hơn ở chỗ các công dân được phép can thiệp trực tiếp vào các quyết định chính liên quan đến xã hội mà họ đang sống (phù hợp với nguyên tắc dân chủ trực tiếp) trong khi các chế độ dân chủ hiện nay đều dựa trên nguyên tắc đại diện gián tiếp, mà trong trường hợp tốt nhất, cũng chỉ cho phép một sự tham gia bậc hai vào diễn trình quyết định của chính quyền và quốc hội. Nhưng một chế độ dân chủ trực tiếp lại chỉ thực hiện được khi số lượng công dân còn tương đối nhỏ để có thể tụ họp lại tại một chỗ họp vừa đủ rộng, ngoài ra những công dân này lại phải có đủ thời giờ rảnh để tham gia một cách có ý thức vào việc bàn chọn chính sách. Ngày nay, chỉ xét về mặt dân số không thôi, bất kể dân số đó là bao nhiêu, chúng ta cũng thấy không điều nào trong hai đòi hỏi ở trên có thể thỏa mãn được. Tuy nhiên điều này không cấm ta tạo điều kiện để các công dân tham gia trực tiếp vào các quyết định ở bình diện quốc gia, tỷ dụ như qua bầu cử hoặc trưng cầu dân ý hay tạo cho họ cóđiều kiện tham gia liên tục vào các quyếtđịnh tạiđịa phương.

Ngược lại nền dân chủ tại Athènes kém dân chủ hơn các chế độ dân chủ ngày nay ở chỗ chỉ có những người "đàn ông tự do" mới được xem là công dân. Ðàn bà, nô lệ và ngoại kiều sống trong đô thị thời đó không có quyền công dân; họ phải làm việc nhà và sản xuất để các "ông công dân" có thể tham gia hoạt động chính trị. Ở đây rõ ràng người dân có được tham gia cai trị nhưng quyền tham gia này lại chỉ xuất phát từ hoàn cảnh tương đối ưu đãi của họ.

Cần nhắc lại rằng trong đa số các chế độ đại nghị Tây phương trước đây, quyền công dân cũng đã bị gắn liền với những hạn chế tương tự và chỉ đến đầu thế kỷ xx các hạn chế này mới bị hủy bỏ. Nguyên tắc "mọi quyền lực chính trị thuộc về nhân dân" dù đã được cuộc Cách mạng Pháp (1789) phổ biến nhưng đã không được áp dụng cho mọi người. Người đàn bà và những người vô sản đã phải chờ đến thế kỷ xx mới được công nhận quyền đi bỏ phiếu. Ngay cả ngày nay không phải ai cư trú tại một quốc gia, khi đến tuổi đi bầu cũng được phép tham gia các cuộc bầu cử, không cần biết rằng họđóng góp như thế nào cho nền kinh tế quốc dân tại đó (thí dụ: các ngoại kiều).

4. Chế độ đại nghị có thực sự dân chủ không?

Jean Jacques Rousseau, một triết gia Pháp ở thế kỷ XVIII, cho rằng chế độ đại nghị không thực sự dân chủ. Ông cho rằng trong chế độ đại nghị, dân chúng thực sự chỉ được tự do vào lúc bầu cử. Qua kỳ bầu cử, dân chúng lại trở về tình trạng bị phụ thuộc những người cai trị, không khác chi nô lệ. Thực ra đây chỉ là một dạng quá khích của luận đề cổ điển của những nhà phê bình cực tả cho rằng các chế độ đại nghị thực ra không dân chủ. Luận đề này ngược với luận đề của phe hữu cho rằng những chếđộđại nghịđã dành một vai trò quá lớn cho dân chúng.

Ðể trả lời những nhà phê bình này, chúng ta có thể nói rằng, cho đến ngày hôm nay, khi mà số những công dân tăng lên hàng triệu và thời giờ không còn cho phép họ thường xuyên tham gia công việc chính trị nữa thì chế độ đại nghị là chế độ tốt nhất được dựng lên để bảo đảm sự kiểm soát của dân chúng đối với người lãnh đạo. Trên lý thuyết, người dân thi hành sự kiểm soát của họ qua việc bầu lên một người lãnh đạo (tổng thống hay thủ tướng) và qua việc chọn lựa những dân biểu của quốc hội lập pháp, là những người được quyền thay mặt dân để thường xuyên kiểm soát chính phủ. Quốc hội này có những đặc quyền, chẳng hạn như chấp nhận hay bác bỏ một đạo luật hay chấp thuận chính sách thuế khóa. Song le sự kiểm soát của dân chúng có thực hay không là do các cuộc bầu cử có thực sự "tự do và công bằng" hay không, là do các hoạt động của bộ máy hành pháp có minh bạch hay không và do các quyền hạn trao cho quốc hội để tìm hiểu và kiểm soát các hoạt động của hành pháp có hữu hiệu hay không.

Trong một chế độ đại nghị, nếu bầu cử được xem là phương cách chính để dân chúng tham gia vào các hoạt động hành pháp, thì đó không phải là phương cách duy nhất. Người dân có thể kết hợp thành đoàn thể để đòi hỏi sửa đổi về một vấn đề luật pháp nào đó hoặc để chống lại sự sửa đổi đó; Họ có thể tham gia vào một chính đảng để tạo áp lực trực tiếp lên các dân biểu. Ngược lại các chính quyền cũng sẽ phải tham khảo ý kiến của những người sẽ chịu hậu quả của các quyết định của họ, cho dù chỉ là tham khảo những thành phần tiêu biểu qua một cuộc tham dò dư luận. Trên thực tế hiếm có chính quyền trong một chế độ đại nghị nào có thể gác bỏ ngoài tai dư luận quần chúng được phản ánh thông qua những cuộc thăm dò dư luận, qua báo chí, truyền thanh và truyền hình. Tuy nhiên sự hữu hiệu của những trạm tiếp vận ảnh hưởng của quần chúng này rút cuộc lại phụ thuộc vào sự tiến hành tốt diễn trình bầu cử, bởi vì thực ra, các chính quyền chỉ chú ý một cách đúng đắn đến ý kiến của dân chúng nếu sự thờ ơ trước dư luận sẽ dẫn họ đến chỗ mất quyền.

Tóm lại sự kiểm soát của dân chúng, thứ nhất được thi hành thông qua các cuộc bầu cử, khi mà họ có thể cân nhắc về phương cách điều hành quốc gia và chọn lựa những người sẽ nhận trách nhiệm chính trị; thứ nhì thông qua sự kiểm soát chính phủ thường xuyên của quốc hội, và cuối cùng là qua trung gian của các kênh diễnđạt dư luận quần chúngđược chính phủ lưu ýđến.

Xét về nguyên tắc thứ hai của dân chủ về sự bình đẳng chính trị, chế độ đại nghị quả thiếu bình đẳng khi cho phép một thiểu số có quyền thay mặt đám đông để quyết định về chính trị. Ðể khắc phục những hạn chế này và để thỏa đáp tiêu chuẩn bình đẳng chính trị, chúng ta cần tạo điều kiện sao cho mỗi công dân lúc nào cũng có thể làm được ba việc sau đây: mưu tìm một trách vụ dân cử, công bố lập trường của mình về các vấn đề quốc gia và được đền bù trong trường hợp gặp sai phạm của những người có chức quyền hành chánh. Nhưng điều cần thiết vẫn là hệ thống bầu cử phải dành cho mỗi cuộc bầu cử một giá trị như nhau. Trên thực tế đa số các chế độ đại nghị đã không giữ đúng được các nguyên tắc này. Ðặc biệt nguyên tắc bình đẳng chính trị đã bị vi phạm trầm trọng bởi những bất bình đẳng tồn tại trong xã hội. Thí dụ, về mặt vật chất, các nhóm xã hội đã rất khác biệt nhau về phương tiện tài chính, về khả năng xoay sở và về quan hệ.

Do đó trong các nước theo chế độđại nghị, phận sự của những con người dân chủ là phải tìm ra những giải phápđể hạn chế ảnh hưởng về mặt chính trị tạo nên bởi những bất bìnhđẳng xã hội và phải làm gia tăng sự hữu hiệu của những cơ chế giúp người dân kiểm soát chính phủ.


5. Vai trò của chínhđảng trong chếđộ dân chủ

Những cá nhân trong một xã hội chỉ có thể ảnh hưởng hạn chế vào việc điều hành quốc gia nếu họ không biết kết hợp thành hội đoàn. Ðảng phái chính trị là tập hợp của những người có cùng chính kiến và quyền lợi trong việc phổ biến quan điểm, trong việc giành những trách vụ chính trị và trong khả năng ảnh hưởng vào công việc quốc gia. Các chính đảng đóng nhiều vai trò. Nhìn dưới khía cạnh bầu cử, các chính đảng góp phần đơn giản hóa sự chọn lựa bằng cách cống hiến cho cử tri một số quan điểm chính trị và những nét tổng quát của chương trình hành động để họ dễ quyết định. Nhìn dưới khía cạnh chính quyền, các chính đảng là hậu thuẫn tương đối ổn vững để cho chính quyền có thể thực hiện tốt các chương trình đã được đưa ra hứa hẹn lúc tranh cử. Ngoài ra chính đảng còn giúp cho những cá nhân hoạt động chính trị tích cực nhất có thể can thiệp vào việc nước, được học tập chính trị và có ảnh hưởng vào việc điều hành quốc gia.

Trong những chế độ có bầu cử tự do và công bằng, sự thành công của chính đảng phụ thuộc rất nhiều vào sự ủng hộ của số cử tri mà họ đã giành và giữ được. Do đó họ phải luôn luôn lưu tâm đến ý kiến của cơ sở khi lập chương trình hành động cũng như khi chọn các ứng cử viên vào những trách vụ dân cử, nếu không họ sẽ bị thua các đảng khác hoặc sẽ khiến có thêm những chính đảng mới được thành lập để đáp ứng khoảng trống chính trị do họ tạo nên. Cho nên chính đảng là một cơ chế quan trọng khiến chính quyền phải lắng nghe đúng mức những bận tâm của dân chúng. Song le các chính đảng chỉ có thể làm tròn nhiệm vụ này nếu việc tranh cử được bảo đảm công bằng tuyệt đối, nghĩa là không để xảy ra việc có một số các chính đảng có quyền sử dụng những phương tiện công cộng hoặc những phương tiện truyền thông đại chúng trong khi những đảng khác lại không được phép. Ðặc biệt điều này cũng bao hàm rằng ngay chính đảng cầm quyền cũng cần ý thức phân biệt rõ ràng phạm vi hoạt động của chính quyền với phạm vi hoạt động của đảng cũng như tìm ra hình thức tổ chức thích ứng cho từng loại hoạt động.

Nếu việc cạnh tranh công khai của các chính đảng trong khuôn khổ bầu cử là một trong những đặc trưng không thể thiếu được của những chế độ dân chủ đại nghị thì đó cũng chính là chỗ nhược của thể chế này. Việc cạnh tranh công khai giữa các chính đảng cùng mưu đồ lèo lái quốc gia là một yếu tố phân chia về mặt xã hội và chính trị. Cái giá mà những người tham dự vào cuộc cạnh tranh này phải trả thường rất cao. Do đó nhất thiết -và đây chính là một trong những yếu tố sống còn của dân chủ- ta phải làm sao để cái giá mà những chính đảng và những ủng hộ viên của họ phải trả một khi họ bị loại khỏi quyền lực là một cái giá mà họ có thể chịu đựng được. Ðặc biệt họ không được phép nghi ngờ về khả năng có thể thắng lại của họ trong một cuộc bầu cử sau cũng như về tính dài lâu của những quyền phápđịnh,để cho dù hiện thất cử, họ vẫn có thể tụ tập thành viên, công bố quanđiểm và chỉ trích chính quyền.

6. Vai trò quan trọng của truyền thông trong một chếđộ dân chủ

Chính quyền của bất kỳ thể chế chính trị nào cũng muốn dân chúng ủng hộ hoặc tán thành các chính sách của họ. Nếu xem trọng dân chúng thì người ta phải tìm cách tiếp cận với họ qua trung gian của các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền thanh và truyền hình. Từ đó truyền thông có một vai trò chính trị quan trọng trong xã hội cận đại. Trong chế độ dân chủ, truyền thông không thể bị xem đơn giản như bộ phận tuyên truyền của chính phủ. Truyền thông còn có những nhiệm vụ quan trọng khác, đó là: rà xoát hoạt động của chính quyền, thông tin cho quần chúng, tạo tranh luận công khai, làm cho chính quyền phải chú ý đến dư luận và tạo áp lực lên chính quyền.

Nhiệm vụ điều tra và thông tin của truyền thông rất cần thiết để chống lại cái "tật" muốn giữ bí mật muôn thủa của các chính quyền và để cân bằng lại sức mạnh áp chế của guồng máy chính quyền trong lãnh vực giao tế công cộng. Một chính quyền buộc phải có trách nhiệm vỡi dư luận nếu dư luận có được thông tin về các hoạt động của họ cũng như có phương tiện độc lập để đánh giá về sự đúng đắn của những lời tuyên bố về chính sách của họ. Nếu một mặt truyền thông phải cẩn thận để khỏi soi mói vào đời tư người khác thì mặt khác nó cũng có nhiệm vụ truyền đạt thông tin và nói lên phần nào mối quan tâm của quần chúng, một quần chúng có quyền được tìm hiểu. Không làm được việc này truyền thông sẽ không thể chu toàn trọng trách của "người canh gác quyền lợi công cộng". Ngoài vai trò cung cấp thông tin độc lập, truyền thông còn phải tạo diễn đàn tranh luận bằng cách mời các bộ trưởng và nhân sĩ trả lời -một cách dễ hiểu- những câu hỏi được đặt ra cho họ và tạo điều kiện để người dân bình thường cũng có thể tham gia cuộc tranh luận này. Truyền thông cũng phải làm sao để chính quyền lắng nghe dư luận. Ðóng một lúc nhiều vai trò khác nhau như vậy mà tầm hoạt động lại rộng đến toàn thể dân chúng nên truyền thông sẽ bổ xung và củng cố cho hoạt động theo dõi và thảo luận của quốc hội.

Song le trong một thể chế dân chủ, truyền thông chỉ có thể hoàn thành những nhiệm vụ quan yếu này nếu nó thực sự độc lập và không phụ thuộc cả chính quyền lẫn những thế lực quyền lợi tư nhân. Ðể giỡi hạn ảnh hưởng của chính quyền người ta có thể ủy thác việc kiểm soát những phương tiện truyền thông do công quỹ tài trợ cho một ủy ban độc lập hoặc một ủy ban gồm đại diện những hiệp hội công dân và tạo sự cạnh tranh với những phương tiện truyền thông tư nhân. Ðể ngăn chặn những nhóm tài phiệt tư nhân thao túng lãnh vực truyền thông người ta có thể đặt ra định mức tập trung sở hữu hoặc dùng các phương cách điều hòa thích ứng khác. Tuy nhiên không một biện pháp nào có thể bảo đảm được rằng truyền thông sẽ chu toàn trách nhiệm dân chủ của họ một cách vô tư và hữu hiệu như mongđợi. Cuối cùng chúng ta cũng chỉ trông chờ nơi sựđộc lập và tính chuyên nghiệp của các nhà báo, các chủ bút và các nhà sản xuất trong lãnh vực thính thị cũng như mong quần chúng luôn ý thức rằng truyền thông sẽ góp phần tích cực vào sự hoạtđộng của một nền dân chủ.

7. Tại sao các chế độ dân chủ đại nghị có thể được xem là tự do?

Lý do thứ nhất xuất phát từ lịch sử: đại đa số các quốc gia tây phương đã được tự do trước khi trở thành dân chủ. Tại các quốc gia đó một chế độ tự do hiến định đã được thiết lập trước khi phổ thông đầu phiếu được chấp nhận và các chính đảng đại chúng được thành lập.

Chế độ đó có những đặc điểm như sau:

a) đặt sự hoạt động của chính quyền hoặc của bộ máy hành pháp vào khuôn khổ của luật pháp được chuẩn y bởi một quốc hội do dân bầu ("thượng tôn pháp luật");

b) công nhận những quyền cá nhân về tố tụng (quyền được xét xử công bình), về tự do ngôn luận, tự do tụ tập và tự do đi lại;

c) thiết lập một bộ máy tư pháp độc lập vỡi hành pháp và lập pháp để thể hiện đúng vai trò canh giữ luật pháp và quyền cá nhân. Trong lịch sử, những chế độ dân chủ cho áp dụng phổ thông đầu phiếu và để các chính đảng đại chúng phát triển trước khi củng cố các thành tố tự do vừa nêu đều đã không giữ được ổn định.

Việc này đưa chúng ta đến lý do thứ hai, thuộc lãnh vực thực tiễn, để hiểu tại sao một chế độ tự do hiến định phải đi đôi với dân chủ. Trong một quốc gia tân tiến chính quyền thường nắm những quyền hành rất lớn. Nếu một chính quyền -dù được lòng dân- không chấp nhận sự chi phối của luật pháp như bất cứ một công dân bình thường nào khác, hoặc không bị bắt buộc phải xin quốc hội chuẩn y những đạo luật theo những thủ tục được định sẵn, hay không chịu tôn trọng các quyền tự do của công dân (cho dù việc thực thi các quyền tự do đó đôi khi gây ra khá nhiều phiền toái), thì trước sau gì chính quyền đó cũng sẽ vuột khỏi sự kiểm soát của dân chúng.

Dân chủ không phải là một thể chế chuyên tìm cách thỏa mãn ngay tức thời hoặc càng nhanh càng tốt tất cả những đòi hỏi của người dân mà là một thể chế nhằm bảo đảm cho người dân có những phương tiện để thực thi một cách lâu dài ảnh hưởng và sự kiểm soát của họ lên chính quyền. Trong số những phương tiện này chúng ta cần nhấn mạnh đến những thành tố quan trọng của một chế độ hiến định: sự thượng tôn pháp luật, sự phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp và sự tôn trọng các quyền và các tự do cá nhân.

Những đặc trưng và những thành tố của thể chế dân chủ đó chỉ có thể được bảo vệ một cách hữu hiệu nhất bằng một hiến pháp thành văn được phổ biến đến tất cả mọi người, trong đó định nghĩa rõ ràng các nghĩa vụ và quyền hạn của cá nhân cũng như của các cơ quan nhà nước. Qui chế đặc biệt của hiến pháp được xác định bởi hai sự việc. Thứ nhất, những người nhận trách nhiệm công vụ phải tuyên thệ trung thành với hiến pháp và không được phép diễn giải hiến pháp theo cách nhìn phe phái hoặc cục bộ của họ. Thứ hai, việc thay đổi hiến pháp đòi hỏi phải qua những thủ tục đặc biệt, tỷ dụ như qua một cuộc bỏ thăm với đa số tuyệt đối hoặc một cuộc trưng cầu dân ý. Về thực hành, sự bất khả xâm phạm của hiến pháp thành văn chỉ có thể được bảo đảm dưới hai điều kiện: có ngành tư pháp độc lập được chỉ định ra để thực thi sự tôn trọng hiến pháp và ngành tư pháp này phải có đủ quyền hành để hoàn thành trách nhiệmđó; vàđồng thời quần chúng nhân dân phải luôn sẵn sàngđể giám sát sự tôn trọng hiến pháp.

8. Có thể có những hình thức dân chủ nào khác với chế độ dân chủ tự do không?

Trong thế kỷ 20 này người ta đã chứng kiến một số những thử nghiệm nhằm xây dựng một chế độ dân chủ trên bình diện quốc gia, thường dưỡi hình thức một chế độ độc đảng -phổ biến nhất là chế độ cộng sản-, mà không lưu tâm gì đến di sản tự do. Trong loại chế độ này, để biện minh cho sự "độc đảng" người ta thường nêu lên sự cần thiết phải bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân, phải tập trung sức mạnh của xã hội cho một chương trình phát triển kinh tế, và phải loại bỏ ảnh hưởng của sở hữu tư nhân cũng như của quyền lợi cá thể trong hoạt động chính trị. Ðảng cầm quyền được xem như là tiếng nói của nhân dân và là công cụ cho phép những người lãnh đạo huy động dân chúng cho những mục tiêu của chính quyền.

Ngày nay, nếu còn lịch sự, thì người ta chỉ có thể công nhận một sự năng động dân chủ nhất định thấy xuất hiện tại cơ sở của loại chế độ này. Ngược lại sự thiếu vắng của các quyền tự do ngôn luận và lập hội đã ngăn chặn sự hình thành quan điểm và sự thành lập những tổ chức nằm ngoài hệ thống của đảng. Kết quả là ảnh hưởng của dân chúng vào việc hình thành chính sách đã bị giới hạn nghiêm trọng và tinh thần trách nhiệm của những người cầm quyền đối với dân chúng cũng teo tóp đi. Cho dù có tự cho là đã gặt hái được những thành quả kinh tế đáng kể, những chế độ cộng sản đã tiêu biểu cho sự độc đoán chuyên quyền, cho việc phải dựa vào một chính sách đàn áp tỏa rộng và cho sự khinh thường pháp luật, đến nỗi chế độ cộng sản đã chỉ có thể giữ vững được nhờ một hệ thống công an tổ chức chặt chẽ.

Những thử nghiệm tại Phi Châu nhằm thiết lập những chế độ dân chủ độc đảng không cộng sản cũng dẫn đến những hậu quả tương tự, cho dù ý định ban đầu là tốt. Ở Phi Châu người ta mong rằng việc tập trung vào một đảng duy nhất sẽ tránh được những bất đồng do tranh chấp giữa những phe phái tạo nên, đặc biệt trong một khung cảnh xã hội có nhiều chia rẽ sắc tộc và một đảng duy nhất sẽ phản ánh được truyền thống xem trọng sự đồng thuận (cho dù khái niệm đồng thuận hoàn toàn không ăn nhập gì với khái niệm "đối lập trung thành"). Các chế độ này đã cho phép cử tri chọn lựa giữa những ứng cử viên, cho phép họ loại bỏ một vài bộ trưởng bị mất lòng dân vỡi điều kiện là các "đối thủ" cũng phải là người của đảng và phải tuân theo đường lối của đảng. Ở đây lại một lần nữa, việc dân chúng không thể tập hợp được một cách độc lập bên ngoài đảng cầm quyền và việc họ không thể đưa ra được những ứng cử viên đối lập chống lại đảng trong các cuộc đầu phiếu đã đủ để tố cáo một chế độ độc đoán chuyên quyền và một sự coi thường ý kiến nhân dân ngày càng trầm trọng của những chính quyền và những người lãnh đạo. Bên cạnh đó, sự thiếu vắng của sự phân quyền thực sự đã khiến cho các nguyên tắc về thượng tôn pháp luật và về trách nhiệm của chính quyền trước các dân biểu quốc hội đại diện cho dân chúng không được tôn trọng, và từ đó không bảo đảm được sự tôn trọng các quyền tự do của người dân.

Qua những tiền lệ lịch sử này người có thể kết luận rằng những thử nghiệm nhằm thiết lập một chế độ dân chủ mà không dựa trên nền tảng tự do đều thất bại. Cho dù quyền tự do lập hội và phương cách bầu cử tự do và đa nguyên có đem lại bao nhiêu phiền toái đi nữa thì chúng ta cũng phải nhận rằng đây là hai công cụ rất cần thiết để bảo đảm cho ảnh hưởng và sự kiểm soát của dân chúng đối vỡi chính phủ được vĩnh cửu, để bảo đảm các nguyên tắc thượng tôn pháp luật và phân quyền, là những nguyên tắc bắt buộc chính quyền phải tuân theo một số thủ tục cần thiết để chấp nhận sự ảnh hưởng và sự kiểm soát của dân chúng. Chế độ dân chủ tự do chắc chắn còn đủ rộng chỗ cho những thử nghiệm và thích ứng vào những điều kiện địa phương. Người ta sẽ lầm khi cho rằng có thể áp dụng mà không sợ lầm những hình thức dân chủ đã được xây dựng thành công trong những hoàn cảnh nhất định nàođó hoặc trong những xã hội có truyền thống dân chủ lâuđời.

9. Dân chủ có đòi phải có kinh tế thị trường không?

Câu hỏi phức tạp này không thể chỉ được trả lời một cách đơn giản là có hay không. Một mặt người ta có thể cho rằng hệ thống sản xuất và phân phối dựa trên nguyên tắc trao đổi tự do sẽ tạo nhiều thuận lợi cho dân chủ. Cũng giống như dân chủ, thị trường xem cá nhân tự do (không chịu sự điều khiển của ai) là người có thể phán đoán về quyền lợi của mình một cách tốt nhất và phải chịu trách nhiệm về chọn lựa của mình. Thị trường và dân chủ có nhiều điểm tương đồng. Người tiêu thụ là vua trên thị trường giống như cử tri được xem là vua trong thể chế dân chủ.

Tương tự, việc các xí nghiệp phụ thuộc vào sự ủng hộ của khách hàng cũng được so sánh như việc các chính đảng lệ thuộc vào tỷ lệ đầu phiếu. Ngoài ra thị trường còn kiềm chế các thế lực trong xã hội bằng cách phân tán quyền quyết định về kinh tế và trải rộng khả năng sinh hoạt, thông tin và phương tiện ra trong xã hội dân sự. Thị trường giúp cho dân chúng khỏi phụ thuộc nhà nước về mặt kinh tế và trong việc tài trợ các hoạt động chính trị và văn hóa độc lập của họ. Về các phương diện này thì thị trường có thể được xem như hỗ trợ cho dân chủ.

Mặt khác, nếu để thị trường phát triển tự nhiên thì nó sẽ tạo nên những thăng trầm đột biến trong hoạt động sản xuất, khiến cho nền kinh tế gặp khó khăn và xáo trộn rất lớn. Những thay đổi này khiến quốc gia phải chịu hậu quả của sự dao động về giá cả và về mặt giao thương trên bình diện quốc tế, từ đó làm cho quốc gia mất chủ động về kinh tế. Về mặt đối nội, thị trường làm tăng thêm sự bất bình đẳng trong việc đóng góp về khả năng và phương tiện giữa những thành viên kinh tế và tạo bất bình đẳng chính trị trong một thể chế dân chủ. Ngoài ra thị trường xem lao động là một món hàng cũng chịu sự chi phối bởi luật cung cầu như mọi món hàng khác, khiến khi không cần đến nó nữa thì người ta có thể loại bỏ nó mà không để ý gì đến phẩm cách của người công dân.

Trong hoàn cảnh đó chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng chính các quốc gia tây phương đầu tiên bước vào thời đại công nghiệp đã cho rằng kinh tế thị trường không thích hợp với việc phổ thông đầu phiếu, điều mà họ đã ra công chống đối trong phần lỡn thế kỷ 19. Người ta cũng không ngạc nhiên khi thấy việc toan tính áp dụng một chính sách kinh tế thả lỏng đã dẫn đến việc dựng nên những chính quyền chuyên chế để kiềm hãm sự bất mãn của dân chúng. Kể từ sau đệ nhị thế chiến các chính quyền tây phương đã phối hợp dân chủ vỡi kinh tế thị trường bằng cách can thiệp vào thị trường và điều phối nó ở mức độ quan trọng, bằng cách bảo đảm việc tái phân phối các kết quả của hoạt động kinh tế và bằng cách dựng nên một hệ thống luật lệ xã hội để bảo vệ những người yếu kém nhất trong xã hội trước những thăng trầm của thị trường.

Người ta cần phải nhắc nhở nhau về tính cách hai mặt trong quan hệ giữa dân chủ và thị trường để khỏi bị quyến rũ bởi sự đơn giản của nền kinh tế thả lỏng. Ngược lại hệ thống kinh tế hoạch định tập trung trong các chế độ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải quản lý một bộ máy hành chánh vượt quá khả năng kiểm soát. Nó đã độc quyền sử dụng toàn bộ năng lực và sáng kiến của xã hội cho mục đích của một nhà nước và sinh ra những bất công chính trị lớn khi cho một số người đặc quyền đặc lợi. Ðây là những điều không thích hợp với thể chế dân chủ.

Còn về khả năng tồn tại trong kinh tế thị trường của một hệ thống xí nghiệp thuộc sở hữu tập thể được phân tán mỏng, cũng như về sự thích hợp của hệ thống này với một chế độ dân chủ đa đảng thì sao? Ðến hôm nay, hình thức xã hội chủ nghĩa dân chủ duy nhất còn tồn tại là hình thức dân-chủ-xã-hộiđược thành lập từ năm 1945 tại một số nước Bắc Âu và Tây Âu. Thực rađây là một sự cải biến hơn là một sự dứt khoát với chủ nghĩa tư bản.

10. Quyết định của đa số có phải lúc nào cũng dân chủ không?

Người ta thường lầm dân chủ với sự thực thi quyền lực của đa số. Nếu hiểu theo nghĩa đen thì dân chủ là sự thực thi quyền lực của người dân, và quyền lực này được thực thi bởi toàn thể dân chúng chứ không phải chỉ bởi một tập thể dân chúng bằng cách áp đặt ý muốn của họ lên một tập thể dân chúng khác. Nói cách khác, đặc trưng căn bản của dân chủ là công nhận cho mọi người quyền được bình đẳng tham gia vào quyết định chung, trong đó nguyên tắc đa số chỉ là một cái mẹo về thủ tục để giải quyết những bất đồng, sau khi mọi phương cách khác như tranh luận, bổ xung ý kiến và thỏa hiệp đã được tận dụng mà không mang lại kết quả.

Nhưng chúng ta có thể chắc chắn là khi đa số áp đặt ý muốn của họ thì sẽ có dân chủ hơn là khi để cho những thiểu số được quyền quyết định hoặc được phép ngăn cản ý muốn của một số đông hơn. Song khi đẩy thiểu số xuống tình trạng bị bất lực và khi cướp đi của họ mọi phương tiện tham gia quyết định chung, thì nguyên tắc đa số không còn có thể được xem là biểu hiện lý tưởng của dân chủ nữa mà chỉ là phương tiện thô bạo để đi đến quyết định.

Những người ủng hộ nguyên tắc đa số biện minh rằng thiểu số của hôm nay lúc nào cũng có thể hy vọng sẽ trở thành đa số của ngày mai và việc họ bị loại ra ngoài lề trong một quyết định hoặc trong một cuộc bầu cử nào đó sẽ được đền bù nếu sau này họ chiến thắng trở lại. Nói cách khác, phe thiểu số sẵn sàng chấp nhận luật chơi đa số dựa trên "nguyên tắc hỗ tương" nếu tin rằng một ngày kia khi họ trở thành đa số thì phe kia cũng phải chấp nhận luật chơi cũng như chính họ đã từng chấp nhận. Song le, nguyên tắc này sẽ mất tác dụng khi đa số quyết định làm cho thiểu số bị mất khả năng phổ biến quan điểm của mình hay dồn họ vào thế phải làm "đối lập muôn thủa" hoặc quyết định này quan trọng đến độ sự thất bại của phe thiểu số sau này không còn cách gì có thể bù đắp được nữa. Sau đây chúng ta sẽ xét từng trường hợp này một cách kỹ lưỡng.

Khi một quyết định của đa số (hoặc của một chính quyền được đa số hỗ trợ) xâm phạm đến những quyền dân chủ căn bản của một cá nhân hay một nhóm, thì chiếu theo định nghĩa, quyết định này là phản dân chủ. Có những quyền được gọi là căn bản là bởi thiếu nó dân chúng không thể tham gia vào đời sống chính trị, thí dụ như: quyền tự do phát biểu, di chuyển và lập hội, quyền được bầu và ứng cử. Việc bảo đảm cho mọi công dân những quyền này là nền móng của mọi chế độ dân chủ. Ðể có thể bảo vệ những quyền này trước sự xâm phạm của đa số một cách lý tưởng nhất người ta có thể ghi chúng vào hiến pháp hoặc vào một tuyên ngôn về quyền công dân. Câu hỏi tế nhị liên quan đến những điều kiện cho phép ngưng hoặc giới hạn việc tôn trọng các quyền này sẽ được mổ xẻ sau.

Trường hợp thứ hai mà "nguyên tắc hỗ tương" không đem áp dụng được là trường hợp mà một thiểu số "muôn đời" bị là thiểu số. Ðó là trường hợp các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc các nhóm được định nghĩa dựa trên bất cứ một tính chất "vĩnh cửu" nào. Nếu những chính đảng tham gia việc tranh giành quyền lực mà cố tình vạch ra thay vì vượt lên trên những khác biệt này thì có thể một ngày kia sẽ có một thiểu số bị vĩnh viễn loại ra khỏi việc điều hành quyền lực cũng như mất vai trò trong chính trường. Người ta có thể đặt nhiều biện pháp hiến định để ngăn ngừa việc đưa một thiểu số ra ngoài lề một cách vĩnh viễn. Người ta có thể dành cho thiểu số này một số bộ, tùy theo số lượng tương ứng mà bổ nhiệm họ vào một số chức vụ chính phủ; cho họ quyền phủ quyết những đạo luật liên quan đến quyền lợi sinh tồn của họ; công nhận cho họ được rộng quyền tự trị. Việc chọn biện pháp thích ứng nào phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể nhưng cho dù có chọn biện pháp nào thì quyền được bảo tồn văn hóa ngày nay cũng được xem như một quyền con người căn bản và cần phải được bảo vệ bởi hiến pháp.

Còn lại trường hợp của những nhóm thiểu số tranh đấu cho "những lý do thiêng liêng". Thiểu số này có thể xem một vấn đề quan trọng đến nỗi không thể nhượng bộ phe đa số về điểm này cho dù sau này được nhân nhượng về các điểm khác. Luật pháp không dự trù giải quyết loại trường hợp này. Song một đa số có kinh nghiệm và chín chắn sẽ biết có thể đưa cho thiểu số những nhượng bộ nào và biết tránh những quyết định áp đặt đơn thuần lên phe thiểu số. Sự bền lâu của dân chủ đòi hỏi các thành viên của cộng đồng phải chấp nhận chung sống vỡi nhau, điều đòi hỏi rằng phe đa số và những chính quyền đại diện cho họ phải biết chừng mực và luôn thận trọng để đừng khai thác triệt để nguyên tắc đa số nhằm chiếm đoạt tất cả và ápđặt quanđiểm của họ lên thiểu số.

11. Trong chế độ dân chủ, một cá nhân có quyền bất tuân pháp luật hay không?

Sự "bất tuân dân sự", nghĩa là hành động vi phạm luật lệ một cách công khai, bất bạo động và nhân danh một nguyên tắc quan trọng hay một quyền lợi sống còn, được dành cho một vị trí quan trọng trong lịch sử dân chủ. Hành động này khác với các vi phạm hình sự bởi tính cách phô diễn, bởi tính chính trị của động cơ và bởi thực tế là những người thực hiện không có ý định trốn tránh sự truy nã, và nếu thất bại thì họ sẵn sàng chấp nhận chịu án phạt. Sự bất tuân dân sự thường nhắm gây chú ý đến một sự bất công hay một vụ tai tiếng gây ra bởi nhà chức trách hoặc bởi một tổ chức tư nhân. Mục đích của nó là bắt giới hữu quyền phải xét lại một quyết định đang bị dân chúng lên án, sau khi những biện pháp nhằm đánh động lương tâm và để thuyết phục khác đã không đem lại kết quả. Trong một số trường hợp ít thấy hơn, những người phản đối tìm cách vô hiệu hóa một quyết định của chính quyền bằng cách tổ chức một phong trào chống đối rộng lớn. Dù sao, vì đã vi phạm nguyên tắc hỗ tương là một nguyên tắc cơ bản cho sự đồng thuận pháp lý trong dân chủ, cho nên phải xem sự bất tuân dân sự là một cùng kế được đem ra áp dụng trong những điều kiện thật ngoại lệ.

Những người phản đối sự bất tuân dân sự cho rằng không có gì có thể biện hộ được cho hành động vi phạm luật pháp ấy. Ðã xem luật pháp là nền tảng của xã hội văn minh mà còn để một cá nhân hay một nhóm người không tôn trọng nó thì sau này sẽ có vô số người bắt chước theo. Nếu mỗi người tự cho phép mình diễn giải luật pháp theo trí tưởng tượng của mình thì sớm muộn gì khung luật pháp cũng rạn nứt. Ngoài ra, hiến pháp của một chế độ dân chủ cũng đã dành cho dân chúng nhiều phương cách để họ sửa đổi luật pháp. Mỗi người có quyền dùng lá phiếu để tạo áp lực lên những đại diện dân cử của mình hoặc phát động một chiến dịch -trong khuôn khổ luật pháp- nhằm thuyết phục dân chúng và chính quyền sửa đổi luật lệ hoặc một chính sách nào đó. Chỉ nội việc tham gia bầu cử tự nó đã nói lên sự ưng thuận chấp nhận kết quả và chấp nhận chương trình hành động do đảng thắng cử đề ra. Tóm lại theo quan niệm của những người phản đối, sự bất tuân dân sự là một sự chà đạp lên nền dân chủ và lên nguyên tắc thượng tôn pháp luật.

Những người đòi bảo vệ quyền bất tuân dân sự cho rằng việc đồng ý chấp nhận kết quả bầu cử không bắt buộc một cá nhân phải tôn trọng tất cả các luật lệ hoặc buộc họ phải chấp nhận toàn bộ hoạt động của chính quyền - bất kể các hoạt động này có bất công hay không. Những phương tiện hiến định để đánh động dư luận và để bày tỏ sự phản đối thường đi quá chậm, trong khi sự thiệt hại thì không vớt lại được nữa. Trong thực tế, tiếng nói của các công dân bình thường luôn luôn bị bộ máy tuyên truyền của chính quyền và của các nhóm quyền lợi khỏa lấp. Trong hoàn cảnh đó, sự bất tuân dân sự không những không chống lại dân chủ mà còn phục vụ cho nó, một khi cho công luận biết đến sự hiện diện của tiếng nói đối lập qua cách tạo ấn tượng mạnh. Nói cho cùng mỗi cá nhân phải tự nhận định bằng lương tâm của mình về giá trị đạo đức của luật pháp và không một ai vì quán tính mà có thể tự cho phép tránh né trách nhiệm của mình trong sự tồn dư dai dẳng của những đạo luật bất công. Lịch sử đã cho thấy sự chấp nhận thụ động những đạo luật mang tính đàn áp dân chúng còn tai hại hơn cả sự bất tuân phát xuất từ mong muốn bảo vệ các nguyên tắc.

Nếu nói chung chung thì cũng rất khó phán xét về hai quan điểm trái ngược nhau trên đây. Người ta chỉ có thể có quyết định cho từng trường hợp một, với ý thức rõ ràng về hoàn cảnh, về giá trị của các nguyên tắc đối kháng trong từng vụ việc và cân nhắc về hậu quả xảy ra một khi phải bảo vệ nguyên tắc này hay nguyên tắc kia. Thực ra câu hỏi nêu trên chỉ có thể được trả lời bởi từng cá nhân. Ngày nay nó thuộc về một lãnh vực mà các lương tâm cá biệt được tôn trọng. Thí dụ như việc chống đối tham gia nghĩa vụ quân sự (có vũ trang) vì lý do lương tâm đã khiến nhiều quốc gia phải bổ túc thêm bằng các hình thức nghĩa vụ dân sự khác và giá trị lương tâm của những chống đối này hiệnđãđược công nhận rộng rãi.

12. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc và dân chủ có liên quan gì với nhau?

Trong thế giới hôm nay người ta thường cho rằng chủ nghĩa quốc gia và dân chủ là hai ý niệm hoàn toàn đối chọi nhau. Ðiều này không đúng bởi hai ý niệm này có cùng nguồn gốc lịch sử và tư tưởng dựa trên nguyên tắc "mọi quyền lực chính trị phát xuất từ dân chúng" của các nhà cách mạng Pháp. Quan niệm của những người theo chủ nghĩa quốc gia cho rằng dân chúng được quyền tự định đoạt trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của họ rất gần với nguyên tắc dân chủ nhằm bảo đảm cho mọi công dân của một nước quyền được tự do quyết định lấy công việc của mình.

Nhưng chúng ta sẽ phải đào sâu thêm nữa. Dân chủ là một học thuyết có giá trị phổ cập, cho phép mọi con người -bất kể những đặc thù của nó- được tự do quyết định, trong khi chủ nghĩa quốc gia lại dựa trên tính đặc thù, nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa các dân tộc và chiếu cố đến đặc tính quốc gia của các phong tục, các nền văn hóa và các lối sống. Như vậy chủ nghĩa quốc gia chủ yếu dựa trên sự loại bỏ trong khi dân chủ lại dựa chính trên sự bao gồm. Nguyên tắc loại bỏ sẽ trở thành phản dân chủ sâu sắc khi nó dẫn đến việc từ chối phẩm giá công dân và chối bỏ các quyền lợi của các người ngoại quốc đã sinh sống lâu năm tại một quốc gia chỉ bởi vì họ không nói cùng một ngôn ngữ, không có cùng một tôn giáo cũng như không có cùng một nguồn gốc sắc tộc như nhóm dân chiếm đa số trong quốc gia ấy. Vấn đề này sẽ không được đặt ra nếu tất cả các mọi nhà nước được hòa chung vào một dân tộc hoặc một quốc gia thuần nhất. Nhưng thực tế lại không như vậy bởi các sắc dân đã bị hòa trộn với nhau bởi làn sóng di dân và bởi các cuộc đô hộ xảy ra trong nhiều thế kỷ. Thế nên ý niệm Nhà nước-một-dân-tộc, theo đó quốc gia được coi như là tổ quốc của một sắc dân duy nhất, chỉ là một ảo tưởng.

Nếu đã cho rằng những đòi hỏi về quyền được tự quyết trên bình diện quốc gia là phù hợp với nguyên tắc dân chủ thì người ta cũng phải thấy rằng việc từ chối không cho những người đã cư trú lâu năm những quyền lợi về chính trị cũng như cho các dân tộc thiểu số trong nước được tự trị -dù là sự tự trị một phần- là phản dân chủ. Do đó nếu ý thức rằng những sự từ chối này sẽ đe dọa nền hòa bình trong nước cũng như giữa những quốc gia với nhau thì người ta không thể xem chúng như là công việc nội bộ của quốc gia liên hệ nữa. Ngày nay những quyền dân chủ cơ bản - một bộ phận của nhân quyền- được xem như là tài sản và khát vọng chính đáng của nhân loại nói chung. Việc cộng đồng nhân loại bất bình mỗi khi biết có một người bị tước các quyền cơ bản này cũng như có biện pháp chế tài đối với quốc gia liên hệ là chính đáng. Nói cách khác việc đòi hỏi tôn trọng những đặc thù dân tộc và sắc tộc chỉ chính đáng khi dùngđể kết hợp mọi người vào cộngđồng nhân loại chứ không phảiđể chia rẽ nó.

13. Có thể cai trị một quốc gia một cách dân chủ không?

J.S. Mill, một triết gia phái tự do ở đầu thế kỷ 19, cho rằng chế độ dân chủ đòi hỏi một trình độ văn minh khá cao. Mill cho rằng các quốc gia phương đông không có khả năng tự trị và cần phải được cai quản bởi một chế độ vừa chuyên chế vừa sáng suốt, tốt nhất là được hướng dẫn bởi Tây phương. Quan niệm mang màu sắc của chủ nghĩa chủng tộc này cũng được các tư tưởng gia khác của thời đại ngày nay chia xẻ, kể cả những người sáng suốt nhất. Nếu cho rằng người dân có học tạo thành yếu tố thuận lợi cho dân chủ, theo nghĩa làm giảm bớt khoảng cách giữa người cầm quyền và kẻ bị trị, thì không có gì chứng minh rằng người dân không được học (theo nghĩa đen) sẽ không có khả năng hiểu được những vấn đề liên quan đến họ, không có khả năng tranh luận về những vấn đề này cũng như không có khả năng điều hành công việc riêng của họ. Ngoài ra lịch sử các chế độ chuyên chế, dù đế quốc hay nội địa, đều đã không ghi lại một chứng tích nhân ái nào cả.

Ngược lại lịch sử cũng còn cho thấy rằng dân chủ không thể giành được nếu không huy động được và có sự đấu tranh của phần đông dân chúng, cho dù phải chấp nhận hy sinh gian khổ trong một thời gian dài. Ðiều này còn có nghĩa là số đông dân chúng phải hiểu được rằng chỉ có việc thiết lập một chính quyền dân chủ mới có thể đáp ứng được những khát vọng căn bản của họ và họ phải tự tổ chức lại để đấu tranh. Nói cách khác, dân chủ không rơi từ trời xuống như một phép lạ. Không ai, dù là một nhà lãnh đạo bình thường, hoặc là các người độc tài quân phiệt hay cộng sản, hay các vị tổng thống trọn đời hoặc các kẻ xâm lăng, lại tự nguyện rời bỏ quyền lực! Họ chỉ chịu rời bỏ quyền lực một khi chế độ của họ đã bị mất uy tín trầm trọng và khi một sự huy động quần chúng làm cho họ hiểu rằng việc bám giữ quyền lực của họ chỉ gây thêm hỗn loạn và sự tê tiệt của chính quyền.

Sự yểm trợ của các quốc gia dân chủ ngoại quốc dĩ nhiên sẽ khiến cho các lực lượng dân chủ dễ chiến thắng hơn và sẽ đóng góp vào việc thiết lập một thể chế dân chủ. Song le, trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh vừa qua, các quốc gia dân chủ tây phương đã chỉ chú trọng đến việc giới hạn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản hơn là việc hỗ trợ công cuộc đấu tranh cho dân chủ trong các quốc gia cộng sản, và vì lẽ đó, họ cũng đã góp phần duy trì một số chế độ cực kỳ phản dân chủ. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, cộng đồng quốc tế đã tiến bộ hơn và đã đứng hẳn về phía các phong trào và các chính quyền dân chủ. Sự hỗ trợ này chắc chắn sẽ rất quan trọng nhưng không thể nào thay thế được việc các dân tộc phải tự đứng lên đấu tranh chống lại các chế độ đã áp bức họ. Thực ra ta cũng thấy điều gì mâu thuẫn khi một chính quyền độc lập lạiđược dựng lên bởi các thế lực ở bên ngoài; thêm nữa một chếđộ như vậy chắc chắn sẽ không tồn tạiđược bao lâu.

14. Làm thế nào để giữ sau khi đã thiết lập được dân chủ?

Không có bí quyết hoàn hảo nào có thể đưa ra để trả lời câu hỏi này. Nền dân chủ phương tây chỉ được ổn định sau một thời gian dài gặp thoái bộ định kỳ gây nên bởi sự chống đối của giới quý tộc, của chế độ độc tài quân phiệt hoặc phát xít. Trong những chế độ dân chủ trẻ mới được thành lập, để thực hiện dân chủ, người ta chỉ mong rằng tình hình đừng quá tồi tệ. Một chế độ chính trị tự do sẽ không thể hoạt động được tại những nước mà hố phân cách xã hội quá lớn; tại một số nước, nền kinh tế không có khả năng đáp ứng được các nguyện vọng chân chính của người dân; tại một vài nước khác, giới quân đội khó chấp nhận rút lui khỏi chính trường, một khi đã nắm được các quyền hành quá lớn.

Song ta đừng nghĩ rằng dân chúng tại những nước có hoàn cảnh khó khăn như vậy sẽ chấp nhận bó tay. Các cơ chế dân chủ vẫn có thể được xây dựng bằng nhiều biện pháp để bảo vệ người dân trước vô số những o ép. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là đào tạo và nâng cao phẩm chất cho những chuyên viên đảm nhận những trách vụ quan trọng nhất trong guồng máy Nhà nước thí dụ như các quan tòa và các chuyên viên về hiến pháp, các nhân viên trong quốc hội, những người đặc tổ chức tuyển cử. Nói chung đó là những công chức. Tương tự, cần phát triển các chính đảng và cần bảo đảm việc đào tạo cán bộ trong các chính đảng. Ngoài ra cũng cần mở rộng tác dụng của những cơ chế (cơ chế được hiểu như những thành tố) của một xã hội dân sự như truyền thông, xí nghiệp, nghiệp đoàn, tổ chức phi chính phủ, để chúng có thể hoạt động độc lập và ở ngoài sự giám hộ của Nhà nước. Một yếu tố quan trọng khác là phẩm chất của những người lãnh đạo chính trị. Khả năng, sự liêm khiết cũng như sự dấn thân nhằm xây dựng những cơ chế dân chủ và cơ chế hiến định của họ còn quan trọng hơn cả quyết tâm nhằm giải quyết tức thời các vấn đề và bảo vệ quyền lực của họ.

Cuộc tranh đấu giữ gìn dân chủ được diễn ra trên hai trận tuyến. Trận tuyến thứ nhất nhằm chống lại các thế lực thù địch chống dân chủ. Những thế lực này không chịu chấp nhận những cơ chế tự do và không chấp nhận ảnh hưởng của các đoàn thể quần chúng lên việc điều hành xã hội. Kết quả của cuộc tranh đấu này phụ thuộc vào sự sinh động của các cơ chế và những lực lượng xã hội có nguyện vọng bảo vệ dân chủ và sẵn sàng huy động lực lượng để bảo vệ nó. Trận tuyến thứ hai nhằm bảo vệ các nguyên tắc về chia xẻ quyền lực chính trị trong một chế độ dân chủ. Những nguyên tắc này thể hiện trong việc cạnh tranh quyền lực hay trong việc (cám dỗ!) xem chính trị là một trò chơi mà kẻ thắng sẽ lấy hết phần thưởng. Kết quả của cuộc tranh đấu này phụ thuộc vào sự biết tự giới hạn của các người lãnhđạo khi thi hành quyền lực, vào mong muốn giữđối thoại với cácđối thủ chính trị và vào việc tôn trọng các quyền chính trị của mỗi người dân.  

15. Những thành tố chính yếu của một chế độ thực sự dân chủ

Một chế độ thực sự dân chủ luôn có 4 thành tố chính còn gọi là 4 trụ cột: những cuộc bầu cử tự do và bìnhđẳng; một chính quyền hoạtđộng minh bạch và có trách nhiệm trước cơ quan lập pháp; sự tôn trọng dân quyền và quyền chính trị; và sự hiện hữu của một xã hội dân chủ hay nói cách khác là một xã hội dân sự. Những thành tố này hợp thành một "tháp dân chủ", trongđó các thành phần kết hợp chặt chẽ với nhau thành một tổng thể .

(i) Những cuộc bầu cử tự do và bình đẳng

Những cuộc bầu cử dựa trên nguyên tắc tranh đua là căn bản để cho những người nhận trách vụ công quyền phải chịu trách nhiệm trước dân chúng và chịu đặt mình dưới sự kiểm soát của dân chúng. Những cuộc bầu cử này cũng là dịp để đánh giá nguyên tắc bình đẳng chính trị giữa những công dân, cả về phương diện ứng cử lẫn tranh cử. Khái niệm về "những cuộc bầu cử tự do và bình đẳng", được dùng ở đây như một tiêu chuẩn, trước tiên có ý nghĩa bao trùm lên cả hệ thống bầu cử, nghĩa là lên cả những đạo luật quy định về trách vụ dân cử, phẩm chất của những người muốn ứng cử, lịch trình bầu cử, phẩm chất của cử tri, khu vực bầu cử, thủ tục kiểm phiếu, v.v... Thứ nữa, ý nghĩa của khái niệm này cũng bao trùm lên diễn tiến bầu cử, nghĩa là những thủ tục cụ thể của cuộc đầu phiếu: từ việc ghi danh cử tri, tổ chức vận động cho đến việc khui thùng phiếu, để bảo đảm cho việc áp dụng luật lệ một cách chặt chẽ và không thiên vị vàđể tránh mọi thủđoạn gian lận dẫnđến việc nghi ngờ kết quả bầu cử.

(ii) Một chính quyền hoạt động minh bạch và có trách nhiệm

Trong thể chế dân chủ trách nhiệm của chính quyền trước dân chúng gồm hai mặt. Về mặt pháp lý, trách nhiệm của chính quyền trước các tòa án tùy thuộc việc thi hành luật của các cá nhân đảm nhận trách vụ công quyền (chiếu theo nguyên tắc "thượng tôn pháp luật"). Trách nhiệm này tùy thuộc rất nhiều vào sự độc lập của các tòa án đối với chính quyền. Có được độc lập, các tòa án mới có thể buộc mọi người phải tuân theo hiến pháp, xác định được hành vi phạm tội của những người phạm pháp và trừng phạt họ. Về mặt chính trị, trách nhiệm của chính quyền được thể hiện qua việc chính quyền phải biện minh về chính sách và hành động của mình trước quốc hội và dân chúng. Trách nhiệm này tùy thuộc vào quyền lực của quốc hội trong việc ban hành luật, quy định chính sách thuế khóa và kiểm soát hoạt động của chính quyền. Nếuđã có ý thức trách nhiệm về hànhđộng của mình thì một chính quyền dân chủ phải biết lắng nghe ý kiến dân chúng qua những phương cách thăm dò gián tiếp theo luật pháp quyđịnh hoặc bằng bất cứ phương cách nào khác.

(iii) Dân quyền và quyền chính trị

Dân quyền và quyền chính trị bao gồm các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại, nhằm bảo đảm cho công dân được tham gia vào đời sống chính trị dù ở dạng các hội đoàn trong một xã hội dân sự hoặc ở dạng những nhóm áp lực tìm cách ảnh hưởng lên chính quyền. Mặc dù chỉ là những quyền tự do của cá nhân thuộc trong nhóm nhân quyền (chỉ vậy cũng đủ xứng đáng để được bảo vệ rồi) nhưng tầm mức quan trọng của chúng lại bộc lộ trong sinh hoạt của tập thể: dưới dạng huy động nhân sự cho một mục tiêu có ích lợi chung hay dưới dạng những chiến dịch nhằm gây ý thức hoặc gây áp lực lên chính quyền. Thay vì cho rằng những quyền cá nhân làm cản trở các hoạtđộng vì lợi ích chung, cản trở diễn trình quyếtđịnh của tập thể người ta nên xem rằng những quyền nàyđã tạo nên nền tảng chính của thể chế dân chủ.

(iv) Xã hội dân chủ hay xã hội dân sự

Thể chế muốn dân chủ thì nhất thiết phải xây dựng trên một xã hội "dân sự", nghĩa là một xã hội với những hội đoàn làm đủ mọi việc công ích và độc lập với cơ quan công quyền. Ngoài những tổ chức đó ra, dân chúng sẽ không có một phương tiện nào khác để giới hạn quyền hành của Nhà nước, để dư luận được có khả năng bày tỏ ý kiến, để tránh cho dư luận bị phụ thuộc vào những người lãnh đạo và để cho xã hội có đủ sức mạnh chống lại các sự độc đoán tùy tiện. Nhưng những hội đoàn này không thể chỉ "độc lập" là đủ. Các hội đoàn này cần phải được điều hành và hoạt động một cách dân chủ trong ý thức rằng dân chủ không thể bén rễ sâu trên bình diện quốc gia, nếu cách thức điều hành chuyên chế vẫn tràn lan ngoài xã hội. Nếu trong môi trường gia đình, học đường, tôn giáo, những cá nhân bị khép vào một khuôn khổ chuyên quyền độc đoán, và nếu tại nơi làm việc, trong khu phố và trong những hội đoàn mà họ tham gia, họ không thể tập hợp lại được một cáchđộc lập hoặc họ khôngđược phép tham gia vào việcđiều hành một dự án chung, thì chắc chắn những cá nhân này không thể là những công dân năng nổ hoặc họ sẽ không cảm thấy có trách nhiệm trước hiện trạng xã hội.

 

(Phần kế tiếp  )