Trich tu Dan Chu - Nguyễn Lân (Lội Ngược) (2)
Trong thời bao cấp, nền kinh tế hoạch định dẫn đến phá sản kinh tế. Ðể giải quyết tình trạng này, những người cầm quyền không còn cách nào khác hơn là từ bỏ cơ chế kinh tế này và để cho dân chúng tự do làm ăn, "hãy làm giàu đi" là khẩu hiệu của kẻ cầm quyền từ hơn mười năm nay, thật là ngược với trước đây, những thường dân nếu có tí của thì bị coi là phú nông hay tư sản mại bản với tất cả những hậu quả của các từ này. Sự kiện cho tự do làm ăn có nghĩa là giải phóng sức dân, sức sản xuất, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế rõ nét. Người ta hồ hởi, hăm hở làm ăn và đối với đa số thì thời kỳ đói khổ đã vĩnh viễn qua rồi; tương lai có lẽ không quá phấn khởi như họ tưởng. Tất nhiên, sự tăng trưởng kinh tế là một yếu tố thuận lợi trong công cuộc phát triển kinh tế về sau này. Tất nhiên, sự tăng trưởng kinh tế cũng sẽ kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội, chính trị khác. Và cũng tất nhiên, không có sự tăng trưởng kinh tế nào là vĩnh cửu cả. Sự chấp nhận nền kinh tế thị trường có nghĩa là đi theo sự phát triển kinh tế tư bản, ngày nay, Việt Nam đang ở trong thời kỳ tư bản tự phát (với ngôn từ chính thống thì người ta gọi là kinh tế thị trường với cái đuôi "theo định hướng xã hội chủ nghĩa", còn theo dân gian thì là "tư bản đỏ"), với tất cả những tác động tích cực và nhất là tiêu cực của nó:
· 1. Từ chuyên chính vô sản đến độc tài quân phiệt đỏ : Trước đây, chúng ta theo chế độ chuyên chính vô sản với hệ thống giá trị của chủ nghĩa Mác-Lê, đây là hệ thống giá trị toàn thể (bao trùm mọi khía cạnh, hoạt động của con người, từ triết học, văn hoá, lịch sử đến kinh tế, xã hội, chính trị ...), tuyệt đối (chủ nghĩa không thể sai, ai có ý nghĩ khác là lập tức bị gắn cho cái mũ xét lại, tả khuynh, hữu khuynh, phản động ... vì ý kiến khác có nghĩa là phản đề hay bị coi là phản đề của các giá trị Mác-Lê), toàn trị (đảng kiểm soát mọi hoạt động xã hội, từ văn hoá đến kinh tế, ... và tất nhiên là chính trị), chuyên chính (buộc tất cả các thành viên của xã hội phải chấp nhận các quyết định "đúng đắn" của đảng) và dùng bạo lực cách mạng để trấn áp (với bộ máy bạo lực khổng lồ : quân đội, công an nhân dân). Công cụ để thực hiện lý thuyết này là đảng cộng sản, với uy quyền tuyệt đối, đảng có mặt ở mọi nơi, kiểm soát tất cả, từ sản xuất đến phân phối (bao tử con người), từ giáo dục đến văn hoá (tư tưởng con người); tất cả đều phải chính thống (theo đúng quan điểm, chính sách của đảng), phải có ý kiến của đảng. Chế độ này có lẽ không khác các chế độ độc tài tôn giáo là bao (có người gọi là độc tài toàn thủ). Sự sụp đổ của bức tường Bá-linh kéo theo sự sụp đổ của hệ thống giá trị Mác-Lê, đảng cộng sản Việt Nam mất đi chỗ dựa lý thuyết, ngày nay họ vá víu bằng "tư tưởng Hồ Chí Minh" (mặc dù ông không có tư tưởng, ông chỉ là một nhà hoạt động cách mạng : những bài viết của ông đã chứng minh điều này) hay theo đuôi các nước láng giềng để ca tụng các "giá trị phương Ðông" (mà trước đây, trong thời bao cấp họ coi là các tàn dư của phong kiến, ông Khổng bỗng nhiên được sơn son thếp vàng bởi những người không phải là đồ đệ của ông !). Chủ nghĩa vô sản hoàn toàn mất đi giá trị lý thuyết của nó. Lý thuyết không còn nhưng đảng vẫn còn và vẫn cai trị như xưa, đây là chuyện "từ chuyên chính vô sản đến độc tài (đảng trị)". Trong một chế độ đảng trị, khẩu hiệu "hãy làm giàu đi" có nghĩa là các đảng viên (cao cấp) phất lên nhanh chóng vì có quyền (đảng trị) mới có nhiều cơ hội làm giàu và trở thành các nhà tư sản, do cái gốc vô sản của họ nên ta gọi là tư sản "đỏ". Với nền kinh tế thị trường thì đảng không còn nắm được cái bao tử của nhân dân nữa, để tiếp tục cai trị một cách độc đoán thì họ phải dựa vào guồng máy bạo lực (quân đội, công an), điều này có nghĩa là sự quân phiệt hoá chế độ (sự kiện bộ Nội Vụ được / bị đổi tên thành bộ Công An là sự kiện đầy ý nghĩa, sự kiện trong bộ Chính Trị có nhiều thành viên quân đội, công an là một chứng minh khác). Những nhận xét trên chứng minh là chế độ đã và đang từ chuyên chính vô sản đến độc tài quân phiệt đỏ. Theo từ ngữ dân gian thì có thể nói huỵch toạc là chế độ "tiền và súng" như các chế độ độc tài Á, Phi khác mà thôi.
· 2. Thay đổi tương quan lực lượng giữa hai giai tầng thống trị - bị trị : Sự từ bỏ chế độ bao cấp, đi theo kinh tế thị trường có nghĩa là đảng không còn nắm cái bao tử của nhân dân nữa. Sự tương đối độc lập về kinh tế sẽ dẫn tới những đòi hỏi bình đẳng khác, vì khi người dân làm ra của cải, đóng thuế thì họ có quyền đòi hỏi kẻ lấy tiền của họ làm việc nghiêm chỉnh, phù hợp với nguyện vọng của họ hơn. Kẻ cầm quyền (và cầm tiền) khi phải từ bỏ chế độ bao cấp có nghĩa là họ không còn cái quyền sinh sát nữa; càng ngày họ sẽ càng cảm thấy bị lệ thuộc vào người làm ra của cải và không phải lúc nào họ cũng có thể ép buộc nhân dân vào khuôn phép của họ bằng cách lôi công an ra dọa. Một thí dụ là để tránh suy thoái thì phải động viên nhân dân đầu tư, nhưng với một chính sách kinh tế lúc đóng, lúc mở, tiền hậu bất nhất thì khó có ai dám hết sức làm ăn. Kẻ cầm quyền cũng có thể lừa mị nhân dân vài lần nhưng không thể làm mãi được và hậu quả thì khó lường và không phải chỉ có người bị lừa là bị thiệt hại, chính kẻ lừa cũng ở trong tình trạng bi đát; kinh tế phá sản thì trước tiên là nhân dân lãnh đủ, nhưng kẻ cầm quyền cũng khó thể an ổn. Hậu quả của các lần đổi tiền, đánh "tư sản mại bản", ngăn sông, cấm chợ trước đây đã chứng minh điều này. Tóm lại, nếu chính quyền hiện nay vẫn tiếp tục thói quen trấn áp nhân dân, bằng các biện pháp hành chính hay dùng bạo lực (công an) thì mâu thuẫn nhân dân - chính quyền ngày càng trở nên sâu sắc và tính đối kháng càng cao. Hơn nữa, khi kẻ cầm quyền không còn nắm được cái bao tử của mọi người thì điều này có nghĩa là tương quan lực lượng đã thay đổi với hậu quả là khả năng bùng nổ lớn hơn, mặc dù nhất thời có lẽ còn nhiều người với thói quen sợ hãi mà không thấy được điều này. Ðây là mâu thuẫn giữa giai tầng bị trị và giai tầng thống trị. Dưới chế độ nào cũng có mâu thuẫn này, với chế độ dân chủ thì mâu thuẫn này được giải quyết bằng cách định chế hóa và bằng thương thảo trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và vì ích lợi chung, với chế độ độc tài thì bằng phương tiện trấn áp, tạo thành một nồi hơi lớn với sức bùng nổ ngày càng cao.
· 3. Sự phân hóa xã hội : Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự tăng trưởng kinh tế dẫn tới sự phân hóa xã hội thành nhiều giai tầng, thậm chí các giai cấp, với các khác biệt, đối kháng quyền lợi; cách biệt giàu nghèo ngày càng lớn. Ðể tự nhiên thì dẫn đến tình trạng cá lớn nuốt cá bé, các tranh chấp diễn ra trong hỗn loạn và bạo động, với phản kháng, nổi loạn và đàn áp; chế độ trở thành chế độ của các con cá mập và lịch sử là sự lập lại thời kỳ tư bản tự phát ở Âu châu cách đây hơn hai trăm năm. Sự khác biệt, nếu có, chỉ là hình thức, mũ áo, các chủ thuyết chính trị đậm mùi dân tộc quá khích (tả hay hữu), chỉ là các hình thức khác của chủ nghĩa quốc xã, tư bản "đỏ" thời nay chính là tư bản "đen" thời phát xít mà thôi.
· 4. Trồi, sụt kinh tế : Chấp nhận kinh tế thị trường có nghĩa là chấp nhận rủi ro, trồi sụt của kinh tế. Khi tăng trưởng thì mọi người hăm hở làm ăn, ít để ý đến những bất công xã hội, khi khủng hoảng kinh tế, nhiều người rơi vào tình trạng phá sản, có muốn làm ăn cũng không được, chia cách giàu nghèo càng lớn, bất công xã hội tăng lên, đột xuất và rõ nét hơn; từ đó dẫn đến biến động xã hội đầy tính bạo động và dễ trở thành biến động chính trị. Sự tăng trưởng kinh tế không chỉ đơn thuần là đem lại của cải cho nhiều người, khiến cho ai nấy hồ hởi, lạc quan cho rằng "thời kỳ đói khổ vĩnh viễn qua rồi", mà lại đặt ra vấn đề quản lý chính sự tăng trưởng này, những yếu kém, sai lầm tất sẽ phải trả giá rất cao là khủng hoảng kinh tế (đây là khủng hoảng tăng trưởng, đă sẩy ra và còn chưa chấm dứt tại một số nước châu Á).
· 5. Sự chi phối của kinh tế thị trường (KTTT) : Thành quả của sự "cởi trói" kinh tế (có nghĩa là đi theo KTTT) khiến cho ai nấy tưởng đâu là cơ hội thành rồng đã đến và - vô tình hay cố ý - người ta rất ít đề cập tới sự chi phối của nền kinh tế này (người ta thêm vào cái đuôi "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" không phải là không có hậu ý) cũng như các điều kiện để phát triển kinh tế thị trường. Một trong các điều kiện là sự lành mạnh hoá cơ chế kinh tế, bao gồm cả cơ chế chính trị : giải thể các xí nghiệp quốc doanh, giảm chi phí nhà nước (hành chính, quốc phòng, công an, ngân sách giành cho đảng, ...), công khai hoá chi thu, .... Tất nhiên, những điều gì đụng tới "đảng" là "có vấn đề" !. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và quyền lợi của "đảng" (hiểu theo nghĩa một nhóm nhỏ nắm toàn quyền sinh sát trong tay) là thường trực và lâu dài, nếu cơ chế chính trị hiện nay vẫn tiếp tục tồn tại.
· 6. Hậu quả của các chính sách thời bao cấp : Không kể thời kỳ 45-54 là thời kỳ chiến tranh, từ 54 tới nay, đảng CSVN (Cộng Sản Việt Nam) nhắm mắt áp dụng cnxh (chủ nghĩa xã hội) với sự "sàng qua, sàng lại" (khi theo Liên Xô, khi theo Trung quốc) và với đặc thù dân tộc (tính chất phong kiến nông dân), khiến cho quốc gia lâm vào tình trạng phá sản trên mọi lãnh vực, tứ bề nát bét (đạo lý, giáo dục, kinh tế, chính trị ...). Từ 1986 tới nay, sự "cởi trói" kinh tế khiến cho có tăng trưởng kinh tế, nhưng hậu quả của sự phá sản trên các lãnh vực khác vẫn tiếp tục và không ai biết phải giải quyết, hồi phục ra sao (nhất là về giáo dục). Hơn nữa, ngay cả sự tăng trưởng kinh tế cũng không có nghĩa là dân tộc ta sắp thành rồng : cần xem xét các nguyên nhân của sự tăng trưởng này : chỉ là sự khai thác (quá tải) và sự bán đổ, bán tháo tài nguyên thiên nhiên hay còn có các nguyên nhân khác lành mạnh hơn.
· 7. Những căn bệnh trầm kha : cảm tính người Việt, tinh thần cam chịu, phe phái, thiếu văn hoá chính trị, thói quen chỉ biết thu vén cho cá nhân ... Trong một xã hội bình thường, những căn bệnh này có lẽ chỉ là cá tính của một dân tộc và có lẽ không mấy cản trở đà phát triển xây dựng đất nước; trong hoàn cảnh hiện nay, điều này trở thành các trở ngại lớn : trước mắt cần thực hiện dân chủ để giải phóng sức dân làm bàn đạp xây dựng đất nước, nhưng khi dân ta còn quá cận thị thì làm sao vận động họ tham gia thực hiện ?.
· 8. Hậu quả của chiến tranh : Trong vòng 34 năm (1945-1979), dân tộc đã phải trải qua 4 cuộc chiến tranh (chống Pháp, chống Mỹ, tại Cam-bốt và chiến tranh biên giới Việt-Trung). Hậu quả đối với một dân tộc chậm tiến như dân ta thật khốc liệt và lâu dài, cả về vật chất lẫn tinh thần. Khi nói tới hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam đối với Hoa Kỳ, kẻ cầm quyền và nhiều người Việt thường chế nhạo người Mỹ với "hội chứng Việt Nam" nhưng họ không buồn ý thức được rằng những thiệt hại của dân tộc ta phải nhân lên nhiều lần. Một trong các hậu quả là tinh thần hận thù vẫn còn đè nặng trong tiềm thức dân tộc; một thí dụ là chuyện "rừng cờ" (vàng) mới đây ở Cali, người ta hoan hô, phấn khởi tưởng đâu như là cơ hội giải phóng dân tộc đã tới hay đả đảo với các nhãn hiệu "phản động", "chống lại nhân dân" như thường lệ và có người thì chỉ biết chê bai (cũng như thường lệ). Hầu như không ai coi đây là một vấn đề phải nêu lên, giải quyết (ít nhất là trên lý thuyết) : đây là một vấn đề ý thức chính trị (chống, theo cộng) hay chỉ là tâm lý chính trị (hận thù và phe phái : hậu quả của chiến tranh và của chính sách thống trị của kẻ cầm quyền) và nhất là làm sao xây dựng cơ chế chính trị mới (có nghĩa là xoá bỏ chế độ hiện nay) trong ổn định, nhất là trong thời kỳ chuyển tiếp, khi tinh thần "cờ vàng", "cờ đỏ" vẫn ẩn nấp trong tiềm thức của rất nhiều người và chỉ đợi dịp là bùng lên ?. Ðây là chuyện của người không biết mình cận thị và giải quyết khuyết tật của mình bằng cách đi mua kiếng mầu (vàng hay đỏ) về đeo !.
Tất nhiên tương lai Việt Nam cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh quốc tế. Tình hình quốc tế cũng có những khuynh hướng phát triển cơ bản :
· 1. Khả năng chiến tranh trong vùng đông Á : Trên bình diện toàn vùng, tại châu Á, ngoài khối ASEAN được lập nên một cách gượng ép dưới áp lực của Mỹ, liên lạc ngoại giao (và cả thương mại, mặc dù ngày nay có khuynh hướng phát triển) giữa các nước lỏng lẻo, mỗi nước chỉ biết lo lấy thân, rất khó để tập hợp hay thương thuyết giải quyết những tranh chấp. Hơn nữa, sự tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia trong vùng với tinh thần tư bản "đỏ" (đặc biệt là Trung quốc) hay tinh thần quốc gia quá khích dẫn tới khả năng chiến tranh trong vùng, là sự lập lại những tranh chấp giữa các quốc gia tại Âu châu thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Lô-gích cá lớn nuốt cá bé trên bình diện quốc gia sẽ được phát triển, lập lại trên bình diện quốc tế, Trung quốc đang đi trên con đường nguy hiểm này và về mặt địa lý chính trị, hoàn cảnh ngoại giao thì có khả năng Việt Nam là nạn nhân đầu tiên. Sau 1975, chính sách bỏ rơi vùng châu Á của Hoa Kỳ được tiếp tục cho tới nay và không thấy có dấu hiệu rõ rệt nào để có thể nghĩ là họ thay đổi chính sách; hơn nữa, tinh thần thực dụng thương mại của họ có vẻ được áp dụng tối đa. Do đó, các "rồng", "hổ" kể cả con hổ đói Bắc Hàn có nhiều đất dụng võ. Tất nhiên cũng có khả năng có các cuộc chiến tranh cục bộ khác trên thế giới, nhưng vì ít có ảnh hưởng tới Việt Nam nên không đề cập tới trong bài.
· 2. Sự toàn cầu hoá : điều này có nghĩa là kinh tế các nước sẽ phụ thuộc lẫn nhau, sự cạnh tranh kinh tế trở nên rất quyết liệt, chỉ có những nền kinh tế mạnh mới sống được mà thôi, các nước nghèo thì tiếp tục thân phận xin ăn của họ và càng ngày càng chìm sâu trong kiếp nợ như chúa chổm và phải xin xoá, hoãn nợ, tiếp tục xin ăn mà thôi. Ngoài kinh tế, sự toàn cầu hoá này sẽ diễn ra trên nhiều lãnh vực khác, đặc biệt là về văn hoá; dù muốn dù không tiếng Anh (và có lẽ cả nền văn minh cơ đốc giáo của họ) vẫn ở thế thượng phong và ngày càng phát triển ảnh hưởng trên thế giới. Về mặt chính trị thì tất nhiên là thế cờ có nhiều thay đổi lớn : đối với các nước chậm tiến thì thời kỳ các nước nô lệ tưởng đâu chỉ cần đấu tranh giành độc lập là "toàn thắng ắt về ta" và vĩnh viễn về ta đã qua rồi; những phụ thuộc kinh tế, văn hoá, ngoại giao, chính trị và cả quân sự vẫn tiếp tục (có thể có những dạng mới khác) và thưòng sẽ trầm trọng hoá mà thôi; có thể có ngoại lệ nhưng rất hiếm hoi, đòi hỏi những cố gắng lớn và những điều kiện bên ngoài thuận lợi.
· 3. Sự chia vùng kinh tế : đây là một giai đoạn của sự toàn cầu hoá kinh tế. Khả năng chia thành 3 vùng kinh tế : vùng đồng đô-la, euro và yen ngày càng trở nên hiện thực với những hậu quả chính trị và địa lý chính trị tất nhiên của nó : vùng châu Á (đông Á), vùng châu Âu (tây Âu) và châu Mỹ (bắc Mỹ). Ba trung tâm Washington (trên thực tế là New York), Berlin và Tokyo tất nhiên có vai trò trọng yếu. Nét đặc thù của vùng châu Âu là Nga và vùng cực đông (Balcan) cộng thêm cái đuôi châu Phi làm thành thế gọng kìm ép tây Âu vào giữa. Nét đặc thù của vùng châu Á là Trung quốc với đồng yuan có tham vọng rất lớn và là tham vọng chính trị nhiều hơn tham vọng kinh tế (khoảng cách giữa tham vọng chính trị và tham vọng kinh tế chính là một vấn đề cơ bản của vùng, là một động cơ thúc đẩy chính quyền Trung Quốc có chính sách ngoại giao ngày càng hung hăng). Những đặc thù ở châu Âu và châu Á có thể có những đột biến tạo nên những trở ngại cho sự phát triển kinh tế vùng, thậm chí ổn định trong vùng. Riêng châu Mỹ với cái đuôi nam Mỹ thì không thấy có những dấu hiệu thay đổi (đuôi vẫn là đuôi), có thể đây là một thành công của những người làm chiến lược ở Washington.
· 4. Thế giới thứ tư : Kinh tế thế giới chia thành ba vùng phát triển, vùng còn lại là thế giới của nghèo nàn, lạc hậu hay không theo kịp đà phát triển kinh tế này, với đại đa số các nước châu Phi, một số nước ở Trung Ðông, châu Á, Mỹ la tinh và thuộc vào khối Liên Xô trước đây. Ðể tránh số phận bi thảm này thì về mặt giải pháp cá nhân, họ lập thành các đoàn quân tỵ nạn kinh tế còn trên bình diện quốc gia thì có lẽ họ không có cách nào khác là tự sát và cố kéo theo một phần nhân loại về chầu giời chung với họ; đây là "vũ khí của kẻ nghèo" và ai có thể lên mặt đạo đức, tự cho mình cái quyền trách họ ?, và cũng tất nhiên là không thể chỉ giản dị tố cáo tội ác của tư bản và hô hào "vô sản thế giới đoàn kết lại" vì "cái bướu" của tư bản rất lớn nhưng "cái bướu" của các nước này cũng to không kém và lại là các căn bệnh trầm kha từ muôn đời tới nay !. Cũng cần nhắc lại là Việt Nam vẫn còn thuộc diện các nước nghèo nhất thế giới.
· 5. Những hậu quả của sự sụp đổ của khối XHCN (xã hội chủ nghĩa) : đây là sự chấm dứt đấu tranh ý thức hệ, đại đa số các nước này từ bỏ sự áp đặt mô hình lý thuyết một chế độ không tưởng (mà thực tế chỉ là các chế độ độc tài); trở về với sự phát triển bình thường của cuộc sống, chấp nhận đòi hỏi dân chủ hoá xã hội, từ bỏ nền kinh tế bao cấp, hoạch định, chấp nhận nhu cầu phát triển kinh tế bình thường (kinh tế thị trường). Các đảng cộng sản tại các nước khác, nhất là ở tây Âu, đều phải tức tốc xét lại cơ sở lý thuyết của đảng và tối thiểu là từ bỏ chuyên chính vô sản. Tất nhiên vẫn còn dư âm của chế độ XHCN và nhất là còn lại 4 nước thuộc loại "chó đen giữ mực". Về mặt lý thuyết thì không còn điều gì để phải tranh cãi cả, dùng từ ngừ thương mại thì "chủ nghĩa đã sập tiệm"; trong 4 nước cộng sản còn lại thì người ta vẫn phải bấu víu vào chủ nghĩa vì họ không có cái gì để thay thế (bế tắc lý thuyết), nhất là họ không thể thừa nhận chủ nghĩa sai vì điều này có nghĩa là họ sai, nhưng họ lại nhất định không chịu sửa (từ bỏ chủ nghĩa). Do đó chẳng cần gì phải "tố cộng" cho mất công, dùng hình ảnh thì sau cơn mưa, nên kiếm cái gì khác để che nắng chứ không nên tiếp tục dương cây dù che mưa !. Ðiều cần giải quyết là vì sao lý thuyết cộng sản không còn nhưng chế độ cộng sản vẫn còn ?.
· 6. Những hậu quả của sự chấm dứt chiến tranh lạnh : ngoài sự kiện là hậu quả của sự sụp đổ của khối XHCN còn có viễn ảnh chính trị của sự chấm dứt chiến tranh lạnh. Không còn thế giới nhị nguyên, nhưng phải chăng trở thành thế giới nhất nguyên hay thế giới đa nguyên ? với tất cả những hậu quả, xấu và tốt, của nó. Câu trả lời tùy thuộc vào tham vọng chính trị của Hoa Kỳ và phản ứng của các cường quốc hạng nhì còn các nước "tép riu" thì tiếp tục "đu giây" trong điều kiện mới, hạn hẹp hơn. Cũng có khả năng thế giới "tả phí lù", nước mạnh "đì" nước yếu; để tránh khả năng này và để giữ ổn định trong vùng, ngày nay có khuynh hướng can thiệp liên quốc gia như tại Irak, Nam Tư hay Nam Dương. Ðiều này có nghĩa là phải xem xét lại quan niệm chủ quyền quốc gia và không phải cứ khư khư bảo vệ quan điểm cổ điển này là đúng và có lợi cho đất nước; hiện nay, kẻ cầm quyền vẫn bảo vệ quan điểm này và đây thực sự là điều ngu xuẩn vì ngày nay Việt Nam là một nước yếu, rất cần thế giới để bảo vệ chính cái chủ quyền lãnh thổ mà sau 1975 người ta tưởng là vĩnh viễn độc lập và toàn vẹn lãnh thổ (mặc dù tác giả rất thận trọng trong việc dùng từ ngữ, nhưng không có từ nào khác ngoài từ "ngu xuẩn" để diễn tả cả).
· 7. Khuynh hướng dân chủ hoá : Từ trên 10 năm nay, thế giới bước vào thời kỳ mới, thời kỳ dân chủ hoá chế độ chính trị với rất ít bạo động, nổi dậy. Trước đây, ít ai có thể tưởng tượng rằng sự thay đổi chế độ lại không cần phải làm cách mạng lật đổ; đối với những người thiên tả thì ai có ý nghĩ này sẽ tức khắc bị gắn nhãn hiệu "thoả hiệp hữu khuynh" vì cách mạng (lật đổ chế độ) phải là "sự nghiệp của quần chúng" với "bạo lực cách mạng" theo đúng lời dậy của Lê-nin. Có 2 khuynh hướng dân chủ hoá : từ sự tự sụp đổ của các nước XHCN và từ nhu cầu dân chủ hoá xã hội của các nước khác. Trong hoàn cảnh Việt Nam thì câu hỏi đặt ra cho dân tộc là có cần làm cách mạng dân chủ lật đổ chế độ hay có cách khác; và câu hỏi đặt ra cho những người lãnh đạo đảng CSVN thì làm sao họ có thể "trụ" được để chống lại nhu cầu dân chủ hoá đang phát triển ở mức độ toàn cầu ? và phải chăng là họ đặt sai vấn đề vì cái ghế của họ không nhất thiết phải "trụ" lại trong cái cơ chế chính trị thối rữa hiện nay ?, hơn nữa phải chăng họ sẽ ở hoàn cảnh của người tham lam "muốn có tất cả, nhưng rốt cuộc sẽ mất tất cả" ?.
· 8. Môi sinh : Ngày nay, người ta bắt đầu thấy được hậu quả của ô nhiễm (mưa a-xít, trái đất nóng hơn ...). Trong hoàn cảnh của các nước đang phát triển, sự tăng trưởng kinh tế cũng có nghĩa là phá hủy thiên nhiên (phá rừng), làm mất cân bằng sinh thái (xây các đập nước vĩ đại), tăng chất phế thải và tại các nước này người ta thường không ý thức được sự tai hại của nó và tất nhiên là không, ít có các biện pháp thích ứng. Tại các nước phát triển, người ta có khuynh hướng "đổ nợ" qua các nước khác (như đổ rác hoá học, kỹ nghệ, dời chỗ các nhà máy hoá học, ... với chất thải có độ ô nhiễm cao ...) và tất nhiên là qua các nước chậm tiến. Chống ô nhiễm và bảo vệ môi sinh là một vấn đề toàn cầu, trong đó kẻ khôn ngoan và có thế lực là người thủ lợi nhiều hơn cả !. Riêng Việt Nam là một nước đất hẹp, người đông, nhu cầu phát triển kinh tế lớn, nên vấn đề trở nên khẩn cấp và nghiêm trọng; ngoài ra, kẻ cầm quyền không ý thức được vấn đề (cứ ngù ngờ coi rừng là hoang dã, còn đất (làm ruộng) mới là văn minh, theo lối suy nghĩ nghìn xưa "khai sơn, phá thạch, dựng nước" ! ).
Trên đây là những đặc điểm, khả năng và khuynh hướng thời đại, tại Việt Nam và trên thế giới. Trong hoàn cảnh này, đâu là mục tiêu, phương hướng, phương pháp và biện pháp xây dựng đất nước, tương lai dân tộc ?. Trước đây, người ta lấy mục tiêu của chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu của mình (xây dựng thiên đường cộng sản), lấy phương hướng xây dựng chủ nghĩa làm phương hướng của mình (xoá bỏ giai cấp phong kiến, tư sản, "chế độ là chế độ của giai cấp công nhân"), lấy phương pháp và biện pháp Mác-Lê làm của mình (bạo động, bạo lực, triệt để, diệt tận gốc các mầm mống của chủ nghĩa tư bản). Ngày này, mục tiêu, phương hướng, phương pháp và biện pháp không thay đổi, người ta chỉ tý toáy áp dụng thủ đoạn "lùi một bước" (chấp nhận kinh tế thị trường) của Lê-nin mà thôi (cái đuôi "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" chứng minh điều này). Về lý thuyết, đây là điều rất nguy hiểm và tai hại vì sự ngoan cố rắp tâm đi theo một chủ nghĩa không tưởng, sai lầm, đầy bạo động và hủy diệt con người, dân tộc để khi "tình hình chín mùi" thì người ta sẽ lòi cái đuôi chủ nghĩa vô sản ra và dân tộc chỉ còn biết "ô hô, ai tai" mà thôi. Về thực tế, lịch sử sẽ đi hướng khác vì ngay cả những kẻ cầm quyền, với mũ áo cách mạng ra trò và sau khi đã vơ vét được một mớ của cải thì chỉ muốn được chính thức hoá (công nhận quyền tư hữu) cái của cải cuỗm được này mà thôi. Xét cả về lý thuyết và thực tế thì đây là chuyện đầu voi, đuôi chuột hay ngược lại và chỉ có thể có kết luận là không thể kéo dài cái chế độ này được, dân tộc cần phải "ô hô, ai tai" cái chế độ này, càng sớm càng tốt, nếu không muốn các dân tộc khác tội nghiệp và nói xã giao "ô hô, ai tai" trước cái (xác không) quan tài của mình.
Ðể xác định mục tiêu, cần phải xem xét nhu cầu hiện tại và tương lai của xã hội; trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam thì cần xem xét ba nhu cầu : dân chủ, phát triển và hiện đại. Ðể tìm ra các phương hướng, cần xem xét các đặc điểm, khả năng và khuynh hướng tại Việt Nam và trên thế giới cũng như sức lực, tiềm năng của dân tộc. Phương pháp, biện pháp là công việc của các chuyên viên.
Về quan niệm, quan điểm toàn bộ thì điều cần tránh là tinh thần cực đoan, quá khích, triệt để, thủ cựu, hẹp hòi, hận thù ... với các phương châm "tránh đổ vỡ, bạo động không cần thiết", "trong hoàn cảnh hiện có, tìm cái tối ưu, tốt nhất cho tất cả", "không tiêu diệt con người, kể cả những kẻ tồi tệ nhất, đáng treo cổ nhất", mục đích là "xây" (dựng cơ chế, tổ chức) chứ không phải là "diệt" (con người, giai cấp) ...
II.1. Dân chủ.
Lý thuyết cộng sản không còn, nhưng chế độ cộng sản vẫn còn (chế độ độc tài đảng trị với nguyên tắc chuyên chính vô sản). Phải chăng dân ta chỉ cần có phở húp là được rồi, còn chuyện dân chủ là "chuyện của tây" ?. Trong dân gian, khi đảng ta nói về "dân chủ" thì người ta thường nói đùa lại là "dân chửi"; điều này chứng tỏ dân ta cũng cần dân chủ như các dân tộc khác vậy, chẳng ai muốn sống như con giun, cái kiến cả; vả chăng, "con giun xéo mãi cũng quằn".
Trước khi xem xét vấn đề vận động dân chủ, cần xem xét trở lại quan niệm về thay đổi cơ chế chính trị. Trước đây, sự thay đổi cơ chế thường được hiểu là kết quả của một cuộc cách mạng đẫm máu nhằm giành chính quyền giữa giai cấp thống trị (phong kiến, tư bản) và giai cấp bị trị (tư bản, vô sản); kẻ thắng lên nắm trọn quyền, tìm cách tiêu diệt "trọn gói" địch thủ và kẻ bại chỉ còn nước chạy trốn (cách mạng 1789, cách mạng tháng Mười).
Trong xã hội phong kiến Việt Nam trước đây, sự thay đổi cơ chế có nghĩa là triều đại cũ xuống, triều đại mới lên, đây là "mệnh trời", với kết quả "được làm vua, thua làm giặc". Trong xã hội Việt Nam, từ cận đại tới nay, tinh thần phong kiến (vua, giặc) vẫn còn và được / bị trầm trọng hoá bởi "cuộc chiến đấu một mất, một còn" giữa "địch" (thực dân, phong kiến, xâm lược, tư bản) và "ta" (dân tộc, bị áp bức, vô sản), để giải quyết chuyện "ai thắng ai" (đấu tranh giai cấp) và khi giai cấp vô sản nhẩy lên vũ đài chính trị, tự xưng vô địch thì không thể có chuyện xuống vũ đài làm người bình thường được vì giai cấp này còn phải "làm nhiệm vụ lịch sử" là "tiêu diệt giai cấp tư bản" (được dịch nôm na là "đào tận gốc, bật tận rễ"). Ðối với những người theo các chế độ cũ ở miền Nam trước đây thì vì thua nên ở trong cảnh "nước mất, nhà tan" và tất nhiên mang mối hận phục thù (tìm cách lật đổ chế độ đương thời, khôi phục lại triều đại đã mất; hệt như Nguyễn Ánh chống nhà Nguyễn Tây Sơn vậy).
Ngày nay, ý nghĩa của cơ chế và thay đổi cơ chế gồm ít nhất hai điểm : 1) xây dựng cơ chế (mới) để thực hiện nhân quyền và dân quyền, 2) cơ chế trước tiên là cách tổ chức, điều hành xã hội và cải tổ cơ chế là cải tổ cách tổ chức, điều hành cho phù hợp với quan niệm, hoàn cảnh mới (nhân bản, bình đẳng hay cải tiến hiệu quả ...) khi cần thiết. Ðiều này có nghĩa là tách rời những vấn đề về tổ chức và quyền lợi của giai tầng thống trị bám víu vào cơ chế kiếm lợi. Xây dựng cơ chế mới không có nghĩa là tiêu diệt giai tầng thống trị hiện nay, cũng không có nghĩa là phục thù. Xây dựng cơ chế mới không có nghĩa là xây dựng lại chế độ cũ ở miền Nam trước đây (các chế độ cũ cũng chỉ là các chế độ ít nhiều độc tài hay quan lại mà thôi). Rất có thể là trong chế độ mới, những người cầm quyền hiện nay vẫn tiếp tục cầm quyền, đây không phải là điều quan trọng, điều quan trọng là có cơ chế chính trị dân chủ để thực hiện nhân quyền và dân quyền mà thôi.
Tất nhiên, nếu nhóm cầm quyền vẫn mù quáng vì quyền lợi trước mắt mà thẳng tay tiêu diệt tất cả những khuynh hướng đòi cải cách thì công cuộc vận động dân chủ hoá có thêm vấn đề phải giải quyết : đấu tranh và đề ra chiến lược đấu tranh thích ứng.
Có bốn cản trở lớn trong công cuộc vận động dân chủ hoá :
1. Cơ chế cung đình.
Sau khi giành được độc lập, cơ chế cũ bị thay thế bởi cơ chế chính trị mới, về tổ chức thì dựa theo mô hình các nước XHCN, về thực chất thì đây chỉ là sự tiếp nối cơ chế cung đình mà thôi. Triều đình được thay thế bởi bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng, hậu cung là những kẻ nắm được guồng máy tổ chức đảng (như ban tổ chức) và các phe phái quyền lợi nằm trong bóng tối giật giây. Mỗi phe phái đều có các con chủ bài riêng như nắm được tật xấu cá nhân của đối thủ (như thích gái, có "bồ nhí" - là tội "hủ hoá" -, ăn hối lộ, lem nhem tiền bạc...) hay xử dụng thủ đoạn chụp mũ thường thấy. Có trường hợp kẻ có quyền thừa biết là có người bị kết tội oan, như tội theo chủ nghĩa xét lại, nhưng không dám bênh vì sẽ tức khắc bị phe kia truy vào cùng tội và vì ở thế yếu hơn nên đành "trơ mắt ếch" thôi. Chuyện cụp lạc nhất và dễ thấy nhất là cứ mỗi lần đại hội bầu ban chấp hành và bộ chính trị là có vị đang mạnh khoẻ và có nhiều triển vọng vào bộ chính trị bỗng dưng đột tử vì bệnh hiểm nghèo gì đó, dân gian chẳng hiểu ra sao (cơ chế dân chủ chính là để giải quyết vấn đề đột tử này thông qua định chế và các qui tắc điều hành). Có lẽ những người lãnh đạo đảng cũng thừa biết thôi, nhưng vấn đề là làm sao giải quyết và nhất là làm sao để các phe phái cùng chấp nhận xoá bỏ các thủ thuật này trong luật chơi của họ, khi đã trở thành thông lệ từ bao năm nay trong các cuộc đấu đá nội cung và dưới con mắt các phe phái khác thì kẻ từ bỏ thủ thuật này chỉ là kẻ ngáo thôi và sẽ tức khắc bị "làm thịt". Tất nhiên đàng sau các cuộc đấu đá này là quyền hành, bổng lộc với sự tham gia tích cực của đám kiêu binh thời đại ở bộ Công An và một số tướng tá trong quân đội. Tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng (hãy xem diễn tiến các kỳ đại hội gần đây : khi chia ghế thì thường bất phân thắng bại và phải kéo dài đại hội) vì có nhiều phe phái quyền lợi và không phe nào đủ mạnh để "làm chủ" cả, đây là tình trạng sứ quân tân thời của chế độ ta, điều này cũng giải thích vì sao thường có trường hợp kẻ lãnh đạo cao nhất lại có vẻ rất khù khờ (sự khù khờ trở thành một bảo đảm để người này không thể làm hại phe nào cả). Một khi xoá bỏ được cái luật chơi quái ác này thì công cuộc dân chủ hoá đảng mới có cơ thực hiện được. Hiện nay, không thấy ai có đủ can đảm, khả năng và uy quyền chính trị để làm chuyện này.
2. Chế độ toàn trị.
Nội cung đã vậy, ngoại cung chỉ là cánh tay nối dài của nội cung. Chế độ được tổ chức nhằm thực hiện chuyên chính vô sản trên toàn xã hội : đảng là nòng cốt (đảng lãnh đạo), dưới đảng có đoàn (thanh niên cộng sản) là chân tay và là hậu duệ của đảng, còn nhà nước chỉ là công cụ để thực hiện các quyết định của đảng; sau đảng-đoàn, nhà nước là các tổ chức quần chúng (mặt trận tổ quốc, các hội đoàn như hội nhà văn, phụ nữ, các tổ chức tôn giáo quốc doanh ...).
Tất nhiên để có bộ máy kiểm soát khổng lồ này thì phải chi tiêu rất lớn và ngày nay, trong nền kinh tế thị trường thì điều này trở thành mâu thuẫn giữa guồng máy tổ chức và hiệu năng kinh tế (giá thành sản phẩm); nền kinh tế này sẽ thẳng tay trừng trị những ai không tuân theo qui luật phát triển của nó.
Tất nhiên trong cơ chế này cũng có rất nhiều quan - quan đảng, quan đoàn, quan bộ, quan hội và cả quan việt kiều ! - và vì dân ta rất thích làm quan nên rất ngại thay đổi chế độ chính trị vì sợ mất cái chức quan !.
Ngoài ra, để bảo đảm tính chất toàn trị của chế độ, đảng thẳng tay đàn áp tất cả các tổ chức tư nhân, dân lập; bất cứ một ý định thành lập tổ chức nào không chịu sự khống chế của đảng cũng đều bị trấn áp, kềm chế (một thí dụ là trước đây sự phá sản của nền giáo dục nhà nước đã khiến cho một số giáo chức hảo tâm muốn thành lập đại học dân lập Thăng Long nhưng cũng bị nghi ngờ, làm khó dễ đủ chuyện).
3. Tinh thần cam chịu.
Xưa nay dân ta thường có câu "nắng mưa là chuyện của giời" và do đó dân đen thì chỉ biết chịu đựng khi có hạn hán hay bão lụt khiến cho mất mùa, thiếu ăn. Chuyện giời đã vậy, chuyện người thì cũng thế thôi, vua là con giời (thiên tử), vua bảo sao thì tôi ("dân ngu, khu đen") nghe vậy. Chuyện xưa đã vậy, chuyện nay là tiếp nối chuyện xưa !. Mọi chuyện trước tiên là phải "đội ơn đảng" đã, có muốn đi kiếu nại thì trước tiên phải cờ quạt, hình ảnh rất tôn ti trật tự giống như ngày xưa đi kiện quan vậy. Dân đã thế, sĩ phu thì cũng còn người chỉ muốn dâng sớ thôi, mỗi lần dâng sớ thì phải gõ đầu xuống sàn binh binh, vua không chịu nghe thì lại binh binh !. Tới khi được tý gì đó thì ai nấy hỉ hả vui cười vì vua thương dân, vua nghe (bầy) tôi !. Ðiều này có vẻ như chuyện tiếu lâm và có lẽ có nhiều độc giả cho là chuyện diễu (dở) cho vui thậm chí có người nổi nóng cho là coi thường dân tộc. Nhưng nên ngẫm nghĩ lại vì ngoài phần cường điệu có thể có nhưng nhận xét trên vẫn bàng bạc thể hiện tinh thần cam chịu từ hàng nghìn năm nay của dân tộc ta. Thật khác xa với liên hệ chính quyền - nhân dân ở tây phương : đây là tinh thần kế ước giữa người cai trị và người bị trị và kế ước này chỉ là kế ước có nhiệm kỳ. Tất nhiên dân ta không phải chỉ biết cúi đầu, khi nổi đoá lên (người sính dùng từ ngữ cách mạng thì là "tình hình đã chín mùi") sẽ nổi loạn, khả năng bùng nổ, bạo loạn là có khi xét tính khí của dân tộc (chính vì tính khí dân ta kỳ dị nên ngay cả các cường quốc số một, số hai trên thế giới là Mỹ và Pháp phải ôm đầu máu chạy dài và không hiểu tại sao một dân tộc bề ngoài có vẻ yếu đuối, ngơ ngáo lại có thể đuổi họ đi), tình trạng kinh tế bấp bênh và chính sách trấn áp triệt để hiện nay.
4. Thu vén cá nhân.
Từ tinh thần cúi đầu cam chịu dẫn tới việc tìm kiếm những giải pháp cá nhân. Người ta thường tự an ủi rằng trong thời kỳ bao cấp, đói khổ là thế nhưng vẫn chịu đựng được nên ngày nay dù sao vẫn hơn ngày xưa !. Do đó, chẳng nên bỏ chuyện "quốc gia đại sự" vào cái đầu nhỏ bé của mình làm gì vì nếu "có vấn đề" thì chỉ khổ thân, cứ áp dụng câu "vạn sự bất như ỳ" là yên thân. Trong thời kỳ chiến tranh, có lẽ sự tìm kiếm những giải pháp cá nhân là điều cần thiết vì cả hai phe đều lo đánh nhau và mặc xác thường dân với số phận hẩm hiu của họ, nhưng trong công cuộc xây dựng đất nước thì cần phải áp dụng câu "thất phu hữu trách", chế độ chính trị phải do họ (đấu tranh) dựng nên, nếu không thì họ chỉ nên cúi đầu cam chịu đựng tiếp cái số phận hẩm hiu của họ mà thôi (người phương tây có câu "chính quyền nào, dân tộc ấy").
Ngoài ra, còn có những cản trở lớn khác, nhất là những khó khăn của chính cuộc vận động dân chủ hoá này như cách tiếp cận, giải quyết vấn đề, nhận thức chính trị thấp kém, ... của người Việt, chưa cần đề cập tới trong bài này.
Từ các nhận định trên, công cuộc vận động dân chủ hoá xã hội Việt Nam đòi hỏi những giải pháp thích ứng riêng.
Xây dựng thể chế chính trị dân chủ là công trình của các chuyên viên như luật sư, chuyên viên tổ chức, hành chính ..., tác gỉa không dám lạm bàn. Mong đợi độc giả bổ túc phần này.
Về cụ thể có 4 lãnh vực cần thay đổi : 1) chuyển đổi và dân chủ hoá cơ chế chính trị (thực hiện tổng tuyển cử lập hiến), 2) dân chủ hoá nông thôn, 3) dân chủ hoá đảng CSVN, chuẩn bị để đưa đảng này trở về vị trí một chính đảng trong một chế độ đa đảng, 4) dân chủ hoá xã hội : xây dựng xã hội công dân. Bốn điểm này đã được trình bầy trong bài "thực hiện dân chủ trong ổn định".
II.2. Phát triển.
Vì dân ta đi từ tình trạng "không có gì" (chế độ bao cấp dẫn đến sự phá sản toàn diện), ngoại trừ kinh tế cần xét riêng (từ vài năm nay ở tình trạng "có tý của"), còn tất cả các lãnh vực khác đều phải xem xét và định hướng phát triển đi từ tình trạng phá sản này.
Có hai khía cạnh trong công cuộc phát triển : 1) xác định mục tiêu và phương hướng thực hiện, 2) đề ra chương trình, biện pháp cụ thể. Tất nhiên đây là công trình to lớn của cả dân tộc, trong phần này tác giả chỉ xin có vài gợi ý về mục tiêu, phương hướng và vài biện pháp cụ thể trên 3 lãnh vực : giáo dục, y tế và kinh tế :
· Về tổng thể, giáo dục, y tế và kinh tế là ba lãnh vực chủ chốt trong công cuộc phát triển kinh tế nói chung; tất nhiên những cải cách trên cách lãnh vực khác như thể chế chính trị, cơ chế hành chính, chính sách ngoại giao, ... và ngay cả tiềm lực quốc phòng cũng có tác dụng của nó. Trong công cuộc phát triển, có lẽ cần chia thành hai phạm vi : phần chủ lực, nặng tính chuyên môn và phần ngoại vi với các tác dụng gián tiếp (không nhất thiết là không hay kém quan trọng). Ý nghĩa của sự phân chia này nằm trong việc xác định chỉ số phát triển có cơ sở lành mạnh (khác với chỉ số tăng trưởng kinh tế rất phiến diện), xây dựng các dự án cụ thể liên hệ và việc xác định ngân sách quốc gia giành cho công cuộc này.
· Trong công cuộc phát triển, điểm quan trọng hàng đầu tất nhiên là con người, có nghĩa là khả năng của họ và sự tạo điều kiện để phát triển khả năng của họ (giáo dục); thành công kinh tế của Nam Hàn, Ðài Loan đã chứng minh điều này, sự phục hồi và phát triển sau chiến tranh của Nhật Bản, Tây Ðức cũng chứng minh điều này. Ðể làm việc (học tập, sản xuất) có hiệu quả thì phải có sức khỏe, do đó tất nhiên cần có nền y tế đáp ứng được nhu cầu; hơn nữa, nạn sida với tình trạng bi thảm của một số nước Phi châu khiến cho vấn đề càng khẩn cấp hơn. Hai nhận định này cho thấy tính liên hệ mật thiết của giáo dục, y tế và kinh tế trong công cuộc phát triển.
Về giáo dục
· Trước tiên đây là sự phá sản về chất lượng giáo dục, người có bằng cấp ngày nay nhiều như lá mùa thu và chỉ khổ người hốt rác vì cái nạn bằng cấp này; chương trình giáo dục thấp kém, chỉ chú trọng "đạt chỉ tiêu", thiếu trường (có khi trường được dùng làm cơ sở thương mại), thiếu thầy và nếu có thầy thì họ còn phải lo kiếm thêm.
· Sự phá sản này là hậu quả của chính sách "chính trị là thống soái" của đảng và nhà nước (với cái "lửng lơ" trên đầu là ban văn hoá tư tưởng trung ương đảng) từ thời lập quốc cho tới nay; với tinh thần "làm chủ tập thể" nên ngày nay, người ta chỉ "dương mắt ếch" ra nhìn và lờ tịt trách nhiệm của mình mà thôi.
· Một khía cạnh khác là chính sách đãi ngộ, nâng điểm con, em những người "có công với cách mạng"; đây là chính sách quái dị, phân biệt đối xử, hoàn toàn là phản ứng của tinh thần chia chác kiểu "được làm vua" (sau chiến tranh, tất nhiên phải có các chính sách giúp đỡ những nạn nhân chiến tranh và đặc biệt là nhũng người đã có những hy sinh, nhưng tất nhiên không thể có những đãi ngộ kiểu này); hậu quả tai hại của nó là sự góp phần hình thành giai tầng thống trị theo kiểu "đội ơn đảng" và đám này sẽ rất hung hăng trấn áp tất cả những khuynh hướng cải cách bất lợi cho họ.
· Về phía dân gian thì mạnh ai nấy lo xoay sở kiếm tiền đóng các học phí, sổ vàng, sổ bạc cho con cái, còn trình độ giáo dục ra sao thì ít ai có thì giờ và khả năng xem xét, học sinh thì chúi nhũi học đủ thứ theo thời trang và lời đồn đại dân gian với hy vọng kiếm được việc làm tốt sau đó, còn cái nền giáo dục này có đáp ứng được mong muốn của họ hay không thì không ý thức được; kẻ có thế lực và tiền bạc thì lo chạy chọt cho con cái đi du học, tìm cách "chuồn" khỏi cái nền giáo dục thổ tả này. Nền giáo dục Việt Nam ở trong tình trạng bát nháo khó tả !.
· Trước từ tình trạng phá sản hiện nay thì trước tiên phải tính chuyện phục hồi và sau đó đề ra phương hướng phát triển.
· Phướng hướng phục hồi : sự phục hồi nền giáo dục quốc gia đòi hỏi rất nhiều thời gian để thực hiện và có được tác dụng, do đó cần phải có các phương hướng cứu vãn : 1) "cởi trói" giáo dục, từ bỏ chính sách bao thầu giáo dục, khuyến khích mở trường tư , 2) Tăng ngân sách giáo dục, tăng lương giáo viên (để họ khỏi phải "kiếm thêm"), 3) Kêu gọi các nước tiên tiến mở trường ngoại ngữ, kỹ thuật và sự tài trợ của họ với nguyên tắc là họ toàn quyền quản lý, kiểm soát (để tránh các quan ta "bỏ túi" viện trợ), 4) Phát triển các chương trình giáo dục ngắn ngày, tạo thành hệ giáo dục ngắn ngày, 5) Xem xét khả năng đóng góp của việt kiều.
· Một số biện pháp cấp thiết : 1) Thành lập các "thư viện điện tử" trên Internet, 2) Phát triển ngành thư viện, 3) Xử dụng tối đa các trường học hiện có, tăng cường trang bị, mở rộng cửa để nhân dân tự học, 3) Xoá bỏ chính sách tuyển lựa công chức theo bằng cấp và thiết lập chế độ thi tuyển (một cách để loại trừ "bằng ma").
Về y tế
· Với cái nhìn bề nổi thì nạn trẻ em thiếu dinh dưỡng, sida trở nên trầm trọng, tình trạng thiếu vệ sinh và thiếu cả ý thức về vệ sinh vốn là chuyện muôn thủa của dân ta, sự phá sản của nền giáo dục tất nhiên khiến cho thiếu chuyên viên y tế và họ có trình độ chuyên môn thấp kém, ngoài ra những người tật nguyền hay bị các bệnh tật hậu quả của chiến tranh cũng vẫn còn chịu cảnh thiếu thốn y tế. Rất khó để có cái nhìn chính xác về tình trạng y tế hiện nay, vì thiếu thống kê và rất khó làm thông kê vì dân ta khi có bệnh thì "chạy thầy, chạy thuốc" theo lối chữa bệnh dân gian, còn việc vào nhà thương, đi bác sĩ theo dõi thường xuyên là chuyện hiếm hoi và thậm chí khi vào nhà thương thì bệnh đã trở nên trầm trọng chỉ còn nước mua hòm mà thôi.
· Trong công cuộc phục hồi, ngoài các phương hướng trong lãnh vực y tế cũng cần có các phương hướng trong các lãnh vực khác : 1) giáo dục y thức vệ sinh, trong đó có việc phổ biến kiến thức y học thường thức, 2) cải tiến, xây dựng hệ thống lọc nước, thoát nước (rất thiếu ở khu vực đồng bằng miền bắc và miền núi), đây chính là một biện pháp giữ vệ sinh, phòng bệnh căn bản, 3) xây dựng hệ thống phòng khám bệnh di động, rất cần thiết cho những vùng hẻo lánh, 4) xem xét lại và cải tiến hệ thống y tế hiện tại : nâng cấp bệnh viện, 5) xem xét lại và nâng cấp trình độ chuyên môn của bác sĩ, y tá, 6) nâng đỡ y tế người nghèo, 7) khuyến khích, phát triển các phòng khám bệnh, nhà thương tư.
Về kinh tế
· Trước khi xem xét phương hướng phát triển, cần đặt lại một số câu hỏi lớn : 1) phải chăng chính sách "cởi trói" kinh tế đã bắt đầu hết hiệu nghiệm (khả năng xoay sở làm ăn của người dân không phải là vô hạn), 2) phải chăng hậu quả của khủng hoảng kinh tế châu Á tại Việt Nam có tính cách chậm nhưng lâu dài, điều này có nghĩa là đầu tư ngày càng giảm và trong ngắn, trung hạn không có triển vọng khá hơn, 3) phải chăng sự khai thác thiên nhiên bắt đầu trở thành qua tải, về nông nghiệp sự sản xuất nông sản (lúa gạo) tăng cũng có nghĩa là diện tích rừng giảm tới mức báo động (nạn phá rừng), 4) phải chăng hiện nay, kinh tế Việt Nam ở trong tình trạng bát nháo (như các nền kinh tế mới tăng trưởng khác), sự phát triển tùy thuộc vào tình hình, nhu cầu nhất thời và điều này có nghĩa là không có phương hướng phát triển (rất khó để có phán đoán rõ nét về hướng phát triển của nó; các bài nghiên cứu kinh tế thường chỉ giải thích tình hình nhất thời, còn về bề sâu của nền kinh tế này ra sao thì hầu như không có - có thể là do thiếu dữ kiện, cũng có thể là chính nền kinh tế này không có hướng phát triển -).
· Trước đây người ta chỉ biết nhắm mắt áp dụng chủ nghĩa với công thức cổ điển "điện, than" của Lê-nin, điều này có nghĩa là phải kỹ nghệ hoá kinh tế và là kỹ nghệ nặng (như luyện kim), cơ khí và tưởng đâu như chỉ có phương hướng này là đúng đường lối, chính sách (của đảng), ai dám nghĩ khác đều là phản động, xét lại cả !. Trong cái đầu óc đặc sệt chủ nghĩa của họ thì không thể có những điểm đặc thù của nền kinh tế Việt Nam !. Về toàn bộ nền kinh tế thì họ áp dụng các chính sách tập thể hoá như hợp tác xã nông nghiệp, xí nghiệp quốc doanh và quyết liệt tiêu diệt "phú, hào, địa chủ", "tư sản mại bản" với các chiến dịch đấu tố ("địa chủ" ở nông thôn) và diệt trừ "tư sản mại bản", chụp cho họ cái mũ tay sai của đế quốc Mỹ (ở thành thị miền Nam, sau 75), chiến dịch đổi tiền cũng là một chính sách gián tiếp thu của cải toàn xã hội vào cái túi nhà nước xã hội chủ nghĩa để các quan cách mạng phung phí (và tất nhiên kiếm chác) vào các dự tính vĩ đại của họ (theo các quan chức ngoại giao, người ta dự trù là sau 15 năm, 1975-1990, Việt Nam bắt kịp Nhật Bản, với dự tính tổ chức thế vận hội tại thành phố Hồ Chí Minh và có kế hoạch triển khai trường đua Phú Thọ cho công cuộc này) !. Hậu quả tất yếu của các quan điểm, phướng hướng, chính sách kinh tế này là sự phá sản toàn bộ nền kinh tế vốn đã bị tàn phá vì chiến tranh. Ngày nay, người ta chỉ biết ngậm miệng, cười xoà với hàm ý xin xí xoá lỗi lầm nghiêm trọng này !.
· Trước sự phá sản này, kẻ cầm quyền chỉ còn nước vứt chổng kềnh các chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa (như hợp tác xã) và để mặc nhân dân tự xoay sở, từ nông dân (cho làm khoán) tới cán bộ (cho phép lập đủ thứ "quĩ" để kiếm chác). Ý nghĩa của "kinh tế thị trường" chẳng qua chỉ giản dị như vậy thôi. Ngày nay, người ta lại tý toáy muốn gắn cái đuôi "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" với hàm ý khi khấm khá thì tung một mẻ lưới, thu của cải (tư bản) về làm vốn tiếp tục giấc mơ xây dựng thiên đường cộng sản; cái chủ nghĩa mà tuyệt đại đa số dân tộc đã vứt vào thùng rác lịch sử. Về lý thuyết, không rõ đầu óc kẻ cầm quyền có bị sứt mẻ, tật nguyền gì không mà lại có suy tính như vậy; về thực tế có lẽ chỉ giản dị là chuyện lo cho cái chỗ để ngồi của họ không có điểm tựa mà thôi !.
· Trở lại tình hình kinh tế hiện nay với giả thuyết đây là nền kinh tế không phương hướng, sự trồi, sụt hoàn toàn tùy thuộc vào thị trường nội địa và quốc tế. Ðể có thể có hiệu quả tối ưu và hướng dẫn nền kinh tế này đi theo chương trình phát triển kinh tế dài hạn mong muốn, cần có những chủ động lèo lái : ý thức được tính chất nhất thời của nó và phát triển theo phương châm "từ không tới có và từ có tới có cơ sở vững chắc, về địa bàn hoạt động cũng như chất lượng ...". Thí dụ : về mặt hàng quần áo, giầy dép, trước đây Việt Nam chưa xuất cảng, ngày nay đã có thì bước phát triển tiếp theo là phải cải tiến chất lượng, thêm nhiều mặt hàng, phát triển địa bàn hoạt động ... và đặt câu hỏi "đâu là chỗ đứng, hiện tại và trong tương lai, của hoạt động kinh tế này trong nền kinh tế quốc gia ? ", từ đó có chính sách nâng đỡ, hướng dẫn vừa tầm, phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế chung. Có thể coi như là một "chiến lược linh động" nhằm đáp ứng tình hình hiện có trong khi chờ đợi chiến lược toàn bộ và dài hạn. Tất nhiên, nếu người cầm quyền không quan tâm tới thì nghành này cũng có thể phát triển nhờ những cố gắng cá nhân, nhưng tính nhất thời, may rủi cao và là chuyện "nắng mưa là chuyện của giời" của dân ta.
· Kỹ nghệ hoá nông nghiệp : sự phát triển kinh tế sẽ kéo theo sự kỹ nghệ hoá nông nghiệp, đây là điều tự nhiên sẽ tới. Một vấn đề cần cấp thiết xem xét và giải quyết là nạn thừa người ở nông thôn (có nghĩa là dư sức lao động cơ bắp).
· Lành mạnh hoá cơ cấu sản xuất : giải tư các xí nghiệp quốc doanh. Ðây là điều đã được nhiều tác giả đề cập tới nên ở đây không cần đi vào chi tiết.
· Pháp lý hoá nền kinh tế thị trường : công nhận quyền tư hữu. Ðộng cơ phát triển kinh tế thị trường là lợi nhuận, do đó tất nhiên là phải định chế hoá, pháp lý hoá của cải của cá nhân làm ra; chẳng ai dại gì làm hết sức mình để rồi sau đó trắng tay vì đảng trở mặt, đi theo "định hướng xã hội chủ nghĩa" tịch thu của cải của họ và ngay cả về mặt pháp lý họ cũng không kiện cáo gì được. Ðiều này có nghĩa là đảng phải bỏ cái đuôi "định hướng" ấm ớ này; giữa kinh tế thị trường và xã hội chủ nghĩa thì đảng phải chọn một, giống hệt như câu trả lời của đảng về chuyện "ai thắng ai" vậy.
· Một hệ quả của sự công nhận quyền tư hữu là phải tư hữu hoá nông nghiệp với chương trình thay thế chính sách làm khoán bằng cách cấp ruộng đất cho dân cầy và công nhận quyền sở hữu của họ.
II.3. Hiện đại.
Có hai khía cạnh trong công cuộc hiện đại hoá đất nước : Việt Nam mở và Việt Nam mới. Làm sao để mở cửa, hội nhập với thế giới, giới hạn những thiệt hại do sự yếu kém của chúng ta và nhân lên những thuận lợi do sự hoà nhập này mang lại. Làm sao để hiện đại hoá khi tất cả mọi lãnh vực đều cần thay đổi để theo kịp người, trong hoàn cảnh một nước không đủ lớn, như Trung quốc, để có thể tập trung vốn phát triển và hiện đại hoá theo điểm trước khi triển khai công việc này theo diện; vả chăng cũng không nhất thiết là con đường của Trung quốc là duy nhất đúng, cũng không có gì để bảo đảm là con đường này không chứa đầy cạm bẩy, bùng nổ xã hội với những hậu quả khó đo lường. Việt Nam mở và Việt Nam mới là hai khía cạnh liên quan mật thiết với nhau, dưới đây xin trình bầy một số ý :
· Cải tổ cơ chế nhà nước : 1) xoá bỏ chế độ "con bạch tuộc", ăn bám nhân dân : đảng, đoàn, nhà nước, hội quốc doanh ... 2) trong sạch hoá chính quyền : công khai hoá ngân sách, xây dựng lại chế độ kiểm tra, xoá bỏ các thứ "quĩ", "sổ vàng" với các biện pháp thay thế, áp dụng chính sách một thứ thuế thống nhất trên toàn lãnh thổ, 3) giảm người, biên chế, 4) xây dựng, bồi dưỡng chuyên viên hành chính, 5) từng bước tự động hoá hành chính (dùng tin học).
· Về giáo dục : 1) cần xây dựng chương trình giáo dục có chất lượng về chuyên môn (khoa học, kỹ thuật...) và khôi phục đạo đức, luân lý, 2) một nền giáo dục tự trị, nhất là ở mức độ đại học, 3) tạo điều kiện thuận lợi để nhanh chóng tiếp thu kiến thức, kỹ thuật của các nước tiên tiến, kể các việc lập các trường do các nước này trực tiếp quản lý.
Nhu cầu thời cuộc buộc chúng ta phải có chương trình giáo dục có chất lượng, đào tạo được các chuyên viên có trình độ về mọi mặt và cũng cần phục hồi đạo lý con người; đây là chương trình dài hơi, cần thực hiện từng bước và có thể có trọng điểm (vì khả năng giới hạn). Ðể thực hiện nền giáo dục tự trị, cần xoá bỏ chính sách đem chính trị vào học đường, mà thực chất là đem công an vào học đường nhằm đề phòng và trấn áp một phong trào học sinh, sinh viên có thể có. Việc chấp nhận các trường do ngoại quốc quản lý có nghĩa là từ bỏ cái tự ái vặt vãnh của các nước mới giành được độc lập, cho mình có thể làm được tất cả và nhất là phải từ bỏ cái văn hoá ngoại lai không có mùi dân tộc này (ngày nay, người ta đã quên đi điều này và các quan lớn, với tinh thần thực dụng rất cao, chỉ lo cho con cái mình được đi du học còn ngoài ra thì kệ xác nền giáo dục giành cho dân gian). Nếu cần xin viện trợ thì giáo dục phải được ưu tiên và nên để nước viện trợ có quyền kiểm soát (tránh tình trạng ăn cắp viện trợ).
· Về y tế : 1) xây dựng nền y tế tự quản, nhà nước chỉ có vai trò kiểm soát, 2) chấp nhận nhà thương tư, kể cả nhà thương do nước ngoài quản lý, 3) giáo dục, phổ biến y học, vệ sinh thường thức, 4) nâng cấp nhà thương công và hệ thống y tế, 5) sử dụng tối đa các biện pháp nhằm giảm giá dược phẩm (như dùng các dược phẩm đã hết hạn bản quyền), y tế, 6) khuyến khích thể thao và coi là một cách phòng bệnh, 7) từng bước xây dựng chế độ bảo hiểm sức khoẻ (giống như tại các nước tiên tiến) với chính sách nâng đỡ người nghèo.
· Về kinh tế : 1) Tiếp tục giải thể các xí nghiệp quốc doanh, tữ hữu hoá nền sản xuất (kể cả nông nghiệp), 2) Tiếp tục thực hiện chương trình kỹ nghệ hoá nông nghiệp, 3) Tiếp tục xây dựng hạ tầng cơ sở, đặc biệt trong công cuộc bảo vệ môi sinh, 4) Nghiên cứu, thử nghiệm đầu tư và đầu tư vào một số ngành kỹ nghệ mũi nhọn như tin học, sinh học, 5) Xây dựng hệ thống tín dụng, ngân hàng và đặc biệt nâng đỡ nông dân, 6) Xoá bỏ các chế độ độc quyền như chỉ phát cô-ta gạo cho những xí nghiệp quốc doanh, 7) Từng bước giải thể các tổ chức kinh tài của đảng, đoàn, nhà nước, quân đội, công an : đây là vấn đề nguyên tắc tổ chức của một nhà nước thực sự dân chủ và do đó không thể chấp nhận chuyện sử dụng quyền lực chính trị (của bất cứ tổ chức chính trị nào, tập đoàn thống trị nào) để hôi của, để thực hiện các điều này tất nhiên cần tránh các xáo trộn có thể có, 8) Về tổ chức, cho phép thành lập các hiệp hội kinh tế tư nhân, độc lập với chính quyền như công đoàn, nông hội ....
Trong công cuộc xây dựng kinh tế, đối với các nước tiên tiến, vì nền kinh tế của họ đã cất cánh nên có lẽ chỉ cần quản lý và hướng dẫn, nâng đỡ một số ngành hoạt động kinh tế. Ðối với các nước chưa phát triển như Việt Nam, công cuộc phát triển kinh tế đòi hỏi phải xác định các mục tiêu, phương hướng (trước tiên là để đạt mục đích cất cánh kinh tế); mục tiêu kinh tế trở thành mục tiêu chính trị. Ðể thực hiện mục tiêu cần phải có nhiều cố gắng, thậm chí hy sinh và để động viên được dân tộc chấp nhận việc này thì một chế độ độc tài, thối nát từ trên xuống dưới, chỉ biết ăn bám nhân dân tất không làm được; đây chính là một ý nghĩa của dân chủ trong công cuộc xây dựng kinh tế.
· Về văn hoá : mở cửa có nghĩa là chấp nhận các nền văn minh, văn hoá của nhân loại và nhất là văn hoá Anh. Bản sắc và hội nhập là một vấn đề thường trực và lâu dài, cần phải xem xét và đề ra các hướng phát triển cần thiết. Giữ bản sắc dân tộc không có nghĩa là thỉnh thoảng lên cơn động kinh đưa ra chiến dịch "bài trừ văn hoá đồi trụy, phản động" (với hậu ý chính trị và là bề nổi của các cuộc đấu đá trong nội cung), rất ồn ào và tốn tiền của nhân dân. Hội nhập không phải chỉ biết uống coca và nói "thank you" khi được người cho tiền !. Ðây là công việc của cả dân tộc, về phần người cầm quyền thì phải chấp nhận, tạo ra cái không gian tự do tối thiểu cho người làm văn hoá, trái ngược với cái nền văn hoá, văn nghệ minh họa xã hội chủ nghĩa hiện nay. Tất nhiên kẻ cầm quyền rất sợ cái tự do cho người cầm bút vì khi được tự do, người này sẽ chê họ dốt trước mặt nhân dân và đây là một lý do khiến họ tiếp tục chính sách "đì" các văn nghệ sĩ. Hơn nữa, tự do có nghiã là khai phóng con người, trong khi kẻ độc tài chỉ muốn người nghệ sĩ ở trong cảnh cá chậu, chim lồng để xoè vây hay hót cho họ vui mắt, vui tai mà thôi. Hậu quả tất yếu của chính sách này là đám con ông, cháu cha có phương tiện tiếp xúc các nền văn hoá khác sẽ đem về cho dân tộc cái món cháo văn hoá hẩu lốn với rất nhiều cặn bã và kẻ cầm quyền thì tất nhiên là áp dụng câu "con hát cha khen hay". Ngoài khó khăn chủ quan này còn có khó khăn khách quan rất cơ bản là dân tộc ta không phải là một dân tộc có nền văn hoá riêng; cho tới nay, văn hoá dân tộc chỉ là văn hoá vay mượn và được đơn giản hoá. Hiện nay, công cuộc hiện đại hoá văn hoá là qua tải so với khả năng của dân tộc và cách tiếp cận thực tế nhất là phải học hỏi, nghiên cứu và cố gắng sàng lọc các nền văn hoá khác với hy vọng là các thế hệ sau tiếp nối, phát huy công cuộc này.
· Về ngoại giao : trong thời bao cấp, người ta áp dụng chính sách ngoại giao đóng cửa, thế giới bên ngoài được coi là thuộc về tư bản với các con cá mập tư bản lớn nhỏ, cần phải cảnh giác và chỉ biết chơi với phe ta mà thôi, mặc dù phe ta cũng "đá hậu" anh em vài cái nên thân !. Tới thời "đổi mới", đảng mới hì hục áp dụng chính sách mở cửa với rất nhiều khó khăn vì thời kỳ 1975 là thời kỳ thế giới mở cửa tiếp đón Việt Nam (với nhận định dân tộc Việt Nam đã có đủ sức đánh Mỹ thì tất có khả năng xây dựng đất nước) đã qua rồi và dân ta hiện nguyên hình là một dân tộc chậm tiến thường thấy và do đó đụng vào thì chỉ tổ bị đổ nợ hay bị xin tiền !. Ngày nay, cửa đã mở nhưng kẻ lãnh đạo cứ thập thò trước cửa không dám ra đường, vì ra đường thì phải chọn hướng đi và họ không biết phải đi hướng "đông" hay hướng "tây" để tránh "gặp gái" súi quẩy cả đời và nhất là cái chỗ ngồi của họ không chừng không "trụ" được !. Ngày nay, biết "chọn bạn mà chơi" là một vấn đề hệ trọng có tính chiến lược trong công cuộc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và phát triển kinh tế; không biết thì kẻ cầm quyền không nên bắt nhân dân phải "thí mạng cùi" cho họ khi bị ăn đấm, ăn đá. Ðiều đáng buồn là vận mạng của gần 80 triệu người lại chỉ tùy thuộc vào đám người thiển cận và ngù ngờ như vậy.
· Về quân sự : một câu hỏi đặt ra là phải chăng quân đội nhân dân đang ở trong tình trạng "quân bận, súng gỉ" : quân "bận" làm kinh tế, "súng gỉ" vì việc bảo hành quân trang, vũ khí vốn là một khó khăn của một dân tộc chưa có trình độ kỹ thuật cao do đó ý thức bảo hành không cao. Hơn nữa, cần xem lại quan niệm, chiến lược quân sự : cho tới nay, chúng ta vẫn còn nằm trong khuôn khổ của chiến tranh nhân dân (giành lại đất nước, với lục quân là chủ yếu) và nhìn trong lịch sử thì cũng chỉ nằm trong khuôn khổ của cuộc chiến tranh vệ quốc, bảo vệ địa phận (đất liền). Ngày nay, khả năng có chiến tranh ngắn ngày (các "cú đấm" trừng phạt, "cho Việt Nam một bài học") rất lớn và không còn chỉ diễn ra trên đất liền mà chủ yếu là trên biển, hải đảo và trên không; quan niệm, chiến lược mới và khả năng của quân đội ra sao là một câu hỏi căn bản khác (nói cách khác là chúng ta đã biết dùng "trường trận", còn "đoản binh" là một câu hỏi rất lớn). Một vấn đề khác của chiến tranh ngắn ngày là nguồn tiếp liệu phải nhanh chóng, không để xẩy ra tình trạng vũ khí tiếp vận tới thì quân ta đã đầu hàng từ lâu; hiện nay vũ khí của ta đi từ Nga với đường xá xa xôi và về kỹ thuật cũng không phải là đã hiện đại đáp ứng được nhu cầu mới. Hơn nữa, quân sự và ngoại giao có liên hệ mật thiết, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay. Trong quan niệm quân sự hiện đại, việc sử dụng kỹ thuật có vai trò rất lớn, việc này đòi hỏi rất nhiều thì giờ huấn luyện và do đó thường có khuynh hướng chuyên nghiệp hoá quân đội (quân cần tinh nhuệ chứ không cần đông đảo, trái với quan niệm quân đội nhân dân, cần huy động nhiều người).
· Ðiều cơ bản nhất trong công cuộc xây dựng và hiện đại hoá đất nước vẫn là con người : làm sao để thực hiện nhân quyền và dân quyền cho tất cả mọi người, trong đó người Kinh dù là đa số nhưng chỉ là một bộ phận trong các cộng đồng sống trên mảnh đất này, về kinh tế cũng như về tinh thần, nhân phẩm; làm sao để hàn gắn các vết thương chiến tranh vẫn chưa lành và làm sao để phát triển con người Việt Nam, không mặc cảm tự ti và tự tôn, trong hoàn cảnh thế giới ngày nay. Ðể thực hiện điều này thì tối thiểu phải có tinh thần, chính sách thực sự đại nhân, đại nghĩa và có đại trí; trái với các luận điệu tuyên truyền của kẻ cầm quyền về "hoà giải và hoà hợp dân tộc" thời 1975 và tự tôn mình là "đỉnh cao trí tuệ loài người" mà dân tộc đã quá biết cái mặt trái của nó.
· Tất nhiên, công cuộc hiện đại hoá có cái giá phải trả của nó. Sự giúp đỡ của người có nghiã là sự phụ thuộc vào người. Sự mở cửa, hội nhập với thế giới trong hoàn cảnh yếu kém về mọi mặt của Việt Nam có nghĩa là chịu sự chi phối, ảnh hưởng của người. Câu hỏi đặt ra là có con đường khác hay không ?. Hơn nữa, trên bình diện thế giới, ngày nay trong hoàn cảnh toàn cầu hoá, có nước nào là hoàn toàn tự chủ ?. Hiện đại hoá là sự cân đo, tính toán lợi hại trước mắt và lâu dài và cũng là nghệ thuật lèo lái; mong rằng dân tộc còn người đủ sáng suốt để thực hiện công cuộc này.
Về mặt tổ chức, những phương hướng đề nghị trên nhằm hai mục tiêu chính :
1. Giới hạn, xoá bỏ cơ chế chính trị, tổ chức nhà nước độc tài toàn trị hiện nay với cái cơ chế con bạch tuộc của nó và thực hiện dân chủ hoá xã hội, trong đó có công cuộc xây dựng thể chế chính trị dân chủ. Ðây là công việc thường trực, lâu dài và việc thực hiện phải có tính liên tục, tránh gây xáo trộn không cần thiết. Ðối với dân tộc, công cuộc dân chủ hoá là điều mới mẻ, thậm chí chúng ta chưa ý thức được đủ tầm sâu, rộng của vấn đề.
2. Hiệu năng hoá guồng máy tổ chức nhà nước. Trong hoàn cảnh cạnh tranh quyết liệt trên mức độ hoàn cầu, để có một chỗ đứng, tất nhiên phải hiệu năng hoá guồng máy này. Công cuộc này đòi hỏi sự tiến hành từng bước và đồng bộ giữa nhiều lãnh vực như hành chính, kinh tế, xã hội.
Tóm lại, mục đích của dân chủ hoá xã hội (trong đó có chế độ chính trị) là để giải phóng sức dân, tạo tiền đề cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, mục đích của phát triển là để mọi người "ăn no, mặc ấm", có cái tối thiểu và mục đích của hiện đại hoá là để theo kịp người, để con người Việt Nam có cuộc sống đáng gọi là con người với đầy đủ tự do, nhân phẩm và có nhiều điều kiện để phát triển tài năng.
Dân chủ, phát triển và hiện đại là 3 bước phát triển trong tiến trình xây dựng đất nước, có liên hệ mật thiết, mặc dù là 3 giai đoạn nhưng không nhất thiết phải thực hiện từng bước. Mong rằng tiến trình này không quá ảo tưởng như cái bánh vẽ thiên đường cộng sản mà dân ta đã được thưởng thức, với trăm cay, nghìn đắng.
Sau khi viễn du với những dự tính có phần lạc quan về tương lai của dân tộc, cần thiết phải trở lại thực tế với tương lai đầy trắc trở hiện nay. Nhìn về đại thể thì trên đầu dân ta hiện nay có 3 ông thần : ông thần nợ, ông thần lợi và ông thần ác.
· Ông thần nợ : thời chiến tranh và bao cấp thì dân ta đi vay nợ, xin ăn (viện trợ) và (tìm cách) quịt nợ với cái giá phải trả là xương máu của nhân dân và hiện nay vẫn chưa hết nợ (Nga vẫn còn kỳ kèo về chuyện này). Ngày nay người ta hăng hái vay nợ tứ tung để đầu tư với ông chủ nợ chính là các tổ chức tài trợ quốc tế, Nhật Bản và với dự tính là khi thành rồng thì dư tiền trả. Những bất trắc của nền kinh tế thị trường, sự thiếu khả năng quản lý nền kinh tế này và chính khả năng phát triển hạn hẹp của nền kinh tế Việt Nam không cho phép chúng ta lạc quan quá lố như vậy được (mặc dù dân ta vẫn cứ hồ hởi vì ta đã có cái ăn, đã "ăn xung, mặc sướng" khác xa thời ngăn sông cấm chợ, phải ăn bo bo rồi !); một chứng cớ là Việt Nam vẫn phải xin các tổ chức quốc tế xoá, hoãn nợ và thường là Nhật Bản (có khi có cả Pháp) đóng vai trò nghĩa hiệp này. Hơn nữa, vay nợ có nghĩa là phụ thuộc, càng nợ nhiều thì càng phụ thuộc và sự phát triển kinh tế lành mạnh rất cần sự (tương đối) độc lập kinh tế. Sự vỡ nợ là điều đã xẩy ra tại nhiều nước trên thế giới, như Ba Tây, Mễ Tây Cơ và khả năng vỡ nợ của Việt Nam không nhỏ, khi xét về bề sâu của nền kinh tế này và nạn ăn cắp của công hiện nay. Do đó, cái "lửng lơ" trên đầu dân ta chính là ông thần nợ vậy.
· Ông thần lợi : để phát triển kinh tế tất phải mở rộng thương mại với các nước (như Hoa Kỳ), gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế (như WTO) và phải chấp nhận các điều kiện "có qua, có lại". Ðể mở rộng ngoại thương tất phải có nền kinh tế (tương đối) mạnh vì nếu không hàng ngoại sẽ bóp chết hàng nội, nhưng để lành mạnh hoá nền kinh tế này thì phải tư nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh, chiếm phần chủ yếu trong nền kinh tế quốc gia (60 %) và nhà nước phải thường trực bù lỗ cho các cái thùng không đáy này. Tư hữu hoá có nghĩa là các quan chức lớn nhỏ không còn kiếm chác được (vì không còn là "đồ chùa" nữa), do đó làm sao người ta chịu ?. Khi đầu tư vào một nước, tư bản ngoại quốc tất nhiên đòi xứ sở tại phải có luật lệ rõ ràng bảo đảm quyền lợi của họ, phải có thống kê, sổ sách, kế toán minh bạch để xem xét khả năng chi trả, tiềm năng kinh tế của người bạn hàng này; chẳng ai dại gì để cho chính quyền sở tại nhân danh "giai cấp vô sản" tịch thâu của cải của họ (như Lê-nin đã từng làm với Anh quốc) và không dự đoán được là người bạn hàng này ở trong tình trạng phá sản và tất nhiên là quịt nợ thôi. Nhưng làm sao rõ ràng khi chính sự mù mờ là màn khói che để phe ta kiếm chác ?. Do đó kẻ cầm quyền và cả các cố vấn không còn quyền cứ lửng lơ như con cá vàng khi phải quyết định ký hay không ký thoả hiệp thương mại với Hoa Kỳ. Quyền lợi "giai cấp" thường trực đối kháng với quyền lợi dân tộc và dù có tư hữu hoá để lành mạnh hoá nền kinh tế quốc gia hay không thì dân ta (những người đóng thuế) vẫn phải è cổ ra chịu, bù lỗ cho các quan chức ăn có mà thôi. Khi dân tộc có những oan ức thì phải "đội ơn đảng" và mong đảng bố thí cho tý quyền lợi cho đỡ khổ. Quyền lợi dân tộc tuỳ thuộc vào hỉ, nộ, ái, ố và sự đóng, mở cái túi tiền cá nhân của những người đang cầm quyền và cả những người đã về hưu. Do đó, cái "lửng lơ" trên đầu dân ta chính là ông thần lợi vậy.
· Ông thần ác : ngày nay, Trung quốc với chủ nghĩa bá quyền và chính sách ngoại giao hung hăng của họ thường tìm cách đe nẹt các xứ lân cận và có lẽ vì Việt Nam ở sát nách nên thường bóp mũi Việt Nam, năm ngày ba trận lại đấm đá cho mấy cái; thế là các vị lãnh đạo lớn, nhỏ của ta hộc tốc qua Bắc Kinh khấu đầu và vui mừng hớn hở vì được hứa hão là Trung quốc không thèm đánh nữa. Ðiều ngược đời là chính sách ngoại giao của họ vẫn phải theo đuôi Bắc Kinh, vì Trung quốc là anh hai XHCN "thứ thiệt", là "đồ xịn" chứ không phải là "đồ dỏm" như ông anh cả Liên Xô đã sập tiệm từ lâu, nên không theo anh hai thì còn biết theo ai ?. Trung quốc cũng hay áp dụng chính sách "súi trẻ ăn cứt gà" và không rõ vì sao các vị lãnh đạo anh minh của ta lại thường nghe lời họ. Mới đây, chuyện dùng dằng về việc ký hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ trước hay phải đợi Trung quốc đúng là chuyện dở khóc dở cười của dân ta. Hơn nữa, có lẽ Trung quốc cũng chả cần gì phải "thượng cẳng chân" làm gì, họ chỉ cần cúp nước thượng lưu sông Cửu Long hay sông Hồng, sông Ðà là dân ta đủ chết khát. Do đó, cái "lửng lơ" trên đầu dân ta chính là ông thần ác vậy.
Trước ba ông thần này thì trong hiện tại và tương lai, dân ta phải làm chuyện bái tả (thần ác), bái hữu (thần nợ) và tất nhiên là bái trung ương (thần lợi) vì ông thần này chính là đảng ta trọn quyền quyết định và là chuyện nghìn năm cúi đầu của dân ta.
Sau hiệp định Paris, người ta ngâm câu thơ
cổ : "Nam quốc sơn hà , nam đế
cư".
Viễn ảnh thời cuộc cho phép tác giả đổi
thơ : "Nam quốc sơn hà , nô lệ cư".