Nguyên Tắc Dân
Chủ (1/4)
Mục
tiêu dân chủ phải được hướng dẫn
bằng tư tưởng dân chủ và xây dựng bởi
nỗ lực dân chủ.
Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực
hiện
hoặc
dễ
thất
bại
khi nhân tố tham chính
(cộng-sản
hay không-cộng-sản) mang
hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ.
Do
đó trong
quan
niệm
‘vấn
nạn
hiện
thực không phải là chấp nhận tư tưởng
dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng
và hành động phản-dân-chủ’
Diễn đàn Dân Chủ cố gắng
giới
thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên
tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu
tư đến tương lai dân tộc có thể
suy luận để so sánh phủ định
quan
điểm và
hành
động phản-dân-chủ
bởi
vì Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công
cơ
chế quốc trị dân chủ
quy
phục và phụng sự nhân dân trong
tương lai trên nền tảng tư duy
và
kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không
lẽ trong khi các quốc gia phú cường
tiếp tục phát triển nhờ vào cơ chế
dân
chủ khai phóng tiềm năng đóng góp
của
toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam
lại tiếp tục bị cầm
tù trong ngục tù nghèo hèn bởi
thành
phần lãnh đạo độc tài mang
hành trang
tư
duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ?
Phần
tài liệu Các
vấn đề dân chủ sau
đây trình bày nhiều đề tài khả dụng
như định chế dân chủ, vai trò chính
đảng, truyền thông, luật pháp, kinh tế thị trường, trách nhiệm của chính
quyền, bầu cử tự do và hình thức tuyển
cử, xã hội dân sự, nhân quyền, tư sản,
quyền lợi và giới hạn
của công dân, v.v., tuy sơ lược nhưng minh
bạch do đó Diễn đàn Dân Chủ xin trân trọng
giới thiệu đến quý bạn.
(Trich
tu Dien Dan Dan
Chu - Việt Nam đi tới)
I. Tổng Quát
1.
Dân chủ là gì?
2. Tại sao phải
gắn bó với dân chủ ?
3. Nguồn gốc của
ý tưởng dân chủ
4. Chế độđại
nghị có thực sự dân chủ không?
5. Vai trò của
chínhđảng trong chếđộ dân chủ
6. Vai trò quan trọng
của truyền thông trong một chếđộ dân chủ
7.
Tại sao các chế độ dân chủ đại
nghị có thể được xem là tự do?
8.
Có thể có những hình thức dân chủ nào
khác với chế độ dân chủ tự do không?
9.
Dân chủ có đòi phải có kinh tế thị trường
không?
10. Quyết
định của đa số có phải lúc nào cũng
dân chủ không?
11. Trong chế
độ dân chủ, một cá nhân có quyền bất
tuân pháp luật hay không?
12. Chủ nghĩa
quốc gia dân tộc và dân chủ có liên quan gì với
nhau?
13. Có thể
cai trị một quốc gia một cách dân chủ không?
14. Làm thế
nào để giữ sau khi đã thiết lập
được dân chủ?
15. Những thành tố chính yếu
của một chế độ thực sự dân chủ
(i) Những cuộc bầu cử tự do và bình đẳng
(ii) Một chính quyền hoạt động minh bạch và
có trách nhiệm
(iii) Dân quyền và quyền chính trị
(iv) Xã hội dân chủ hay xã hội dân sự
II. Những cuộc bầu cử tự do và công bằng
16. Tại sao những cuộc bầu cử lại quan trọng?
17. Nguyên thủ
quốc gia có cần được chọn qua một cuộc
tổng tuyển cử không?
18. Còn những
người ở chức vụ nào khác cần được
chọn qua một cuộc tổng tuyển cử?
19. Có cần
bầu một nghị viện thứ hai không?
20. Chu kỳ
của các cuộc bầu cử
21. Có cần
phải giới hạn quyền bầu cử không?
22. Làm sao thiết
lập danh sách cử tri?
23. Có cần
cưỡng chế bầu cử không?
24. Tại sao
phải bỏ phiếu kín?
25. Ðiều
kiện ứng cử
26. Tại sao
ít có phụ nữ trong các chức vụ dân cử?
27. Dân biểu
được xem là "đại diện" của cử
tri trong chừng mực nào?
28. Sự
khác biệt của các lối bầu cử
29. Ưu và
khuyết điểm của các lối bầu cử
30. Hình thức
liên minh cầm quyền có dân chủ không?
31. Làm thế
nào để bảo đảm sự công bằng trong diễn
tiến bầu cử?
32. Công quỹ
có cần tài trợ cho các chính đảng không?
33. Có nên cho
các dân biểu thay đổi đảng tịch giữa
2 kỳ bầu cử không?
34. Các cử
tri có quyền hành gì giữa hai kỳ bầu cử?
35. Trong chế
độ dân chủ, khi nào phải sử dụng hình thức
trưng cầu dân ý?
III. Tính trong suốt và trách nhiệm của chính quyền
36. Tại sao hoạt
động trong suốt của chính quyền lại quan
trọng đối với dân chủ?
37. Làm thế
nào để bảo đảm cho hoạt động chính
quyền được trong suốt?
38. Thế nào
là trách nhiệm của chính quyền?
39. Tại sao
sự phân quyền lại quan trọng?
40. Thế
nào là thượng tôn pháp luật và làm sao để bảo
vệ nguyên tắc đó?
41. Vai trò của
quốc hội trong việc kiểm soát trách nhiệm của
chính quyền
42. Ai có thể
trở thành dân biểu quốc hội?
43. Có nên cho
phép dân biểu nhận các việc làm có thù lao khác
không?
44. Làm thế
nào để tận diệt tham nhũng chính trị?
45. Vai trò của
bộ máy hành chính trong chế độ dân chủ
46. Công dân
có phương tiện nàođể buộc các cơ quan
nhà nước phải làm tròn trách nhiệm đã
được giao phó?
47. Làm thế
nào để bảo đảm sự kiểm soát của
một chính quyền dân sự đối với quân
đội?
48. Cơ quan tình báo có chỗ
đứng trong một chế độ dân chủ không?
49. Tại sao
các đơn vị hành chánh địa phương lại
quan trọng đối với nền dân chủ?
50. Chế
độ liên bang thích hợp trong những điều kiện
nào?
IV. Những quyền tự do cá nhân và phương cách bảo
vệ chúng
51. Nhân quyền là
gì?
52. Nhân quyền
được phân loại ra sao?
53. Có nhân quyền
nào được xem là quan trọng hơn các nhân quyền
khác không?
54. Nhân quyền
có tính phổ quát không?
55. Cộng
đồng quốc tế có thể bày tỏ sự quan
tâm chínhđáng
của mình về cách thực thi nhân quyền tại một
quốc gia nào đó không?
56. Nhân quyền
liên quan ra sao với dân chủ?
57. Các quyền
dân sự và chính trị liên quan ra sao với dân chủ?
58. Các quyền
kinh tế và xã hội liên quan ra sao với dân chủ?
59. Trong trường
hợp nào một chính quyền dân chủ được
phép giới hạn nhân quyền?
60. Trong trường
hợp đặc biệt nghiêm trọng nào thì được
phép đình chỉ nhân quyền?
61. Một người
có thể bị từ chối tư cách công dân trong một
chế độ dân chủ không?
62. Quyền của
các cộng đồng thiểu số có được
bảo đảm không?
63. Về mặt
thực tiễn, nhân quyền được bảo vệ
bằng cách nào?
V. Xã hội dân chủ hoặc xã hội công dân
64. Xã hội công dân là gì ?
65. Hoạt
động của các hiệp hội công dân có gây trở
ngại cho dân chủ không?
66. Hoạt
động của các tổ chức kinh tế có cần
tuân theo các nguyên tắc dân chủ không?
67. Tài sản
tư nhân có cần thiết cho dân chủ không?
Nguyên Tắc Dân
Chủ
I.
Tổng Quát
1. Dân chủ
là gì?
Trong đời sống, mỗi chúng ta đều thuộc
về một nhóm hay một tập thể, kể đi từ
gia đình đến quốc gia và dân tộc, từ phường
khóm đến câu lạc bộ hay xí nghiệp. Trong những
tập thể dù lớn hay nhỏ này, có những việc
phải quyết định liên quan đến toàn thể,
ví dụ như quyết định về mục tiêu, về
nội quy hay về sự phân chia trách nhiệm và quyền
lợi giữa những thành viên. Những quyết định
này được xem là của tập thể để
phân biệt với những quyết định cá nhân,
chỉ liên quan đến riêng cá nhân ấy mà thôi.
Dân chủ là
một thuộc tính của diễn trình lấy quyết
định tập thể. Dân chủ là hiện thân của
lý tưởng, theo đó, những quyết định
liên quan đến tập thể phải được
thông qua tất cả các thành viên của tập thể
đó, mỗi thành viên đều có quyền được
tham gia như nhau vào diễn trình lấy quyết định.
Nói một cách khác, dân chủ đòi hỏi phải tôn
trọng hai nguyên tắc được xem là căn bản
như nhau sau đây: một là sự kiểm soát của
quần chúng trên diễn trình lấy quyết định
tập thể và hai là mỗi người đều có
quyền ngang nhau khi thi hành việc kiểm soát đó. Một
tập thể được gọi là dân chủ nếu
mọi vấn đề liên quan đến tập thể
đó đều được quyết định dựa
trên hai nguyên tắc vừa nêu.
Một định
nghĩa như vậy về dân chủ sẽ dẫn
đến hai hệ quả. Thứ nhất, dân chủ sẽ
không chỉ là thuộc tính của quốc gia hay của
cơ quan quyền lực như người ta thường
nghĩ, mặc dù trong thực tế, dân chủ trên bình
diện quốc gia liên quan chặt chẽ với dân chủ
biểu hiện trong các cơ cấu khác của xã hội.
Nếu xem quốc gia như một hiệp hội với
tầm hoạt động rộng lớn nhất, bao gồm
quyền điều phối các công việc của toàn
xã hội và khả năng tăng thuế, thì quả
dân chủ ở bình diện quốc gia mang một tầm
quan trọng đặc biệt. Do đó chúng ta sẽ lưu
tâm xem xét kỹ đến những vấn đề dân
chủ của những chính quyền.
Hệ quả
thứ hai là dân chủ không thể được đo
lường đơn giản theo cách hoặc có hoặc
không và cũng không thể áp dụng loại tiêu chuẩn
này để xét đoán xem một tập thể, bất
kỳ loại nào, có hoàn toàn dân chủ hay không. Ðúng ra
đây là vấn đề mức độ. Một mặt
dân chủ phụ thuộc vào việc áp dụng các
nguyên tắc về sự kiểm soát của dân chúng và
về quyền bình đẳng chính trị, mặt khác
dân chủ còn tùy thuộc vào mức độ thực
hiện lý tưởng bình đẳng tham gia vào diễn
trình lấy quyết định. Thông thường chúng
ta đánh giá một quốc gia là có dân chủ nếu
những nhà lãnh đạo quốc gia đó biết
đặt hành động của họ dưới sự
chấp thuận của dân chúng thông qua những cuộc
bầu cử tự do để dân chúng chọn lựa
người cầm quyền giữa các ứng cử
viên khác nhau.
Như vậy phẩm chất dân chủ
của một quốc gia được đánh giá qua việc
các công dân trưởng thành của quốc gia đó có
quyền bầu cử và ứng cử như nhau và việc
các quyền công dân và chính trị được bảo
vệ bởi luật pháp. Thực ra ngay cả tại
các quốc gia thuộc dạng vừa kể, hai nguyên tắc
về sự kiểm soát của quần chúng và về sự
bình đẳng chính trị cũng chưa được
tôn trọng tuyệt đối. Nhìn như vậy, tiến
trình dân chủ hóa sẽ không bao giờ được
hoàn tất; vì lẽ đó mà những con người dân
chủ trên toàn thế giới, bất kể họ sống
trong chếđộ hoặc thể chế chính trị
nào, vẫn tiếp tục tranhđấuđể củng
cố và phát huy việc áp dụng các nguyên tắc dân
chủ.
2.
Tại sao phải gắn bó với dân chủ ?
Sự gắn bó chínhđáng với dân chủ có thểđược
biện minh bằng nhiều lý do, sauđây là 5 lý do quan
trọng nhất.
(a) Mục đích của dân chủ là đem lại cho mọi
cá nhân một sự đối xử như nhau. Nhà Hiến
pháp học Jeremy Bentham viết rằng: "mỗi người
chỉ được tính là một và không ai được
tính hơn một" để phản bác lại lập
luận của một số quý tộc cho rằng mạng
sống của một số cá nhân nào đó quan trọng
hơn của những người dân khác. Nguyên tắc
bình đẳng này không chỉ nói lên rằng các chính
sách chung phải nhằm bảo vệ quyền lợi của
tất cả mọi người một cách như nhau mà
còn cho thấy những quan điểm cá nhân cũng phải
được tôn trọng như nhau, không có phân biệt
giữa người này kẻ khác..
Trong một vở tuồng của
Euripide, một công dân thành Athènes đã tuyên bố rằng:
"chúng ta không chấp nhận trao quyền lực đặc
biệt cho sự giàu có; tiếng nói của người
nghèo cũng không ít quan trọng hơn của người
khác". Những người chống dân chủ luôn cho
rằng đám đông quá thiếu kiến thức, thiếu
học và thiển cận để có thể tham gia dưới
một hình thức nào đó vào việc xây dựng
chính sách. Do đó người dân chủ phải trả
lời rằng nếu quả thực là quần chúng cần
thông tin và cần thời giờ để hiểu nó,
thì họ sẽ đủ khả năng để hành
động một cách có trách nhiệm một khi tình thế
đòi hỏi. Tất cả mọi người trưởng
thành phải được xem như có trách nhiệm về
lối sống của họ cũng như có khả năng
tham gia vào những quyếtđịnh liên quanđếnđời
sống xã hội của họ.
(b) Một chính quyền thuộc loại dân chủ dễ
thỏa mãn nhu cầu của những dân thường
hơn bất cứ loại chính quyền nào khác. Càng
kéo nhiều người cùng tham gia vào việc định
chính sách, chính sách càng dễ phản ánh những bận
tâm và khát vọng của họ. Một ngạn ngữ cổ
của Hy Lạp đã chẳng cho rằng "nếu người
thợ làm ra đôi giày thì chỉ kẻ mang nó mới
biết có vừa không". Trong thực tế chính người
dân thường là kẻ phải gánh chịu hậu quả
của chính sách. Người làm chính sách chỉ rút
được kinh nghiệm khi quần chúng được
trang bị những phương tiện tốt và hữu
hiệu để có thể gây những ảnh hưởng
và áp lực cần thiết. Nếu dân chúng không có
cách gì để tạo ảnh hưởng hoặc kiểm
soát những người có chức quyền, cho dù họ
có ý tốt, thì những chính sách của họ, nếu
khá, cũng không thể thích ứng được với
nhu cầu của dân chúng, còn nếu xấu thì những
chính sách này sẽ chỉ là conđẻ của tham
nhũng hoặc chỉđể phục vụ quyền lợi
cá nhân.
(c) Dân chủ dựa trên sự tranh luận, sự thuyết
phục và sự thỏa thuận. Khi tranh luận trong chế
độ dân chủ, điều quan trọng không chỉ
là sự có mặt của những quan niệm hoặc
quyền lợi khác nhau đại diện cho phần
đông những khuynh hướng lớn mà còn là sự
tôn trọng quyền được phát biểu một
quan điểm khác biệt và quyền được lắng
nghe. Như vậy dân chủ chấp nhận sự đa
dạng và đa nguyên trong xã hội cũng như sự
bình đẳng giữa các công dân. Gặp sự biểu
hiện đa dạng này, những khác biệt quan điểm
phải được giải quyết bằng sự
tranh luận, sự thuyết phục và sự thỏa thuận
chứ không phải bằng sự cướng bức hoặc
bằng sự xác định quyền lực một cách
đơn thuần. Người ta thường diễu các
chế độ dân chủ đại diện như những
bộ máy chuyên nói ba láp. Ðáng lý ra khả năng tổ
chức tranh luận công khai của những chế độ
này cần phải đáng được khen hơn là bị
chê bởi tranh luận là phương tiện tốt nhấtđể
tìmđồng thuận cho các chính sách và tranh luận
không nhất thiết cản trở việc hoạtđộng
hiệu quả.
(d) Dân chủ bảo đảm việc tôn trọng các
quyền tự do căn bản. Không thể có tự do
tranh luận -một phương tiện để bày tỏ
và giải quyết những khác biệt trong xã hội- nếu
những quyền tự do đó không được bảo
vệ bởi những quy định về quyền công
dân và quyền chính trị như: quyền tự do phát
biểu, tự do lập hội, tự do đi lại và
quyền được an toàn. Người ta có thể
tin rằng chế độ dân chủ sẽ bảo vệ
những quyền này bởi thiếu chúng cỗ máy dân
chủ không thể hoạt động được. Nếu
thực hiện một cách lý tưởng những quyền
căn bản này, cá nhân sẽ phát triển và những
quyết định tập thể sẽ dễ đạtđược
hơn khi bịđem rađối chất với nhiều
lý luận và chứng cứ khác.
(e) Dân chủ sẽ đem lại sự đổi mới
xã hội. Bằng cách cho phép loại bỏ những
chính sách hoặc những người lãnh đạo bị
thất bại hay đã hết hữu hiệu theo một
tiến trình nề nếp và ôn hòa, những chế
độ dân chủ sẽ có khả năng bảo đảm
sự đổi mới của xã hội và sự tiếp
nối giữa các thế hệ mà không tạo rađảo
lộnđáng kể nào hoặc làm rối loạn sinh hoạt
quốc gia như thường xảy ra mỗi khi những
người cầm quyền trong những chếđộ
phi dân chủ bị gạt bỏ.
3.
Nguồn gốc của ý tưởng dân chủ
Trong suốt lịch sử loài người, quan niệm
cho rằng người dân phải có quyền tham gia vào
các quyết định liên quan đến số phận
của họ đã trở thành một khát vọng của
nhiều xã hội. Chính tại Athènes vào thế kỷ
thứ V và VI trước Thiên Chúa mà nguyên tắc này
được nâng lên thành cơ chế. Khi quy định
về việc các ứng cử viên vào các chức vụ
công cộng phải là sở hữu chủ được
bãi bỏ vào hồi đầu thế kỷ thứ V, tất
cả mọi công dân của Cộng hòa Athènes đã
được trực tiếp tham gia các cuộc luận
bàn hoặc các cuộc bỏ phiếu tại Nghị viện;
Nghị viện này có nhiệm vụ định ra luật
lệ và chính sách của tập thể. Ngoài ra mỗi
người đều có thể tham gia vào việc điều
hành đô thị (chú thích:: Athènes khi ấy là quốc
gia đô thị) tỷ dụ như tham gia bồi thẩm
đoàn hoặc hội đồng đô thị; thành
viên của những cơ chế này được bầu
lại định kỳ bằng cách bốc thăm.
Từ đó
đến nay, sự điều hành của nền dân chủ
đầu tiên này luôn được tham chiếu và
được xem là kiểu mẫu cho tất cả các
nền dân chủ. Sự kiện một chính quyền
dân chủ được xây dựng lên trong một giai
đoạn mà Athènes xác định được ưu
thế về kinh tế và hàng hải và trải qua một
thời kỳ mà sự sáng tạo trong nghệ thuật
và sự tư biện trong triết học nở rộ
một cách phi thường đủ đánh đổ
quan niệm của những người chống dân chủ,
cho rằng việcđể cho thường dân tham gia
vào việc quản lý việc công sẽ dẫnđến
hoặc một xã hội hoàn toànđồng nhất hoặc
một loại chính quyền vô trách nhiệm.
Nền dân chủ tại Athènes thực ra vừa có mặt
hơn vừa có mặt kém dân chủ hơn những chế
độ dân chủ mà chúng ta biết đến ngày
nay. Nó dân chủ hơn ở chỗ các công dân
được phép can thiệp trực tiếp vào các quyết
định chính liên quan đến xã hội mà họ
đang sống (phù hợp với nguyên tắc dân chủ
trực tiếp) trong khi các chế độ dân chủ
hiện nay đều dựa trên nguyên tắc đại
diện gián tiếp, mà trong trường hợp tốt
nhất, cũng chỉ cho phép một sự tham gia bậc
hai vào diễn trình quyết định của chính quyền
và quốc hội. Nhưng một chế độ dân chủ
trực tiếp lại chỉ thực hiện được
khi số lượng công dân còn tương đối
nhỏ để có thể tụ họp lại tại một
chỗ họp vừa đủ rộng, ngoài ra những
công dân này lại phải có đủ thời giờ rảnh
để tham gia một cách có ý thức vào việc bàn
chọn chính sách. Ngày nay, chỉ xét về mặt dân số
không thôi, bất kể dân số đó là bao nhiêu, chúng
ta cũng thấy không điều nào trong hai đòi hỏi
ở trên có thể thỏa mãn được. Tuy nhiên
điều này không cấm ta tạo điều kiện
để các công dân tham gia trực tiếp vào các quyết
định ở bình diện quốc gia, tỷ dụ như
qua bầu cử hoặc trưng cầu dân ý hay tạo
cho họ cóđiều kiện tham gia liên tục vào các
quyếtđịnh tạiđịa phương.
Ngược lại nền dân chủ tại Athènes kém
dân chủ hơn các chế độ dân chủ ngày nay
ở chỗ chỉ có những người "đàn
ông tự do" mới được xem là công dân.
Ðàn bà, nô lệ và ngoại kiều sống trong đô
thị thời đó không có quyền công dân; họ phải
làm việc nhà và sản xuất để các "ông
công dân" có thể tham gia hoạt động chính trị.
Ở đây rõ ràng người dân có được
tham gia cai trị nhưng quyền tham gia này lại chỉ
xuất phát từ hoàn cảnh tương đối
ưu đãi của họ.
Cần nhắc lại rằng trong
đa số các chế độ đại nghị Tây
phương trước đây, quyền công dân cũng
đã bị gắn liền với những hạn chế
tương tự và chỉ đến đầu thế
kỷ xx các hạn chế này mới bị hủy bỏ.
Nguyên tắc "mọi quyền lực chính trị thuộc
về nhân dân" dù đã được cuộc Cách mạng
Pháp (1789) phổ biến nhưng đã không được
áp dụng cho mọi người. Người đàn bà
và những người vô sản đã phải chờ
đến thế kỷ xx mới được công nhận
quyền đi bỏ phiếu. Ngay cả ngày nay không phải
ai cư trú tại một quốc gia, khi đến tuổi
đi bầu cũng được phép tham gia các cuộc
bầu cử, không cần biết rằng họđóng
góp như thế nào cho nền kinh tế quốc dân tại
đó
(thí dụ: các ngoại kiều).
4.
Chế độ đại nghị có thực sự dân
chủ không?
Jean Jacques Rousseau, một triết gia Pháp ở thế kỷ
XVIII, cho rằng chế độ đại nghị không
thực sự dân chủ. Ông cho rằng trong chế độ
đại nghị, dân chúng thực sự chỉ
được tự do vào lúc bầu cử. Qua kỳ bầu
cử, dân chúng lại trở về tình trạng bị
phụ thuộc những người cai trị, không khác
chi nô lệ. Thực ra đây chỉ là một dạng
quá khích của luận đề cổ điển của
những nhà phê bình cực tả cho rằng các chế
độ đại nghị thực ra không dân chủ.
Luận đề này ngược với luận đề
của phe hữu cho rằng những chếđộđại
nghịđã dành một vai trò quá lớn cho dân chúng.
Ðể trả lời những nhà phê bình này, chúng ta có
thể nói rằng, cho đến ngày hôm nay, khi mà số
những công dân tăng lên hàng triệu và thời giờ
không còn cho phép họ thường xuyên tham gia công việc
chính trị nữa thì chế độ đại nghị
là chế độ tốt nhất được dựng
lên để bảo đảm sự kiểm soát của
dân chúng đối với người lãnh đạo. Trên
lý thuyết, người dân thi hành sự kiểm soát của
họ qua việc bầu lên một người lãnh đạo
(tổng thống hay thủ tướng) và qua việc chọn
lựa những dân biểu của quốc hội lập
pháp, là những người được quyền thay
mặt dân để thường xuyên kiểm soát chính
phủ. Quốc hội này có những đặc quyền,
chẳng hạn như chấp nhận hay bác bỏ một
đạo luật hay chấp thuận chính sách thuế
khóa. Song le sự kiểm soát của dân chúng có thực
hay không là do các cuộc bầu cử có thực sự
"tự do và công bằng" hay không, là do các hoạt
động của bộ máy hành pháp có minh bạch hay
không và do các quyền hạn trao cho quốc hội để
tìm hiểu và kiểm soát các hoạt động của
hành pháp có hữu hiệu hay không.
Trong một chế
độ đại nghị, nếu bầu cử
được xem là phương cách chính để dân
chúng tham gia vào các hoạt động hành pháp, thì đó
không phải là phương cách duy nhất. Người
dân có thể kết hợp thành đoàn thể để
đòi hỏi sửa đổi về một vấn
đề luật pháp nào đó hoặc để chống
lại sự sửa đổi đó; Họ có thể
tham gia vào một chính đảng để tạo áp lực
trực tiếp lên các dân biểu. Ngược lại các
chính quyền cũng sẽ phải tham khảo ý kiến
của những người sẽ chịu hậu quả
của các quyết định của họ, cho dù chỉ
là tham khảo những thành phần tiêu biểu qua một
cuộc tham dò dư luận. Trên thực tế hiếm
có chính quyền trong một chế độ đại
nghị nào có thể gác bỏ ngoài tai dư luận quần
chúng được phản ánh thông qua những cuộc
thăm dò dư luận, qua báo chí, truyền thanh và truyền
hình. Tuy nhiên sự hữu hiệu của những trạm
tiếp vận ảnh hưởng của quần chúng
này rút cuộc lại phụ thuộc vào sự tiến
hành tốt diễn trình bầu cử, bởi vì thực
ra, các chính quyền chỉ chú ý một cách đúng
đắn đến ý kiến của dân chúng nếu sự
thờ ơ trước dư luận sẽ dẫn họ
đến chỗ mất quyền.
Tóm lại sự
kiểm soát của dân chúng, thứ nhất được
thi hành thông qua các cuộc bầu cử, khi mà họ có
thể cân nhắc về phương cách điều hành
quốc gia và chọn lựa những người sẽ
nhận trách nhiệm chính trị; thứ nhì thông qua sự
kiểm soát chính phủ thường xuyên của quốc
hội, và cuối cùng là qua trung gian của các kênh diễnđạt
dư luận quần chúngđược chính phủ lưu
ýđến.
Xét về nguyên tắc thứ hai của dân chủ về
sự bình đẳng chính trị, chế độ
đại nghị quả thiếu bình đẳng khi cho
phép một thiểu số có quyền thay mặt đám
đông để quyết định về chính trị.
Ðể khắc phục những hạn chế này và
để thỏa đáp tiêu chuẩn bình đẳng chính
trị, chúng ta cần tạo điều kiện sao cho mỗi
công dân lúc nào cũng có thể làm được ba việc
sau đây: mưu tìm một trách vụ dân cử, công bố
lập trường của mình về các vấn đề
quốc gia và được đền bù trong trường
hợp gặp sai phạm của những người có
chức quyền hành chánh. Nhưng điều cần thiết
vẫn là hệ thống bầu cử phải dành cho mỗi
cuộc bầu cử một giá trị như nhau. Trên thực
tế đa số các chế độ đại nghị
đã không giữ đúng được các nguyên tắc
này. Ðặc biệt nguyên tắc bình đẳng chính trị
đã bị vi phạm trầm trọng bởi những bất
bình đẳng tồn tại trong xã hội. Thí dụ,
về mặt vật chất, các nhóm xã hội đã rất
khác biệt nhau về phương tiện tài chính, về
khả năng xoay sở và về quan hệ.
Do đó trong các nước theo chế
độđại nghị, phận sự của những
con người dân chủ là phải tìm ra những giải
phápđể hạn chế ảnh hưởng về mặt
chính trị tạo nên bởi những bất bìnhđẳng
xã hội và phải làm gia tăng sự hữu hiệu
của những cơ chế giúp người dân kiểm
soát chính phủ.
5. Vai trò của chínhđảng trong chếđộ dân
chủ
Những cá nhân trong một xã hội chỉ có thể
ảnh hưởng hạn chế vào việc điều
hành quốc gia nếu họ không biết kết hợp
thành hội đoàn. Ðảng phái chính trị là tập
hợp của những người có cùng chính kiến
và quyền lợi trong việc phổ biến quan điểm,
trong việc giành những trách vụ chính trị và trong
khả năng ảnh hưởng vào công việc quốc
gia. Các chính đảng đóng nhiều vai trò. Nhìn dưới
khía cạnh bầu cử, các chính đảng góp phần
đơn giản hóa sự chọn lựa bằng cách cống
hiến cho cử tri một số quan điểm chính trị
và những nét tổng quát của chương trình hành
động để họ dễ quyết định.
Nhìn dưới khía cạnh chính quyền, các chính đảng
là hậu thuẫn tương đối ổn vững
để cho chính quyền có thể thực hiện tốt
các chương trình đã được đưa ra hứa
hẹn lúc tranh cử. Ngoài ra chính đảng còn giúp cho
những cá nhân hoạt động chính trị tích cực
nhất có thể can thiệp vào việc nước,
được học tập chính trị và có ảnh hưởng
vào việc điều hành quốc gia.
Trong những
chế độ có bầu cử tự do và công bằng,
sự thành công của chính đảng phụ thuộc rất
nhiều vào sự ủng hộ của số cử tri
mà họ đã giành và giữ được. Do đó họ
phải luôn luôn lưu tâm đến ý kiến của cơ
sở khi lập chương trình hành động cũng
như khi chọn các ứng cử viên vào những trách
vụ dân cử, nếu không họ sẽ bị thua các
đảng khác hoặc sẽ khiến có thêm những
chính đảng mới được thành lập để
đáp ứng khoảng trống chính trị do họ tạo
nên. Cho nên chính đảng là một cơ chế quan trọng
khiến chính quyền phải lắng nghe đúng mức
những bận tâm của dân chúng. Song le các chính đảng
chỉ có thể làm tròn nhiệm vụ này nếu việc
tranh cử được bảo đảm công bằng
tuyệt đối, nghĩa là không để xảy ra
việc có một số các chính đảng có quyền
sử dụng những phương tiện công cộng
hoặc những phương tiện truyền thông đại
chúng trong khi những đảng khác lại không
được phép. Ðặc biệt điều này cũng
bao hàm rằng ngay chính đảng cầm quyền
cũng cần ý thức phân biệt rõ ràng phạm vi hoạt
động của chính quyền với phạm vi hoạt
động của đảng cũng như tìm ra hình thức
tổ chức thích ứng cho từng loại hoạt
động.
Nếu việc cạnh tranh công khai của
các chính đảng trong khuôn khổ bầu cử là một
trong những đặc trưng không thể thiếu
được của những chế độ dân chủ
đại nghị thì đó cũng chính là chỗ nhược
của thể chế này. Việc cạnh tranh công khai giữa
các chính đảng cùng mưu đồ lèo lái quốc
gia là một yếu tố phân chia về mặt xã hội
và chính trị. Cái giá mà những người tham dự
vào cuộc cạnh tranh này phải trả thường rất
cao. Do đó nhất thiết -và đây chính là một
trong những yếu tố sống còn của dân chủ-
ta phải làm sao để cái giá mà những chính đảng
và những ủng hộ viên của họ phải trả
một khi họ bị loại khỏi quyền lực
là một cái giá mà họ có thể chịu đựng
được. Ðặc biệt họ không được
phép nghi ngờ về khả năng có thể thắng lại
của họ trong một cuộc bầu cử sau cũng
như về tính dài lâu của những quyền phápđịnh,để
cho dù hiện thất cử, họ vẫn có thể tụ
tập thành viên, công bố quanđiểm và chỉ
trích chính quyền.
6.
Vai trò quan trọng của truyền thông trong một chếđộ
dân chủ
Chính quyền
của bất kỳ thể chế chính trị nào cũng
muốn dân chúng ủng hộ hoặc tán thành các chính
sách của họ. Nếu xem trọng dân chúng thì người
ta phải tìm cách tiếp cận với họ qua trung
gian của các phương tiện truyền thông đại
chúng như báo chí, truyền thanh và truyền hình. Từ
đó truyền thông có một vai trò chính trị quan trọng
trong xã hội cận đại. Trong chế độ dân
chủ, truyền thông không thể bị xem đơn giản
như bộ phận tuyên truyền của chính phủ.
Truyền thông còn có những nhiệm vụ quan trọng
khác, đó là: rà xoát hoạt động của chính quyền,
thông tin cho quần chúng, tạo tranh luận công khai, làm
cho chính quyền phải chú ý đến dư luận và
tạo áp lực lên chính quyền.
Nhiệm vụ
điều tra và thông tin của truyền thông rất cần
thiết để chống lại cái "tật" muốn
giữ bí mật muôn thủa của các chính quyền và
để cân bằng lại sức mạnh áp chế của
guồng máy chính quyền trong lãnh vực giao tế công
cộng. Một chính quyền buộc phải có trách nhiệm
vỡi dư luận nếu dư luận có được
thông tin về các hoạt động của họ
cũng như có phương tiện độc lập
để đánh giá về sự đúng đắn của
những lời tuyên bố về chính sách của họ.
Nếu một mặt truyền thông phải cẩn thận
để khỏi soi mói vào đời tư người
khác thì mặt khác nó cũng có nhiệm vụ truyền
đạt thông tin và nói lên phần nào mối quan tâm của
quần chúng, một quần chúng có quyền được
tìm hiểu. Không làm được việc này truyền
thông sẽ không thể chu toàn trọng trách của
"người canh gác quyền lợi công cộng".
Ngoài vai trò cung cấp thông tin độc lập, truyền
thông còn phải tạo diễn đàn tranh luận bằng
cách mời các bộ trưởng và nhân sĩ trả lời
-một cách dễ hiểu- những câu hỏi được
đặt ra cho họ và tạo điều kiện để
người dân bình thường cũng có thể tham gia
cuộc tranh luận này. Truyền thông cũng phải làm
sao để chính quyền lắng nghe dư luận.
Ðóng một lúc nhiều vai trò khác nhau như vậy mà tầm
hoạt động lại rộng đến toàn thể
dân chúng nên truyền thông sẽ bổ xung và củng cố
cho hoạt động theo dõi và thảo luận của
quốc hội.
Song le trong một thể chế dân chủ,
truyền thông chỉ có thể hoàn thành những nhiệm
vụ quan yếu này nếu nó thực sự độc
lập và không phụ thuộc cả chính quyền lẫn
những thế lực quyền lợi tư nhân. Ðể
giỡi hạn ảnh hưởng của chính quyền
người ta có thể ủy thác việc kiểm soát
những phương tiện truyền thông do công quỹ
tài trợ cho một ủy ban độc lập hoặc
một ủy ban gồm đại diện những hiệp
hội công dân và tạo sự cạnh tranh với những
phương tiện truyền thông tư nhân. Ðể ngăn
chặn những nhóm tài phiệt tư nhân thao túng lãnh vực
truyền thông người ta có thể đặt ra định
mức tập trung sở hữu hoặc dùng các phương
cách điều hòa thích ứng khác. Tuy nhiên không một
biện pháp nào có thể bảo đảm được
rằng truyền thông sẽ chu toàn trách nhiệm dân chủ
của họ một cách vô tư và hữu hiệu như
mongđợi. Cuối cùng chúng ta cũng chỉ trông chờ
nơi sựđộc lập và tính chuyên nghiệp của
các nhà báo, các chủ bút và các nhà sản xuất trong
lãnh vực thính thị cũng như mong quần chúng
luôn ý thức rằng truyền thông sẽ góp phần
tích cực vào sự hoạtđộng của một nền
dân chủ.
7.
Tại sao các chế độ dân chủ đại nghị
có thể được xem là tự do?
Lý do thứ
nhất xuất phát từ lịch sử: đại
đa số các quốc gia tây phương đã
được tự do trước khi trở thành dân chủ.
Tại các quốc gia đó một chế độ tự
do hiến định đã được thiết lập
trước khi phổ thông đầu phiếu được
chấp nhận và các chính đảng đại chúng
được thành lập.
Chế độ
đó có những đặc điểm như sau:
a) đặt
sự hoạt động của chính quyền hoặc của
bộ máy hành pháp vào khuôn khổ của luật pháp
được chuẩn y bởi một quốc hội do
dân bầu ("thượng tôn pháp luật");
b) công nhận
những quyền cá nhân về tố tụng (quyền
được xét xử công bình), về tự do ngôn luận,
tự do tụ tập và tự do đi lại;
c) thiết lập
một bộ máy tư pháp độc lập vỡi hành
pháp và lập pháp để thể hiện đúng vai
trò canh giữ luật pháp và quyền cá nhân. Trong lịch
sử, những chế độ dân chủ cho áp dụng
phổ thông đầu phiếu và để các chính
đảng đại chúng phát triển trước khi củng
cố các thành tố tự do vừa nêu đều đã
không giữ được ổn định.
Việc này
đưa chúng ta đến lý do thứ hai, thuộc lãnh
vực thực tiễn, để hiểu tại sao một
chế độ tự do hiến định phải
đi đôi với dân chủ. Trong một quốc gia
tân tiến chính quyền thường nắm những quyền
hành rất lớn. Nếu một chính quyền -dù
được lòng dân- không chấp nhận sự chi phối
của luật pháp như bất cứ một công dân
bình thường nào khác, hoặc không bị bắt buộc
phải xin quốc hội chuẩn y những đạo
luật theo những thủ tục được định
sẵn, hay không chịu tôn trọng các quyền tự do
của công dân (cho dù việc thực thi các quyền tự
do đó đôi khi gây ra khá nhiều phiền toái), thì trước
sau gì chính quyền đó cũng sẽ vuột khỏi sự
kiểm soát của dân chúng.
Dân chủ
không phải là một thể chế chuyên tìm cách thỏa
mãn ngay tức thời hoặc càng nhanh càng tốt tất
cả những đòi hỏi của người dân mà
là một thể chế nhằm bảo đảm cho
người dân có những phương tiện để
thực thi một cách lâu dài ảnh hưởng và sự
kiểm soát của họ lên chính quyền. Trong số những
phương tiện này chúng ta cần nhấn mạnh
đến những thành tố quan trọng của một
chế độ hiến định: sự thượng
tôn pháp luật, sự phân quyền giữa hành pháp, lập
pháp và tư pháp và sự tôn trọng các quyền và
các tự do cá nhân.
Những đặc trưng và những
thành tố của thể chế dân chủ đó chỉ
có thể được bảo vệ một cách hữu
hiệu nhất bằng một hiến pháp thành văn
được phổ biến đến tất cả mọi
người, trong đó định nghĩa rõ ràng các nghĩa
vụ và quyền hạn của cá nhân cũng như của
các cơ quan nhà nước. Qui chế đặc biệt
của hiến pháp được xác định bởi
hai sự việc. Thứ nhất, những người nhận
trách nhiệm công vụ phải tuyên thệ trung thành với
hiến pháp và không được phép diễn giải
hiến pháp theo cách nhìn phe phái hoặc cục bộ của
họ. Thứ hai, việc thay đổi hiến pháp
đòi hỏi phải qua những thủ tục đặc
biệt, tỷ dụ như qua một cuộc bỏ
thăm với đa số tuyệt đối hoặc một
cuộc trưng cầu dân ý. Về thực hành, sự bất
khả xâm phạm của hiến pháp thành văn chỉ
có thể được bảo đảm dưới
hai điều kiện: có ngành tư pháp độc lập
được chỉ định ra để thực thi
sự tôn trọng hiến pháp và ngành tư pháp này phải
có đủ quyền hành để hoàn thành trách nhiệmđó;
vàđồng thời quần chúng nhân dân phải luôn sẵn
sàngđể giám sát sự tôn trọng hiến pháp.
8.
Có thể có những hình thức dân chủ nào khác với
chế độ dân chủ tự do không?
Trong thế kỷ
20 này người ta đã chứng kiến một số
những thử nghiệm nhằm xây dựng một chế
độ dân chủ trên bình diện quốc gia, thường
dưỡi hình thức một chế độ độc
đảng -phổ biến nhất là chế độ cộng
sản-, mà không lưu tâm gì đến di sản tự
do. Trong loại chế độ này, để biện
minh cho sự "độc đảng" người
ta thường nêu lên sự cần thiết phải bảo
vệ thành quả cách mạng của nhân dân, phải tập
trung sức mạnh của xã hội cho một chương
trình phát triển kinh tế, và phải loại bỏ
ảnh hưởng của sở hữu tư nhân cũng
như của quyền lợi cá thể trong hoạt động
chính trị. Ðảng cầm quyền được xem
như là tiếng nói của nhân dân và là công cụ cho
phép những người lãnh đạo huy động dân
chúng cho những mục tiêu của chính quyền.
Ngày nay, nếu
còn lịch sự, thì người ta chỉ có thể
công nhận một sự năng động dân chủ
nhất định thấy xuất hiện tại cơ
sở của loại chế độ này. Ngược lại
sự thiếu vắng của các quyền tự do ngôn
luận và lập hội đã ngăn chặn sự hình
thành quan điểm và sự thành lập những tổ
chức nằm ngoài hệ thống của đảng. Kết
quả là ảnh hưởng của dân chúng vào việc
hình thành chính sách đã bị giới hạn nghiêm trọng
và tinh thần trách nhiệm của những người
cầm quyền đối với dân chúng cũng teo tóp
đi. Cho dù có tự cho là đã gặt hái được
những thành quả kinh tế đáng kể, những chế
độ cộng sản đã tiêu biểu cho sự
độc đoán chuyên quyền, cho việc phải dựa
vào một chính sách đàn áp tỏa rộng và cho sự
khinh thường pháp luật, đến nỗi chế
độ cộng sản đã chỉ có thể giữ
vững được nhờ một hệ thống công
an tổ chức chặt chẽ.
Những thử
nghiệm tại Phi Châu nhằm thiết lập những
chế độ dân chủ độc đảng không cộng
sản cũng dẫn đến những hậu quả
tương tự, cho dù ý định ban đầu là tốt.
Ở Phi Châu người ta mong rằng việc tập
trung vào một đảng duy nhất sẽ tránh
được những bất đồng do tranh chấp
giữa những phe phái tạo nên, đặc biệt
trong một khung cảnh xã hội có nhiều chia rẽ sắc
tộc và một đảng duy nhất sẽ phản
ánh được truyền thống xem trọng sự
đồng thuận (cho dù khái niệm đồng thuận
hoàn toàn không ăn nhập gì với khái niệm "đối
lập trung thành"). Các chế độ này đã cho
phép cử tri chọn lựa giữa những ứng cử
viên, cho phép họ loại bỏ một vài bộ trưởng
bị mất lòng dân vỡi điều kiện là các
"đối thủ" cũng phải là người
của đảng và phải tuân theo đường lối
của đảng. Ở đây lại một lần nữa,
việc dân chúng không thể tập hợp được
một cách độc lập bên ngoài đảng cầm
quyền và việc họ không thể đưa ra
được những ứng cử viên đối lập
chống lại đảng trong các cuộc đầu phiếu
đã đủ để tố cáo một chế độ
độc đoán chuyên quyền và một sự coi thường
ý kiến nhân dân ngày càng trầm trọng của những
chính quyền và những người lãnh đạo. Bên
cạnh đó, sự thiếu vắng của sự phân
quyền thực sự đã khiến cho các nguyên tắc
về thượng tôn pháp luật và về trách nhiệm
của chính quyền trước các dân biểu quốc
hội đại diện cho dân chúng không được
tôn trọng, và từ đó không bảo đảm
được sự tôn trọng các quyền tự do của
người dân.
Qua những tiền lệ lịch sử
này người có thể kết luận rằng những
thử nghiệm nhằm thiết lập một chế
độ dân chủ mà không dựa trên nền tảng tự
do đều thất bại. Cho dù quyền tự do lập
hội và phương cách bầu cử tự do và
đa nguyên có đem lại bao nhiêu phiền toái đi nữa
thì chúng ta cũng phải nhận rằng đây là hai
công cụ rất cần thiết để bảo đảm
cho ảnh hưởng và sự kiểm soát của dân
chúng đối vỡi chính phủ được
vĩnh cửu, để bảo đảm các nguyên tắc
thượng tôn pháp luật và phân quyền, là những
nguyên tắc bắt buộc chính quyền phải tuân
theo một số thủ tục cần thiết để
chấp nhận sự ảnh hưởng và sự kiểm
soát của dân chúng. Chế độ dân chủ tự
do chắc chắn còn đủ rộng chỗ cho những
thử nghiệm và thích ứng vào những điều
kiện địa phương. Người ta sẽ lầm
khi cho rằng có thể áp dụng mà không sợ lầm
những hình thức dân chủ đã được xây
dựng thành công trong những hoàn cảnh nhất định
nàođó hoặc trong những xã hội có truyền thống
dân chủ lâuđời.
9.
Dân chủ có đòi phải có kinh tế thị trường
không?
Câu hỏi phức
tạp này không thể chỉ được trả lời
một cách đơn giản là có hay không. Một mặt
người ta có thể cho rằng hệ thống sản
xuất và phân phối dựa trên nguyên tắc trao đổi
tự do sẽ tạo nhiều thuận lợi cho dân chủ.
Cũng giống như dân chủ, thị trường xem
cá nhân tự do (không chịu sự điều khiển
của ai) là người có thể phán đoán về quyền
lợi của mình một cách tốt nhất và phải
chịu trách nhiệm về chọn lựa của mình.
Thị trường và dân chủ có nhiều điểm
tương đồng. Người tiêu thụ là vua
trên thị trường giống như cử tri
được xem là vua trong thể chế dân chủ.
Tương tự,
việc các xí nghiệp phụ thuộc vào sự ủng
hộ của khách hàng cũng được so sánh như
việc các chính đảng lệ thuộc vào tỷ lệ
đầu phiếu. Ngoài ra thị trường còn kiềm
chế các thế lực trong xã hội bằng cách phân
tán quyền quyết định về kinh tế và trải
rộng khả năng sinh hoạt, thông tin và phương
tiện ra trong xã hội dân sự. Thị trường
giúp cho dân chúng khỏi phụ thuộc nhà nước về
mặt kinh tế và trong việc tài trợ các hoạt
động chính trị và văn hóa độc lập của
họ. Về các phương diện này thì thị trường
có thể được xem như hỗ trợ cho dân chủ.
Mặt khác, nếu
để thị trường phát triển tự nhiên
thì nó sẽ tạo nên những thăng trầm đột
biến trong hoạt động sản xuất, khiến
cho nền kinh tế gặp khó khăn và xáo trộn rất
lớn. Những thay đổi này khiến quốc gia phải
chịu hậu quả của sự dao động về
giá cả và về mặt giao thương trên bình diện
quốc tế, từ đó làm cho quốc gia mất chủ
động về kinh tế. Về mặt đối nội,
thị trường làm tăng thêm sự bất bình
đẳng trong việc đóng góp về khả năng
và phương tiện giữa những thành viên kinh tế
và tạo bất bình đẳng chính trị trong một
thể chế dân chủ. Ngoài ra thị trường xem
lao động là một món hàng cũng chịu sự chi
phối bởi luật cung cầu như mọi món hàng
khác, khiến khi không cần đến nó nữa thì người
ta có thể loại bỏ nó mà không để ý gì
đến phẩm cách của người công dân.
Trong hoàn cảnh
đó chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng
chính các quốc gia tây phương đầu tiên bước
vào thời đại công nghiệp đã cho rằng kinh
tế thị trường không thích hợp với việc
phổ thông đầu phiếu, điều mà họ
đã ra công chống đối trong phần lỡn thế
kỷ 19. Người ta cũng không ngạc nhiên khi thấy
việc toan tính áp dụng một chính sách kinh tế thả
lỏng đã dẫn đến việc dựng nên những
chính quyền chuyên chế để kiềm hãm sự bất
mãn của dân chúng. Kể từ sau đệ nhị thế
chiến các chính quyền tây phương đã phối
hợp dân chủ vỡi kinh tế thị trường bằng
cách can thiệp vào thị trường và điều phối
nó ở mức độ quan trọng, bằng cách bảo
đảm việc tái phân phối các kết quả của
hoạt động kinh tế và bằng cách dựng nên
một hệ thống luật lệ xã hội để
bảo vệ những người yếu kém nhất
trong xã hội trước những thăng trầm của
thị trường.
Người
ta cần phải nhắc nhở nhau về tính cách hai mặt
trong quan hệ giữa dân chủ và thị trường
để khỏi bị quyến rũ bởi sự
đơn giản của nền kinh tế thả lỏng.
Ngược lại hệ thống kinh tế hoạch
định tập trung trong các chế độ xã hội
chủ nghĩa đòi hỏi phải quản lý một bộ
máy hành chánh vượt quá khả năng kiểm soát.
Nó đã độc quyền sử dụng toàn bộ năng
lực và sáng kiến của xã hội cho mục đích
của một nhà nước và sinh ra những bất
công chính trị lớn khi cho một số người
đặc quyền đặc lợi. Ðây là những
điều không thích hợp với thể chế dân chủ.
Còn về khả năng tồn tại
trong kinh tế thị trường của một hệ
thống xí nghiệp thuộc sở hữu tập thể
được phân tán mỏng, cũng như về sự
thích hợp của hệ thống này với một chế
độ dân chủ đa đảng thì sao? Ðến hôm
nay, hình thức xã hội chủ nghĩa dân chủ duy nhất
còn tồn tại là hình thức dân-chủ-xã-hộiđược
thành lập từ năm 1945 tại một số nước
Bắc Âu và Tây Âu. Thực rađây là một sự cải
biến hơn là một sự dứt khoát với chủ
nghĩa tư bản.
10.
Quyết định của đa số có phải lúc
nào cũng dân chủ không?
Người
ta thường lầm dân chủ với sự thực
thi quyền lực của đa số. Nếu hiểu
theo nghĩa đen thì dân chủ là sự thực thi quyền
lực của người dân, và quyền lực này
được thực thi bởi toàn thể dân chúng chứ
không phải chỉ bởi một tập thể dân
chúng bằng cách áp đặt ý muốn của họ
lên một tập thể dân chúng khác. Nói cách khác, đặc
trưng căn bản của dân chủ là công nhận
cho mọi người quyền được bình đẳng
tham gia vào quyết định chung, trong đó nguyên tắc
đa số chỉ là một cái mẹo về thủ tục
để giải quyết những bất đồng,
sau khi mọi phương cách khác như tranh luận, bổ
xung ý kiến và thỏa hiệp đã được tận
dụng mà không mang lại kết quả.
Nhưng chúng
ta có thể chắc chắn là khi đa số áp đặt
ý muốn của họ thì sẽ có dân chủ hơn là
khi để cho những thiểu số được
quyền quyết định hoặc được phép
ngăn cản ý muốn của một số đông hơn.
Song khi đẩy thiểu số xuống tình trạng bị
bất lực và khi cướp đi của họ mọi
phương tiện tham gia quyết định chung, thì
nguyên tắc đa số không còn có thể được
xem là biểu hiện lý tưởng của dân chủ nữa
mà chỉ là phương tiện thô bạo để
đi đến quyết định.
Những
người ủng hộ nguyên tắc đa số biện
minh rằng thiểu số của hôm nay lúc nào cũng có
thể hy vọng sẽ trở thành đa số của
ngày mai và việc họ bị loại ra ngoài lề trong
một quyết định hoặc trong một cuộc bầu
cử nào đó sẽ được đền bù nếu
sau này họ chiến thắng trở lại. Nói cách
khác, phe thiểu số sẵn sàng chấp nhận luật
chơi đa số dựa trên "nguyên tắc hỗ tương"
nếu tin rằng một ngày kia khi họ trở thành
đa số thì phe kia cũng phải chấp nhận luật
chơi cũng như chính họ đã từng chấp nhận.
Song le, nguyên tắc này sẽ mất tác dụng khi đa
số quyết định làm cho thiểu số bị mất
khả năng phổ biến quan điểm của mình
hay dồn họ vào thế phải làm "đối lập
muôn thủa" hoặc quyết định này quan trọng
đến độ sự thất bại của phe thiểu
số sau này không còn cách gì có thể bù đắp
được nữa. Sau đây chúng ta sẽ xét từng
trường hợp này một cách kỹ lưỡng.
Khi một quyết
định của đa số (hoặc của một chính
quyền được đa số hỗ trợ) xâm phạm
đến những quyền dân chủ căn bản của
một cá nhân hay một nhóm, thì chiếu theo định
nghĩa, quyết định này là phản dân chủ.
Có những quyền được gọi là căn bản
là bởi thiếu nó dân chúng không thể tham gia vào
đời sống chính trị, thí dụ như: quyền
tự do phát biểu, di chuyển và lập hội, quyền
được bầu và ứng cử. Việc bảo
đảm cho mọi công dân những quyền này là nền
móng của mọi chế độ dân chủ. Ðể
có thể bảo vệ những quyền này trước
sự xâm phạm của đa số một cách lý tưởng
nhất người ta có thể ghi chúng vào hiến pháp
hoặc vào một tuyên ngôn về quyền công dân. Câu hỏi
tế nhị liên quan đến những điều kiện
cho phép ngưng hoặc giới hạn việc tôn trọng
các quyền này sẽ được mổ xẻ sau.
Trường
hợp thứ hai mà "nguyên tắc hỗ tương"
không đem áp dụng được là trường hợp
mà một thiểu số "muôn đời" bị là
thiểu số. Ðó là trường hợp các nhóm thiểu
số về sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc
các nhóm được định nghĩa dựa trên bất
cứ một tính chất "vĩnh cửu" nào. Nếu
những chính đảng tham gia việc tranh giành quyền
lực mà cố tình vạch ra thay vì vượt lên trên
những khác biệt này thì có thể một ngày kia sẽ
có một thiểu số bị vĩnh viễn loại ra
khỏi việc điều hành quyền lực cũng
như mất vai trò trong chính trường. Người
ta có thể đặt nhiều biện pháp hiến định
để ngăn ngừa việc đưa một thiểu
số ra ngoài lề một cách vĩnh viễn. Người
ta có thể dành cho thiểu số này một số bộ,
tùy theo số lượng tương ứng mà bổ nhiệm
họ vào một số chức vụ chính phủ; cho họ
quyền phủ quyết những đạo luật liên
quan đến quyền lợi sinh tồn của họ; công
nhận cho họ được rộng quyền tự
trị. Việc chọn biện pháp thích ứng nào phụ
thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể nhưng cho
dù có chọn biện pháp nào thì quyền được
bảo tồn văn hóa ngày nay cũng được xem
như một quyền con người căn bản và cần
phải được bảo vệ bởi hiến pháp.
Còn lại trường hợp của
những nhóm thiểu số tranh đấu cho "những
lý do thiêng liêng". Thiểu số này có thể xem một
vấn đề quan trọng đến nỗi không thể
nhượng bộ phe đa số về điểm này
cho dù sau này được nhân nhượng về các
điểm khác. Luật pháp không dự trù giải quyết
loại trường hợp này. Song một đa số có
kinh nghiệm và chín chắn sẽ biết có thể
đưa cho thiểu số những nhượng bộ
nào và biết tránh những quyết định áp đặt
đơn thuần lên phe thiểu số. Sự bền
lâu của dân chủ đòi hỏi các thành viên của
cộng đồng phải chấp nhận chung sống vỡi
nhau, điều đòi hỏi rằng phe đa số và
những chính quyền đại diện cho họ phải
biết chừng mực và luôn thận trọng để
đừng khai thác triệt để nguyên tắc đa
số nhằm chiếm đoạt tất cả và ápđặt
quanđiểm của họ lên thiểu số.
11.
Trong chế độ dân chủ, một cá nhân có quyền
bất tuân pháp luật hay không?
Sự "bất
tuân dân sự", nghĩa là hành động vi phạm
luật lệ một cách công khai, bất bạo động
và nhân danh một nguyên tắc quan trọng hay một quyền
lợi sống còn, được dành cho một vị
trí quan trọng trong lịch sử dân chủ. Hành động
này khác với các vi phạm hình sự bởi tính cách
phô diễn, bởi tính chính trị của động
cơ và bởi thực tế là những người thực
hiện không có ý định trốn tránh sự truy nã,
và nếu thất bại thì họ sẵn sàng chấp nhận
chịu án phạt. Sự bất tuân dân sự thường
nhắm gây chú ý đến một sự bất công hay
một vụ tai tiếng gây ra bởi nhà chức trách hoặc
bởi một tổ chức tư nhân. Mục đích của
nó là bắt giới hữu quyền phải xét lại một
quyết định đang bị dân chúng lên án, sau khi
những biện pháp nhằm đánh động
lương tâm và để thuyết phục khác đã
không đem lại kết quả. Trong một số
trường hợp ít thấy hơn, những người
phản đối tìm cách vô hiệu hóa một quyết
định của chính quyền bằng cách tổ chức
một phong trào chống đối rộng lớn. Dù
sao, vì đã vi phạm nguyên tắc hỗ tương là
một nguyên tắc cơ bản cho sự đồng thuận
pháp lý trong dân chủ, cho nên phải xem sự bất
tuân dân sự là một cùng kế được đem
ra áp dụng trong những điều kiện thật ngoại
lệ.
Những
người phản đối sự bất tuân dân sự
cho rằng không có gì có thể biện hộ được
cho hành động vi phạm luật pháp ấy. Ðã xem luật
pháp là nền tảng của xã hội văn minh mà còn
để một cá nhân hay một nhóm người không
tôn trọng nó thì sau này sẽ có vô số người
bắt chước theo. Nếu mỗi người tự
cho phép mình diễn giải luật pháp theo trí tưởng
tượng của mình thì sớm muộn gì khung luật
pháp cũng rạn nứt. Ngoài ra, hiến pháp của một
chế độ dân chủ cũng đã dành cho dân
chúng nhiều phương cách để họ sửa
đổi luật pháp. Mỗi người có quyền
dùng lá phiếu để tạo áp lực lên những
đại diện dân cử của mình hoặc phát
động một chiến dịch -trong khuôn khổ luật
pháp- nhằm thuyết phục dân chúng và chính quyền sửa
đổi luật lệ hoặc một chính sách nào
đó. Chỉ nội việc tham gia bầu cử tự
nó đã nói lên sự ưng thuận chấp nhận kết
quả và chấp nhận chương trình hành động
do đảng thắng cử đề ra. Tóm lại theo
quan niệm của những người phản đối,
sự bất tuân dân sự là một sự chà đạp
lên nền dân chủ và lên nguyên tắc thượng tôn
pháp luật.
Những người
đòi bảo vệ quyền bất tuân dân sự cho rằng
việc đồng ý chấp nhận kết quả bầu
cử không bắt buộc một cá nhân phải tôn trọng
tất cả các luật lệ hoặc buộc họ phải
chấp nhận toàn bộ hoạt động của chính
quyền - bất kể các hoạt động này có bất
công hay không. Những phương tiện hiến định
để đánh động dư luận và để
bày tỏ sự phản đối thường đi quá
chậm, trong khi sự thiệt hại thì không vớt lại
được nữa. Trong thực tế, tiếng nói của
các công dân bình thường luôn luôn bị bộ máy
tuyên truyền của chính quyền và của các nhóm quyền
lợi khỏa lấp. Trong hoàn cảnh đó, sự bất
tuân dân sự không những không chống lại dân chủ
mà còn phục vụ cho nó, một khi cho công luận biết
đến sự hiện diện của tiếng nói
đối lập qua cách tạo ấn tượng mạnh.
Nói cho cùng mỗi cá nhân phải tự nhận định
bằng lương tâm của mình về giá trị đạo
đức của luật pháp và không một ai vì quán
tính mà có thể tự cho phép tránh né trách nhiệm của
mình trong sự tồn dư dai dẳng của những
đạo luật bất công. Lịch sử đã cho thấy
sự chấp nhận thụ động những đạo
luật mang tính đàn áp dân chúng còn tai hại hơn cả
sự bất tuân phát xuất từ mong muốn bảo vệ
các nguyên tắc.
Nếu nói chung chung thì cũng rất
khó phán xét về hai quan điểm trái ngược nhau
trên đây. Người ta chỉ có thể có quyết
định cho từng trường hợp một, với
ý thức rõ ràng về hoàn cảnh, về giá trị của
các nguyên tắc đối kháng trong từng vụ việc
và cân nhắc về hậu quả xảy ra một khi phải
bảo vệ nguyên tắc này hay nguyên tắc kia. Thực
ra câu hỏi nêu trên chỉ có thể được trả
lời bởi từng cá nhân. Ngày nay nó thuộc về một
lãnh vực mà các lương tâm cá biệt được
tôn trọng. Thí dụ như việc chống đối
tham gia nghĩa vụ quân sự (có vũ trang) vì lý do lương
tâm đã khiến nhiều quốc gia phải bổ túc
thêm bằng các hình thức nghĩa vụ dân sự khác
và giá trị lương tâm của những chống
đối này hiệnđãđược công nhận rộng
rãi.
12.
Chủ nghĩa quốc gia dân tộc và dân chủ có
liên quan gì với nhau?
Trong thế giới
hôm nay người ta thường cho rằng chủ
nghĩa quốc gia và dân chủ là hai ý niệm hoàn toàn
đối chọi nhau. Ðiều này không đúng bởi
hai ý niệm này có cùng nguồn gốc lịch sử và
tư tưởng dựa trên nguyên tắc "mọi quyền
lực chính trị phát xuất từ dân chúng" của
các nhà cách mạng Pháp. Quan niệm của những người
theo chủ nghĩa quốc gia cho rằng dân chúng
được quyền tự định đoạt
trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của họ rất
gần với nguyên tắc dân chủ nhằm bảo
đảm cho mọi công dân của một nước
quyền được tự do quyết định lấy
công việc của mình.
Nhưng chúng
ta sẽ phải đào sâu thêm nữa. Dân chủ là một
học thuyết có giá trị phổ cập, cho phép mọi
con người -bất kể những đặc thù của
nó- được tự do quyết định, trong khi
chủ nghĩa quốc gia lại dựa trên tính đặc
thù, nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa
các dân tộc và chiếu cố đến đặc tính
quốc gia của các phong tục, các nền văn hóa
và các lối sống. Như vậy chủ nghĩa quốc
gia chủ yếu dựa trên sự loại bỏ trong khi
dân chủ lại dựa chính trên sự bao gồm.
Nguyên tắc loại bỏ sẽ trở thành phản
dân chủ sâu sắc khi nó dẫn đến việc từ
chối phẩm giá công dân và chối bỏ các quyền
lợi của các người ngoại quốc đã sinh
sống lâu năm tại một quốc gia chỉ bởi
vì họ không nói cùng một ngôn ngữ, không có cùng một
tôn giáo cũng như không có cùng một nguồn gốc
sắc tộc như nhóm dân chiếm đa số trong quốc
gia ấy. Vấn đề này sẽ không được
đặt ra nếu tất cả các mọi nhà nước
được hòa chung vào một dân tộc hoặc một
quốc gia thuần nhất. Nhưng thực tế lại
không như vậy bởi các sắc dân đã bị hòa
trộn với nhau bởi làn sóng di dân và bởi các cuộc
đô hộ xảy ra trong nhiều thế kỷ. Thế
nên ý niệm Nhà nước-một-dân-tộc, theo đó
quốc gia được coi như là tổ quốc của
một sắc dân duy nhất, chỉ là một ảo tưởng.
Nếu đã cho rằng những đòi
hỏi về quyền được tự quyết trên
bình diện quốc gia là phù hợp với nguyên tắc
dân chủ thì người ta cũng phải thấy rằng
việc từ chối không cho những người đã
cư trú lâu năm những quyền lợi về chính
trị cũng như cho các dân tộc thiểu số
trong nước được tự trị -dù là sự
tự trị một phần- là phản dân chủ. Do
đó nếu ý thức rằng những sự từ chối
này sẽ đe dọa nền hòa bình trong nước
cũng như giữa những quốc gia với nhau thì
người ta không thể xem chúng như là công việc
nội bộ của quốc gia liên hệ nữa. Ngày
nay những quyền dân chủ cơ bản - một bộ
phận của nhân quyền- được xem như là
tài sản và khát vọng chính đáng của nhân loại
nói chung. Việc cộng đồng nhân loại bất
bình mỗi khi biết có một người bị tước
các quyền cơ bản này cũng như có biện
pháp chế tài đối với quốc gia liên hệ
là chính đáng. Nói cách khác việc đòi hỏi tôn trọng
những đặc thù dân tộc và sắc tộc chỉ
chính đáng khi dùngđể kết hợp mọi
người vào cộngđồng nhân loại chứ
không phảiđể chia rẽ nó.
13.
Có thể cai trị một quốc gia một cách dân chủ
không?
J.S. Mill, một
triết gia phái tự do ở đầu thế kỷ
19, cho rằng chế độ dân chủ đòi hỏi
một trình độ văn minh khá cao. Mill cho rằng
các quốc gia phương đông không có khả năng
tự trị và cần phải được cai quản
bởi một chế độ vừa chuyên chế vừa
sáng suốt, tốt nhất là được hướng
dẫn bởi Tây phương. Quan niệm mang màu sắc
của chủ nghĩa chủng tộc này cũng
được các tư tưởng gia khác của thời
đại ngày nay chia xẻ, kể cả những người
sáng suốt nhất. Nếu cho rằng người dân
có học tạo thành yếu tố thuận lợi cho
dân chủ, theo nghĩa làm giảm bớt khoảng cách
giữa người cầm quyền và kẻ bị trị,
thì không có gì chứng minh rằng người dân không
được học (theo nghĩa đen) sẽ không có
khả năng hiểu được những vấn
đề liên quan đến họ, không có khả năng
tranh luận về những vấn đề này cũng
như không có khả năng điều hành công việc
riêng của họ. Ngoài ra lịch sử các chế độ
chuyên chế, dù đế quốc hay nội địa,
đều đã không ghi lại một chứng tích nhân
ái nào cả.
Ngược lại
lịch sử cũng còn cho thấy rằng dân chủ
không thể giành được nếu không huy động
được và có sự đấu tranh của phần
đông dân chúng, cho dù phải chấp nhận hy sinh gian
khổ trong một thời gian dài. Ðiều này còn có nghĩa
là số đông dân chúng phải hiểu được
rằng chỉ có việc thiết lập một chính quyền
dân chủ mới có thể đáp ứng được
những khát vọng căn bản của họ và họ
phải tự tổ chức lại để đấu
tranh. Nói cách khác, dân chủ không rơi từ trời xuống
như một phép lạ. Không ai, dù là một nhà lãnh
đạo bình thường, hoặc là các người
độc tài quân phiệt hay cộng sản, hay các vị
tổng thống trọn đời hoặc các kẻ xâm
lăng, lại tự nguyện rời bỏ quyền lực!
Họ chỉ chịu rời bỏ quyền lực một
khi chế độ của họ đã bị mất uy
tín trầm trọng và khi một sự huy động quần
chúng làm cho họ hiểu rằng việc bám giữ quyền
lực của họ chỉ gây thêm hỗn loạn và sự
tê tiệt của chính quyền.
Sự yểm trợ của các quốc
gia dân chủ ngoại quốc dĩ nhiên sẽ khiến
cho các lực lượng dân chủ dễ chiến thắng
hơn và sẽ đóng góp vào việc thiết lập một
thể chế dân chủ. Song le, trong suốt thời kỳ
chiến tranh lạnh vừa qua, các quốc gia dân chủ
tây phương đã chỉ chú trọng đến việc
giới hạn sự bành trướng của chủ
nghĩa cộng sản hơn là việc hỗ trợ
công cuộc đấu tranh cho dân chủ trong các quốc
gia cộng sản, và vì lẽ đó, họ cũng đã
góp phần duy trì một số chế độ cực
kỳ phản dân chủ. Sau khi chiến tranh lạnh chấm
dứt, cộng đồng quốc tế đã tiến
bộ hơn và đã đứng hẳn về phía các
phong trào và các chính quyền dân chủ. Sự hỗ trợ
này chắc chắn sẽ rất quan trọng nhưng không
thể nào thay thế được việc các dân tộc
phải tự đứng lên đấu tranh chống lại
các chế độ đã áp bức họ. Thực ra ta
cũng thấy điều gì mâu thuẫn khi một chính
quyền độc lập lạiđược dựng
lên bởi các thế lực ở bên ngoài; thêm nữa một
chếđộ như vậy chắc chắn sẽ không
tồn tạiđược bao lâu.
14.
Làm thế nào để giữ sau khi đã thiết lập
được dân chủ?
Không có bí quyết
hoàn hảo nào có thể đưa ra để trả lời
câu hỏi này. Nền dân chủ phương tây chỉ
được ổn định sau một thời gian dài
gặp thoái bộ định kỳ gây nên bởi sự
chống đối của giới quý tộc, của chế
độ độc tài quân phiệt hoặc phát xít.
Trong những chế độ dân chủ trẻ mới
được thành lập, để thực hiện dân
chủ, người ta chỉ mong rằng tình hình đừng
quá tồi tệ. Một chế độ chính trị tự
do sẽ không thể hoạt động được tại
những nước mà hố phân cách xã hội quá lớn;
tại một số nước, nền kinh tế không
có khả năng đáp ứng được các nguyện
vọng chân chính của người dân; tại một
vài nước khác, giới quân đội khó chấp nhận
rút lui khỏi chính trường, một khi đã nắm
được các quyền hành quá lớn.
Song ta đừng
nghĩ rằng dân chúng tại những nước có
hoàn cảnh khó khăn như vậy sẽ chấp nhận
bó tay. Các cơ chế dân chủ vẫn có thể
được xây dựng bằng nhiều biện pháp
để bảo vệ người dân trước vô số
những o ép. Một trong những biện pháp hữu hiệu
nhất là đào tạo và nâng cao phẩm chất cho những
chuyên viên đảm nhận những trách vụ quan trọng
nhất trong guồng máy Nhà nước thí dụ như
các quan tòa và các chuyên viên về hiến pháp, các nhân
viên trong quốc hội, những người đặc
tổ chức tuyển cử. Nói chung đó là những
công chức. Tương tự, cần phát triển các
chính đảng và cần bảo đảm việc
đào tạo cán bộ trong các chính đảng. Ngoài ra
cũng cần mở rộng tác dụng của những
cơ chế (cơ chế được hiểu như
những thành tố) của một xã hội dân sự
như truyền thông, xí nghiệp, nghiệp đoàn, tổ
chức phi chính phủ, để chúng có thể hoạt
động độc lập và ở ngoài sự giám hộ
của Nhà nước. Một yếu tố quan trọng
khác là phẩm chất của những người lãnh
đạo chính trị. Khả năng, sự liêm khiết
cũng như sự dấn thân nhằm xây dựng những
cơ chế dân chủ và cơ chế hiến định
của họ còn quan trọng hơn cả quyết tâm nhằm
giải quyết tức thời các vấn đề và bảo
vệ quyền lực của họ.
Cuộc tranh đấu giữ gìn dân
chủ được diễn ra trên hai trận tuyến.
Trận tuyến thứ nhất nhằm chống lại
các thế lực thù địch chống dân chủ. Những
thế lực này không chịu chấp nhận những cơ
chế tự do và không chấp nhận ảnh hưởng
của các đoàn thể quần chúng lên việc điều
hành xã hội. Kết quả của cuộc tranh đấu
này phụ thuộc vào sự sinh động của các cơ
chế và những lực lượng xã hội có nguyện
vọng bảo vệ dân chủ và sẵn sàng huy động
lực lượng để bảo vệ nó. Trận
tuyến thứ hai nhằm bảo vệ các nguyên tắc
về chia xẻ quyền lực chính trị trong một
chế độ dân chủ. Những nguyên tắc này thể
hiện trong việc cạnh tranh quyền lực hay trong
việc (cám dỗ!) xem chính trị là một trò chơi
mà kẻ thắng sẽ lấy hết phần thưởng.
Kết quả của cuộc tranh đấu này phụ
thuộc vào sự biết tự giới hạn của
các người lãnhđạo khi thi hành quyền lực,
vào mong muốn giữđối thoại với cácđối
thủ chính trị và vào việc tôn trọng các quyền
chính trị của mỗi người dân.
15.
Những thành tố chính yếu của một chế
độ thực sự dân chủ
Một chế
độ thực sự dân chủ luôn có 4 thành tố
chính còn gọi là 4 trụ cột: những cuộc bầu
cử tự do và bìnhđẳng; một chính quyền hoạtđộng
minh bạch và có trách nhiệm trước cơ quan lập
pháp; sự tôn trọng dân quyền và quyền chính trị;
và sự hiện hữu của một xã hội dân chủ
hay nói cách khác là một xã hội dân sự. Những
thành tố này hợp thành một "tháp dân chủ",
trongđó các thành phần kết hợp chặt chẽ
với nhau thành một tổng thể .
(i) Những cuộc bầu cử tự do và bình đẳng
Những cuộc
bầu cử dựa trên nguyên tắc tranh đua là căn
bản để cho những người nhận trách vụ
công quyền phải chịu trách nhiệm trước dân
chúng và chịu đặt mình dưới sự kiểm
soát của dân chúng. Những cuộc bầu cử này cũng
là dịp để đánh giá nguyên tắc bình đẳng
chính trị giữa những công dân, cả về phương
diện ứng cử lẫn tranh cử. Khái niệm về
"những cuộc bầu cử tự do và bình đẳng",
được dùng ở đây như một tiêu chuẩn,
trước tiên có ý nghĩa bao trùm lên cả hệ thống
bầu cử, nghĩa là lên cả những đạo luật
quy định về trách vụ dân cử, phẩm chất
của những người muốn ứng cử, lịch
trình bầu cử, phẩm chất của cử tri, khu vực
bầu cử, thủ tục kiểm phiếu, v.v... Thứ
nữa, ý nghĩa của khái niệm này cũng bao trùm
lên diễn tiến bầu cử, nghĩa là những thủ
tục cụ thể của cuộc đầu phiếu:
từ việc ghi danh cử tri, tổ chức vận
động cho đến việc khui thùng phiếu, để
bảo đảm cho việc áp dụng luật lệ một
cách chặt chẽ và không thiên vị vàđể tránh
mọi thủđoạn gian lận dẫnđến việc
nghi ngờ kết quả bầu cử.
(ii) Một chính quyền hoạt động minh bạch và
có trách nhiệm
Trong thể chế
dân chủ trách nhiệm của chính quyền trước
dân chúng gồm hai mặt. Về mặt pháp lý, trách nhiệm
của chính quyền trước các tòa án tùy thuộc
việc thi hành luật của các cá nhân đảm nhận
trách vụ công quyền (chiếu theo nguyên tắc "thượng
tôn pháp luật"). Trách nhiệm này tùy thuộc rất
nhiều vào sự độc lập của các tòa án
đối với chính quyền. Có được độc
lập, các tòa án mới có thể buộc mọi người
phải tuân theo hiến pháp, xác định được
hành vi phạm tội của những người phạm
pháp và trừng phạt họ. Về mặt chính trị,
trách nhiệm của chính quyền được thể
hiện qua việc chính quyền phải biện minh về
chính sách và hành động của mình trước quốc
hội và dân chúng. Trách nhiệm này tùy thuộc vào quyền
lực của quốc hội trong việc ban hành luật,
quy định chính sách thuế khóa và kiểm soát hoạt
động của chính quyền. Nếuđã có ý thức
trách nhiệm về hànhđộng của mình thì một
chính quyền dân chủ phải biết lắng nghe ý kiến
dân chúng qua những phương cách thăm dò gián tiếp
theo luật pháp quyđịnh hoặc bằng bất cứ
phương cách nào khác.
(iii) Dân quyền và quyền chính trị
Dân quyền
và quyền chính trị bao gồm các quyền tự do
ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại,
nhằm bảo đảm cho công dân được tham
gia vào đời sống chính trị dù ở dạng
các hội đoàn trong một xã hội dân sự hoặc
ở dạng những nhóm áp lực tìm cách ảnh hưởng
lên chính quyền. Mặc dù chỉ là những quyền tự
do của cá nhân thuộc trong nhóm nhân quyền (chỉ vậy
cũng đủ xứng đáng để được
bảo vệ rồi) nhưng tầm mức quan trọng
của chúng lại bộc lộ trong sinh hoạt của
tập thể: dưới dạng huy động nhân sự
cho một mục tiêu có ích lợi chung hay dưới dạng
những chiến dịch nhằm gây ý thức hoặc
gây áp lực lên chính quyền. Thay vì cho rằng những
quyền cá nhân làm cản trở các hoạtđộng
vì lợi ích chung, cản trở diễn trình quyếtđịnh
của tập thể người ta nên xem rằng những
quyền nàyđã tạo nên nền tảng chính của
thể chế dân chủ.
(iv) Xã hội dân chủ hay xã hội dân sự
Thể chế muốn dân chủ thì nhất
thiết phải xây dựng trên một xã hội
"dân sự", nghĩa là một xã hội với những
hội đoàn làm đủ mọi việc công ích và
độc lập với cơ quan công quyền. Ngoài những
tổ chức đó ra, dân chúng sẽ không có một phương
tiện nào khác để giới hạn quyền hành của
Nhà nước, để dư luận được có
khả năng bày tỏ ý kiến, để tránh cho dư
luận bị phụ thuộc vào những người lãnh
đạo và để cho xã hội có đủ sức
mạnh chống lại các sự độc đoán tùy
tiện. Nhưng những hội đoàn này không thể
chỉ "độc lập" là đủ. Các hội
đoàn này cần phải được điều hành
và hoạt động một cách dân chủ trong ý thức
rằng dân chủ không thể bén rễ sâu trên bình diện
quốc gia, nếu cách thức điều hành chuyên chế
vẫn tràn lan ngoài xã hội. Nếu trong môi trường
gia đình, học đường, tôn giáo, những cá
nhân bị khép vào một khuôn khổ chuyên quyền
độc đoán, và nếu tại nơi làm việc,
trong khu phố và trong những hội đoàn mà họ
tham gia, họ không thể tập hợp lại được
một cáchđộc lập hoặc họ khôngđược
phép tham gia vào việcđiều hành một dự án
chung, thì chắc chắn những cá nhân này không thể
là những công dân năng nổ hoặc họ sẽ không
cảm thấy có trách nhiệm trước hiện trạng
xã hội.