|
|
Ðề Cương Vận Ðộng Dân Chủ
Ðoàn Viết Hoạt
Mục Lục
PHẦN I: Tổng Cương Về Tầm Nhìn Lời Mở: Ba Mục Tiêu Ba Tư Tưởng Hướng
Dẫn A. Tầm Nhìn Thế Giới
Và Nhân Loại: B. Tầm Nhìn Việt Nam Thế
Kỷ 21 1. Việt Nam và Thế Giới 2. Xã Hội Việt:
PHẦN II: Việt Nam - Hiện
Trạng (2000) A. Trong Nước: B. Hải Ngoại:
PHẦN III: Tổng Cương
Về Sách Lược, Phương Thức Và Lộ
Trình Lời Mở A. Những biến đổi
chính trị có thể xẩy ra ở Việt Nam
B. Sách Lược Tổng Thể:
Toàn Dân, Toàn Diện và Toàn Cầu 1. Toàn dân: Trận Tuyến Quốc
Dân Việt 2. Toàn diện: Kinh tế thị
trường, văn hóa tự do, chính trị dân chủ 3. Toàn cầu:
C. Tổng quát về Phương
thức 1. Khảo Hướng về
Phương thức 2. Các Phương thức 3. Ba cuộc vận động:
quốc tế, hải ngoại, trong nước D. Ðại Cương Về Lộ
Trình thực hiện: 2000-2005 TỔNG KẾT *** PHẦN I: Tổng Cương
Về Tầm Nhìn
LỜI MỞ ÐẦU:
Cuộc vận động chính trị hiện
nay của chúng ta xuất phát từ hai nhận định
sau đây: (1) nếu chúng ta không vượt qua được
hận thù và ám ảnh của quá khứ, thay đổi
được hiện trạng, thì chưa tạo
được môi trường và cơ hội xây dựng
một tương lai xán lạn cho dân tộc; và (2) cơ
chế chính trị, kinh tế và văn hóa độc quyền
cộng sản hiện nay là nguyên nhân tạo ra tình trạng
bế tắc của đất nước, và do đó cần
phải được nhanh chóng gỡ bỏ.
Chúng ta thực hiện cuộc vận động
chính trị hiện nay xuất phát từ niềm tin vào
tiềm năng còùn chưa được khai phát của
dân tộc và vào vị trí chiến lược của
đất nước ta trong vùng Ðông Nam A¨ và A¨ châu
TBD. Chúng ta cho rằng dân tộc Việt đang có
được cơ hội phát triển chưa từng
co,ù nhưng cũng đang đứng trước một
thách thức to lớn. Liệu dân tộc chúng ta có kịp
vươn mình lớn dậy như là một quốc gia
vừa hiện đại, vừa có bản sắc, trước
khi bị tràn ngập dưới cơn sóng trào thời
đại, trong một nhân loại đang toàn cầu
hóa, và trước một thế giới biến đổi
từng ngày. Bài học quá khứ và bế tắc hiện
tại dường như chỉ minh chứng rằng dân
tộc ta vẫn chưa tìm được sinh lộ cho mình
trong thời đại mới. Cho tới trước khi
Pháp thuộc dân tộc ta mới chỉ hoàn thành
được cuộc Nam tiến, thống nhất
được đất nước về mặt địa
lý. Các vấn đề văn hóa, kinh tế, xã hội
và chính trị, kể cả việc khai thác tài nguyên
thiên nhiên, vẫn chưa được giải quyết
một cách căn bản và bền vững. Quá trình tiếp
cận Tây phương hơn một trăm năm nay
đem lại cho dân tộc ta những chất liệu tiến
bộ mới và các cơ hội thăng tiến chưa
từng có trong lịch sử, nhưng chúng ta vẫn chưa
vận dụng được những chất liệu và
cơ hội đó một cách tích cực và có hiệu
quả. Ngược lại cơn sóng trào Tây phương,
với cả tư bản lẫn cộng sản và những
luồng văn hóa, tư tưởng khác nhau, tranh chấp
và mâu thuẫn ngay trên đất Việt, đã làm
đảo lộn sâu sắc toàn bộ mọi mặt
đời sống của xã hội Việt. Người
dân Việt bị đun đẩy trong cơn sóng trào
đó suốt hơn một thế kỷ nay, với những
hy sinh mất mát vô cùng to lớn, để cuối cùng
hôm nay vẫn chỉ thấy mình hoàn toàn bị động.
Hàng chục triệu người Việt đã chết,
cả Bắc lẫn Nam, với một ước mơ
duy nhất và đơn giản là đem lại độc
lập và tự do cho tổ quốc, no ấm và hạnh
phúc cho bản thân mình và cho mọi người Việt.
Ước mơ đó đến hôm nay vẫn
chưa thành hiện thực. Bước vào đầu
thiên niên kỷ thứ ba, toàn dân Việt vẫn chưa
thật sự làm chủ được vận mệnh
đất nước, vẫn chưa thoát ra khỏi
được cảnh nghèo nàn lạc hậu, vẫn chưa
được hưởng một đời sống tự
do, hanh phúc, xứng đáng với những cố gắng
và hy sinh to lớn của họ. Họ đã bị phản
bội bởi chính những người đã lãnh đạo
ho và đã được họ suy tôn. Chế độ
cộng sản không thể là giải pháp mở ra con
đường phát triển cho Việt Nam khi nó đã bị
từ bỏ bởi chính những người khởi
xướng ra nó, khi mà thế giới và nhân loại
đã phát triển hoàn toàn khác lạ với nhãn quan và
dự kiến của Mác. Ðất nước ta cần một
giải pháp mới, vừa khắc phục được
tình trạng bị động của quá khứ, vừa
khơi thông được dòng sống đang bế tắc
hiện tại, để mở đường cho toàn
dân phát huy được tiềm năng và dân tộc hội
nhập được vào trào lưu tiến hóa chung của
nhân loại. Một giải pháp như thế có
được không phải chỉ từ một cá nhân
tài giỏi, hay một đoàn thể chính trị lớn
mạnh, dù một xã hội phát triển và tự do rất
cần những nhân tố này. Giải pháp như thế
trước hết phải đến từ một khối
đại dân tộc thức tỉnh, đứng dậy
dành lại quyền làm chủ đời sống riêng của
mình và quyền quyết định vận mệnh chung của
quốc gia. Giải pháp đó phải đến từ một
hội tụ dân tộc, và sau cùng, một hội tụ
dân tộc với tinh hoa nhân loại. Nhân dân Việt có
ước vọng và khả năng thực hiện
được một hội tụ như thế. Người
dân Việt vốn không có hận thù, không bị ám
ảnh bởi quá khứ. Họ cũng không thiếu tấm
lòng và tiềm năng - cũng như mọi con người
bình thường khác trên trái đất này. Họ chỉ
thiếu môi trường và cơ hội để phát
huy tấm lòng và tiềm năng của họ. Một giải
pháp bảo đảm được vai trò chủ động
cho người dân, hội tụ được mọi
thành phần dân tộc, và hội nhập được
dân tộc vào thời đại, sẽ mở ra cho toàn
dân Việt môi trường và cơ hội đó. Nhiệm
vụ chiến lược trong giai đoạn hiện nay
của mọi người Việt quan tâm tới tiền
đồ dân tộc chính là đề ra và thực hiện
được giải pháp này. Tập tài liệu dưới
đây được biên soạn như một gợi
ý cho tiến trình thực hiện nhiệm vụ đó. Trước hết chúng tôi cho rằng, để
hoàn tất được nhiệm vụ chiến lược
này, cuộc vận động chính trị hiện nay của
chúng ta cho một nước Việt Nam tự do và tiến
bộ cần có được tầm vóc quốc tế
và thời đại. Hơn thế nữa, nó còn cần
có tính chất cách mạng dân tộc triệt để
và toàn diện, quyết tâm khắc phục những sai lầm
yếu kém của dân tộc, khơi dậy được
sức sống tiềm tàng của toàn dân để từ
đó xây dựng một nước Việt tự do, phồn
vinh, công bằng và nhân bản. Mọi trở ngại cho
những mục tiêu lớn này cần được gỡ
bỏ. Ðồng thời mọi đóng góp tích cực và
có hiệu quả vào việc đạt mục tiêu lớn
đó đều phải được trân trọng và
có chỗ đứng thích đáng trong cuộc vận
động hiện nay, dù những đóng góp đó có
thể đến từ những tư tưởng và tập
hợp chính trị khác biệt nhau.
Trong đường hướng đó, chúng
tôi cho rằng cuộc vận động của chúng ta
nhằm đạt ba mục tiêu lớn và theo ba tư
tưởng hướng dẫn sau đây:
Ba Mục Tiêu: 1. Người dân dành lại được
quyền tự chủ và tự do định đoạt
vận mệnh đất nước trên cả ba lãnh vực
kinh tế, văn hóa và chính trị; 2. Chế độ dân chủ pháp trị
được thiết lập một cách vững chắc
tại Việt Nam; 3. Ðất nước có được môi trường
và các điều kiện cần thiết để phát
trỉển bền vững, công bằng và tiến bộ,
hòa nhập vào dòng tiến hóa chung của nhân loại.
Ba Tư Tưởng Hướng
Dẫn: 1. Dân tộc Việt phải phục hưng và
phát triển tương xứng với tiềm năng và
bề dầy lịch sử, trong dòng tiến hóa chung của
nhân loại và thời đại; 2. Xã hội Việt phải là môi trường
phát triển cho mọi người Việt thuộc mọi
thành phần dân tộc, trong và ngoài nước, mọi
địa phương, giai tầng xã hội và xu hướng
tâm linh và tư tưởng khác nhau; 3. Công việc phục hưng dân tộc và
xây dựng đất nước là quyền lợi và
nhiệm vụ của mọi người Việt không
phân biệt địa phương, tôn giáo và khuynh hướng
chính trị tư tưởng.
Ðể đạt được những mục
tiêu theo đường hướng trên, chúng ta cần
đặt cuộc vận động chính trị hiện
nay trong bối cảnh thời đại và thế giới,
và phù hợp với những điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể của nước ta và của quần
chúng Việt hiện nay.
A. Tầm Nhìn Thế Giới
Và Nhân Loại: Global Vision 2000
1. Bối Cảnh Thế Giới
Và Nhân Loại: (a) Thế kỷ 19 là thế kỷ phát triển
của Âu Châu ra toàn thế giới dẫn đến chế
độ thuộc địa, tàn bạo và bóc lột.
Khối Cộng sản quốc tế phát triển nhờ
dựa vào phong trào giải phóng thực dân và trở
thành phản đề của tư bản. Ðối kháng
lưỡng cực tư bản-cộng sản từ sau
đệ nhị thế chiến dẫn đến nguy
cơ thế chiến hạt nhân khiến cả hai khối
đều phải thay đổi chiến lược dẫn
đến sự tan vỡ của khối cộng sản
quốc tế. Vào cuối thế kỷ 20 thế giới
chuyển từ lưỡmg cực đối kháng sang
đa cực hợp tác giữa các nước giầu (Bắc
bán cầu) và các nước nghèo (Nam bán cầu).
(b) Vài xu thế nổi bật từ giữa
thế kỷ 20 tới nay: (1) dân chủ hóa: từ 30% (sau
thế chiến) tiến đến 60% (hiện nay) số
các quốc gia có chế độ dân chủ; (2) hình thành ba trung tâm kinh tế
thế giới: Mỹ, Âu châu (EU) và Nhật; (3) hình thành các tổ chức
khu vực: EU, ASEAN, OAS, SAARC; (4) Mỹ tiến lên vị
trí trung tâm quyền lực quốc tế có thế lực
nhất.
(c) Chúng ta cho rằng thế giới và nhân loại
từ năm 2000 trở đi khoảng vài thập niên tới
sẽ diễn biến trong tiến trình toàn cầu hóa
theo ba giai đoạn: (1) tương quan còn nhiều
xung khắc A¨- Âu-Mỹ; (2) tái hòa hợp A¨-Âu -Mỹ;
và (3) phát triển một cộng
đồng nhân loại toàn cầu (nhân bản hóa) (thế
giới của mọi dân tộc). Trong giai đoạn đầu
vấn đề Trung Quốc và vùng A¨ Châu Thái Bình Dương
sẽ nổi bật nhất. Trong giai đoạn ba, Phi châu
sẽ trở thành vấn đề trọng yếu nhất
của thế giới. Sau đây là những nhận
định đại cương về chiều hướng
biến chuyển của thế giới và nhân loại
trong vài thập niên tới.
2. Chính Trị: (a) Nhân loại cần một nền chính trị
mới (New Politics), một nền chính tri vì thường
dân và do thường dân, chính trị dân bản (common
man politics, or non-partisan politics) và trong một thể chế
dân chủ mới, mà những nhà tương lai học gọi
là Dân Chủ Tham Gia (Participatory Democracy, cũng còn
được gọi là empowered democracy, so sánh với
dân chủ đại diện (representative democracy). Ba thành
tố của nền dân chủ hiện nay (chính trị
gia, doanh gia, và trí thức chuyên gia) sẽ được
tăng cường thêm ba thành tố mới (những
nhà hoạt động xã hội (NGO), giới truyền
thông, và cá nhân các công dân quan tâm (qua các cuộc thăm
dò dư luận)). Chính trị dân bản và dân chủ
tham gia đang được phát huy tại những nước
phát triển. Tại các nước mới phát triển,
xu thế dân chủ pháp trị là xu thế tất yếu,
không thể đảo ngược được. Ðồng
thời, những nước này cần có những chuẩn
bị và điều chỉnh cơ cấu và chính sách cần
thiết để chuyển tiếp nhanh sang nền chính
trị và thể chế dân chủ mới, cùng với nền
kinh tế thị trường và văn hóa tự do để
vận dụng được sức mạnh kinh tế,
khoa học kỹ thuật, tri thức của thế giới
trong tiến trình phát triển nhanh đất nước.
Ðiều này khả thi trong bối cảnh ra đời một
cộng đồng nhân loại toàn cầu, và với những
tiến bộ nhanh của mọi ngành khoa học và kỹ
thuật. Quan hệ giữa những nước phát triển
cao (điện tử và tri thức) với những nước
phát triển thấp phải được chuyển từ
quan hệ khai thác, bóc lột, sang hợp tác, cùng sống
và giúp tiến.
(b) Dự kiến các vấn đề chính trị
nổi bật của thế giới trong hai thập niên
đầu của thế kỷ 21 có thể là: 1/ Trung Quốc và A¨ Châu-TBD: Thế giới
và A¨ Châu-TBD không thể ổn định với một
Trung Quốc rộng lớn và trung ương tập quyền
mạnh mẽ như hiện nay. A¨ châu chỉ thật sự
ổn định và hòa bình với một khu vực
Trung Hoa mới phát triển trong dân chủ và ổn định
theo chiều hướng tạo cơ hội và điều
kiên tiến bộ đồng đều và bình đẳng
giữa các dân tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi (Tân Cương),
Tạng, Chuang (Hoa Nam). Sự phát triển đầy
năng động của các nước trong vùng A¨ Châu
và ven TBD theo chiều hướng kinh tế thị trường
và tự do dân chủ đang và sẽ tiếp tục
tác động mạnh mẽ vào những nước CS A¨
Châu và ngay tại Trung Quốc. Vấn đề khó khăn
nhất trong thập niên tới là làm sao thực hiện
được tiến trinh ra đời một khu vực
Trung Hoa mới mà không nổ ra chiến tranh và bạo loạn.
Tình hình Việt Nam, Lào, Bắc Triều Tiên và khu vực
Nam A¨ liên hệ mật thiết với vấn đề
Trung Quốc. 2/ Liên Hiệp Quốc: Liên Hiệp quốc
hiên nay vẫn còn là một LHQ của Âu-Mỹ. Cải tổ
LHQ tiếp tục là một vấn đề chính trị
quốc tế quan trọng. Cải tổ cho phù hợp
tình hình quốc tế mới, để LHQ ngày càng phản
ánh được toàn thể nhân loại, đồng thời
đóng được vai trò gìn giữ hòa bình thế
giới và bảo đảm phát triển công bằng cho
mọi dân tộc. LHQ được tiếp tục cải
tổ trong bối cảnh ra đời một cộng
đồng quốc tế nhân bản toàn cầu, đa
văn hóa và đa chủng tộc (Global Humanist Community) và
trong bối cảnh một nền dân chủ toàn cầu
đang hình thành (Global Democracy) 3/ Quan hệ giữa các khu vực trên thế
giới: Thế kỷ 21 được các nhà tương
lai học dự kiến sẽ là thế kỷ của
A¨ Châu TBD phục hưng và hội nhập toàn cầu tạo
thế quân bằng A¨-Âu- Mỹ. Hai thập niên đầu: tạo mô hình
và cơ chế quan hệ giữa các tô chức vùng ASEAN
(AFTA), APEC, EU và NAFTA. Riêng ASEAN sẽ phát triển thành một
Liên Hiệp ÐNA theo mô hình EU hiện nay. Các thập niên
sau: thêm các khu vực khác đang hình thành (SAAC (Nam A¨),
Trung Mỹ, Nam Mỹ, các tổ chức ở Phi châu... Trong vài thập niên tới, nhóm các nước
giầu mạnh (G8 và có thể thêm một số nước
hoặc khu vực khác), và Hội Ðồng Bảo An LHQ, vẫn
đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định
thế giới, cả về chính trị lẫn kinh tế
thương mại và quân sự. Trong đó Mỹ vẫn
giữ vai trò trọng yếu nhất. Mỹ và EU đi
đầu trong việc triển khai mô hình chính trị
dân bản và dân chủ tham gia, cùng với việc thúc
đẩy tiến trình toàn cầu hóa. 4/ Một số vấn đề khác như vấn
đề Trung Ðông, chưa giải quyết xong; hy vọng
sẽ được giải quyết trong thập niên
đầu tiên của thế kỷ 21.
3. Kinh Tế Thương Mại: (a) xu thế kinh tế thương mại:
tư bản xã hôi hóa và toàn cầu hóa về mặt thị
trường (vốn, kỹ thuật, và tiêu thụ)
đồng thời cá thể hóa (customized, personalized) về
mặt sản xuất và hưởng dụng) (niche vs mass
production) với các tính chất sau đây: (1) mậu dịch tự do không biên giới
(no tariff bariers); (2) xã hội hóa tư bản (thị trường
chứng khóa + cổ phần hóa nói chung+ cổ phần
hóa cho người làm việc và cho người tiêu thụ
nói riêng); (3) xã hội hóa sản xuất (quan hệ
đối tác hỗ tương giữa người sản
xuất và người tiêu thụ); quan hệ trách nhiệm
hỗ tương giữa business và cộng đồng xã
hội. (4) quan hệ hỗ tương và tự động
điều chỉnh giữa các thành tố của nền
kinh tế quan hệ giữa kinh tế quốc gia, với
khu vực và quốc tế; quan hệ giữa tư nhân liên quan tới
kinh tế và thương mại với chính quyền, và
giới tiêu thụ. Chính quyền đóng vai trò điều
tiết và phối hợp các hoạt động kinh tế
tư nhân, đồng thời bảo đảm phát triển
bền vững và công bằng. quan hệ hỗ tương nội tại
của hoạt động kinh tế (giữa cung cấp
nguyên vật liệu, tài chánh với sản xuất, lưu
thông sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm và các loại
dịch vụĩ liên quan tới sản xuất).
(b) New Economy chiếm ưu thế trên Old
Economy. Tri thức và thông tin là trung tâm của kinh tế,
với Hi-Tech, global e-commerce, IT (Information Technology), và global
e-stock market. Global New Economy và Trade cùng với IT, Internet,
thúc đẩy quá trình hình thành Global Community, Global
Democracy và Global Culture.
(c) Thương Mại: thương mại toàn
cầu không biên giới (non-frontier world trade). Tự do giao
thương liên quốc gia, toàn khu vực và toàn cầu
liên khu vực. Tác động trực tiếp tới xu
thế toàn cầu hóa và tạo điều kiện và
môi trường hình thành cộng đồng nhân loại
đa văn hóa, đa chủng tộc, thông qua tự do
trao đổi hàng hóa và thông tin toàn cầu không biên giới.
(d) Vai trò quan trọng của WTO, và các tổ
chức tài chánh quốc tế (Worl Bank. IMF) trong vịệc
ổn định và phát triển kinh tế thế giới,
khu vực và tại mỗi quốc gia. Các tổ chức
này, cùng với LHQ và các tổ chức chính trị, văn
hóa, nhân quyền quốc tế, cả chính phủ lẫn
phi chính phủ, sẽ được luôn luôn cải thiện
để giúp thực hiện xu thế quốc tế là:
giải tỏa mâu thuẫn nước lớn-nước
nhỏ và giầu-nghèo nhằm xây dựng một cộng
đồng quốc tế ngày càng ổn định
hơn, công bằng hơn và nhân bản hơn.
(e) Asia-Pacific trở thành trung tâm kinh tế thương
mại thế giới vào đầu thập niên thứ
hai của thế kỷ, sau khi một cộng đồng
Trung Hoa mới ra đời. ASEAN sẽ trở thành khu vực
phát triển năng động thứ ba trên thế giới
sau Bắc Mỹ (NAFTA) và EU. Một cộng đồng
Trung Hoa mới ra đờùi, dân chủ và phát triển,
sẽ đóng góp cụ thể và tích cực nhất
vào việc tạo dựng kỷ nguyên A¨ Châu-TBD.
4. Văn Hóa: (a) Văn hóa cộng đồng nhân loại:
(1) Những hiểu biết ngày một vi tế
và cụ thể hơn trong cả ba ngành nhân văn, xã hội
và tự nhiên sẽ giúp con người có tầm nhìn
và hiểu biết vừa hiện thực hơn lại vừa
toàn diện hơn về bản thân mỗi con người
(cá nhân trong Con Người, và Con Người trong mỗi
cá nhân), cũng như tương quan giữa mỗi con
người với môi sinh tự nhiên và đời sống
xã hội. Mỗi con người sẽ ngày càng có khả
năng làm chủ được đời sống của
mình hơn và đóng góp tích cực và có hiệu quả
hơn vào việc cải thiện đơài sống
chung. (2) Các vấn đề liên quan tới giá trị
nhân sinh và quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với thiên nhiên
ngày càng trở nên mối ưu tư chung trong một xã
hội nhân loại toàn cầu vừa phát triển rất
nhanh, vừa chứa đựng những yếu tố tiêu
cực và suy thoái như: ô nhiễm môi sinh, đảo lộn
sinh thái, băng hoại đạo đức, xáo trộn
cơ cấu, bất công xã hội... (3) Ðồng thời, những tiến bộ về
giao thông và truyền thông, đặc biệt là truyền
thông điện tử, đã thu hẹp không gian và rút
ngắn thời gian, tạo điều kiện thúc đẩy
giao lưu đa văn hóa, đa chủng tộc. Từ
đó hình thành dần một ý thức và một nền
văn hóa cộng đồng toàn nhân loại. (4) Sinh hoạt văn hóa quốc tế càng
phát triển càng thôi thúc sự hình thành những chuẩn
mực giá trị đạo đức và tinh thần
mang tính toàn cầu, tính quốc tế, tính nhân loại,
một tiêu chuẩn quốc tế chung cho các tiêu chuẩn
quốc gia khác nhau làm chuẩn mực cho một đời
sống nhân loại đang hình thành khắp nơi trên
hành tinh. Ðây sẽ là động lực bên trọng của
các biến động và thay đổi trong bang giao quốc
tế, trong hệ thống chính trị, kinh tế, công
ước và công pháp quốc tế. (5) Quan hệ giữa dân tộc và nhân loại,
giữa quốc gia và quốc tế, sẽ là một quan
hệ mở và hỗ tương, trong bối cảnh toàn
cầu hóa, mỗi dân tộc sẽ có môi trường và
điều kiện phát triển ngày càng dễ hơn và
nhanh hơn. Ðồng thời xu thế toàn cầu hóa là một
thách thức đối với mỗi dân tộc: bản
sắc văn hóa dân tộc có cần tồn tại
không và nếu có, tồn tại như thế nào trong một
nhân loại ngày càng nhất thể hơn?
(b) A¨-Âu Mỹ tái hòa hợp: Thế kỷ
20 là thế kỷ xung đột A¨-Âu do hậu quả của
thực dân hóa, của Âu Châu phát triển ra toàn thế
giới. Trong thế kỷ 21, A¨ Châu phục hưng trong
xu thế nhân bản hóa và toàn cầu hóa tạo điều
kiện cho sự tái hòa hợp A¨-Âu Mỹ trong tinh thần
kết hợp khoa học kỹ thuật Tây phương
với đạo học nhân văn Ðông phương.
Khoa học nhân bản hơn và đạo học thực
tiễn hơn. A¨ Âu bổ xung lẫn cho nhau để cùng
đóng góp vào việc hình thành nền văn hóa cộng
đồng nhân loại trong xu thế phát triển con người
một cách toàn diện và quân bình giữa vật chất
và tinh thần, giữa tự nhiên và con người, giữa
cá nhân với xã hội, giữa dân tộc với nhân
loại.
(c) Tôn Giáo: Các tôn giáo có tổ chức
(organized religions) sẽ gặp nhìêu khó khăn về
cơ cấu và nghi thức đòi hỏi một tầm
nhìn mới và nhiều cải tổ cần thiết
để tôn giáo tiếp tục đáp ứng được
nhu cầu tâm linh của con người. Con người
tiếp tục tiến trình mở rộng tầm nhìn
tâm linh đa tín ngưỡng (multi-religion vision), tạo môi
trường thuận lợi cho các quan điểm ôn hòa
và hòa hợp tôn giáo. Ðồng thời những hiểu
biết mới về tự nhiên, sự sống và về
con người sẽ giúp phổ thông hóa và tăng
cường thêm khả năng chủ động sinh tâm
lý của con người đối với bản thân,
xã hội và sinh thái. Nhờ đó con người có
thêm những điều kiện mới để mở
rộng và nâng cao sinh tâm thức ra đại tự nhiên
và sự sống. Tôn giáo trong thế kỷ 21 sẽ bớt
đi nhiều giáo điều, lễ nghi hình thức và
mang nhiều nội dung và sinh hoạt phong phú hơn và gần
gũi hơn với đời sống con người.
(d) Internet và giao lộ thông tin quốc tế:
Ðây sẽ là lãnh vực phát triển nhanh nhất và mạnh
nhất, tác động trực tiếp tới việc hình
thành văn hóa cộng đồng quốc tế, phá vỡ
các biên giới địa lý và chủng tộc, mở rộng
cửa cho những trao đổi thông tin, văn hóa, tư
tưởng quốc tế toàn nhân loại. Cùng với
tính di động toàn cầu (global mobility), tính di
động xã hội (social mobility, trong mỗi quốc gia),
và tự do thương mại toàn cầu, sẽ tạo
thêm những yếu tố đồng nhất trong đời
sống nhân loại, vượt qua những khác biệt
ngôn ngữ, phong tục và ụlối sống. Ðời sống
nhân loại sẽ vừa đồng nhất hơn, lại
vừa đa dạng, phong phú hơn. Ðồng nhất về
kiến thức, về mô hình tổ chức và quản
lý xã hội (systems theory), về phương pháp làm việc
(system approach). Phong phú đa dạng về văn học
nghệ thuật, phong tục tập quán. Nguyên tắc
thống nhất trong đa dạng (unity in diversity)
được thực hiện trong mỗi xã hội, cũng
như trên toàn thế giới. Một xã hội nhân
đạo toàn cầu sẽ ra đời trong xu hướng
nhân loại là một nhưng dân tộc thì nhiều.
Nhân loại thống nhất trong sự phong phú đa dạng
của các nền văn hóa dân tộc.
5. Một số vấn đề toàn cầu: (a) Giải quyết tương quan vừa khác
biệt, độc lâp, vừa liên hệ hỗ trợ (đối
lập thống nhất) giữa cá nhân với tập thể,
giữa cá nhân với Con người (loài người),
giữa Con người với tự nhiên, giữa quốc
gia dân tộc với thế giới nhân loại.
(b) Môi trường sinh thái toàn cầu bị
hủy hoại;
(c) Các quyền con người bị đe dọa
trong mức độ toàn cầu: buôn bán trẻ em, phụ
nữ xuyên quốc gia. Mở rộng quyền con người
sang các lãnh vực mới như quyền súc vật, quyền
di chuyển, sinh sống và làm việc không biên giới
quốc gia.
(d) Quan hệ Bắc (các nước giầu)
và Nam (các nước nghèo và phát triển chậm): từ
chi phối, cầm nắm, sang hợp tác, cùng sống và
giúp tiến.
(e) Vấn đề tạo hòa bình và ổn
định toàn cầu bền vững: nhân tố và
định chế nào? Về cả ba mặt kinh tế,
văn hóa và chính trị.
(f) Vấn đề mở rộng biên cương
nhân loại và thế giới về mặt tinh thần (cái
biết, sinh tâm thức) và về mặt vật thể (biên
cương thiên thể, di chuyển và liên lạc liên
hành tinh)
B. Tầm Nhìn Việt Nam Thế
Kỷ 21:
1. Việt Nam và Thế Giói: Việt Nam dân chủ
và tự do, có điều kiện và cơ hội để
cất cánh trong thập niên thứ hai của thế
kỷ, trong bối cảnh một khu vực ASEAN và Trung
Hoa mới, tự do, dân chủ, ổn định, và một
mội trường quốc tế A¨-Âu giao lưu và hòa
hợp. Hội nhập vào một A¨ Châu TBD ổn định,
tự do và phát triển, và một Liên Hiệp ASEAN cùng
sống và cùng tiến.
(a) Việt Nam với ASEAN: Những nước
hiện nay còn độc tài chưa ổn định, sẽ
trở thành những nước có chế độ dân
chủ và nền kinh tế thị trường. Sẽ tiến
nhanh tới biên giới ngỏ về quan thuế
(non-tariff barrier), đi lại, dễ dàng hơn về
cư trú và làm việc. Hợp tác trong vùng mở rộng
từ thương mại, kinh tế sang văn hóa, giáo dục,
văn hoc nghệ thuật, truyền thông. Tiến dần
đến một hình thức Liên Hiệp như EU, Liên
Hiệp Ðông Nam A¨. Những biến chuyển khách quan có
tính xu thế này sẽ tác động tích cực vào tiến
trình tự do hóa Việt Nam, và tác động tiêu cực
vào ý đồ duy trì độc quyền chính trị của
thành phần bảo thủ trong ban lãnh đạo cộng
sản Việt Nam. Vai trò Việt Nam ngày càng trở nên
tích cực và năng động hơnụ sau thời kỳ
cộng sản, nhờ vị trí địa lý chính trị
và tính đa dạng về văn hóa (đủ các tôn
giáo lớn, chịu ảnh hưởng của nhiều
luồng văn hóa tư tưởng khác nhau (Khổng,
Lão, Phật, Pháp, Mỹ, Nhật,).
(b) Việt Nam với Trung Hoa: Trung Hoa cộng sản
có thể phải trải qua một thời kỳ biến
loạn chính trị xã hội có nguy cơ gây bất
ổn định khu vực. Việt Nam cũng bị
ảnh hưởng nặng nề, có khả năng
cũng sẽ xảy ra biến loạn chính trị xã hội
hoàn toàn bất lợi cho chế độ CS. Chế
độ CS có thể bị suy xụp trong bối cảnh
này. Việt Nam thời kỳ hậu cộng sản sẽ
giao hảo với một cộng đồng Trung Hoa mới,
tự do dân chủ hóa và kinh tế thị trường.
Giao hảo trong khung cảnh quan hệ chung giữa ASEAN và
Liên hiệp Trung Hoa mới.
(c) Việt Nam với Hoa kỳ: Vai trò của
Mỹ sẽ ngày càng quan trọng và có tính quyết
định trong việc giải quyết các vấn đề
của A¨ Châu-TBD, đặc biệt là vấn đề
Trung Quốc. Mỹ sẽ chuyển dần sự chú ý cả
về mặt kinh tế thương mại, văn hóa lẫn
chính trị và quân sự từ Âu Châu sang A¨ Châu. (Tham
khảo bài diễn văn của TT Clinton đọc tại
Quốc Hội LB U¨c ngày 20/11/1996). Mỹ sẽ ngày càng
vào sâu hơn tại ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng
để chuẩn bị cho tình hình mới. Thương
Ước Mỹ-Việt chỉ là bước có tính quyết
định, không đảo ngược được,
trong tiến trình này. Câu hỏi lớn hiện nay là: Liệu
Mỹ có kiểm soát đươc tình hình ở TQ và
VN theo đúng lộ trình diễn biến hòa bình
không, hay biến động sẽ nổ ra trước
khi lộ trình này đạt kết quả. Và do đó,
liệu Mỹ có chuẩn bị thích đáng và kịp
thời để ứng phó với những biến
động đó không ù. Những gì đã xẩy ra
ở miền Nam VN, ở vùng Balkan, ở Trung Ðông không
cho ta chủ quan về khả năng này của Mỹ. Do
đó những người dân chủ VN cần có mục
tiêu, kế hoạch và lộ trình riêng, chủ động
chuẩn bị đối phó với mọi tình huống
có thể xẩy ra không để bị động bởi
những sơ hở hay thay đổi trong sách lược
của Mỹ.
(d) Việt Nam và các nước khác: Nhật
và U¨c sẽ ngày càng chia xẻ các trách nhiệm và quyền
lợi với Mỹ và EU ở Việt Nam nói riêng, Trung
Hoa và A¨ Châu TBD nói chung. Vai trò của Nga sẽ được
tăng cường trở lại nhưng không còn mạnh
như thời kỳ Liên Xô cũ
(e) Việt Nam với Miên-Lào: Mô hình Ðông Dương
tồn tại 100 năm nay kể từ thời Pháp thuộc
đang và sẽ vĩnh viễn tan vỡ để hòa nhập
trong ASEAN và có thể giữa ASEAN với vùng Hoa Nam. Miên
không còn là đồng minh của VN Cộng sản nữa.
Lào là hậu cứ cuối cùng của VN cộng sản,
sẽ gặp rối loạn và có thể cả chiến
tranh, để sau cùng có thể trở thành một
Campuchia thứ hai của VN cộng sản. Việt Nam hậu
cộng sản sẽ phải giải quyết một
cách khó khăn vấn đề biên giới với ba nước
láng giềng Lào, Miên và vùng Hoa Nam. Phải cần đến
một giải pháp ASEAN và quốc tế cho các vấn
đề biên giới đất liền và chủ quyền
vùng biển Ðông.
2. Xã Hội Việt: Sau đây là những gợi
ý khảo hướng cho chính sách xây dựng VN hậu cộng
sản:
a./Tổng quan: Sau một thời kỳ bất
ổn định ngắn, từ thập niên thứ hai của
thế kỷ, đất nước sẽ chuyển mình
sang thời kỳ hưng thịnh với chế độ
dân chủ, kinh tế thị trường và sinh hoạt
văn hóa học thuật tự do, trong bối cảnh hội
nhập vào một ASEAN đầy năng động và
môi trường quốc tế hòa hợp A¨-Âu. Mọi cố
gắùng đều được tập trung vào việc
xây dựng một xã hội dân sự dân bản (humanist
civil society) trong đó toàn bộ sinh hoạt xã hội nằm
trong tay người dân, chính quyền chỉ điều
hợp, và bảo đảm công bằng và cơ hội
đồng đều cho mọi thành phần dân chúng.
Tiêu ngữ thể hiện đường lối tổng
quát: Chính trị dân chủ, Kinh tế thị trường
và Văn hóa tự do. Trong thời kỳ chuyển tiếp,
cần có những chính sách và chương trình cứu
trợ nhân đạo và thống nhất dân tộc
để nhanh chóng ổn định tâm lý và đời
sống toàn dân không kỳ thị và phân biệt vì bất
cứ lý do gì (tôn giáo, địa phương, thành phần
dân tộc, giai tầng xã hội, quan điểm chính trị,
tư tưởng..., quá khứ...)
b/ Chính Trị Dân Chủ: Chế độ dân
chủ pháp trị và dân bản. Phối hợp giữa
cơ chế dân chủ đại nghị với các
hình thức dân chủ tham gia. Chính quyền, cả trung
ương lẫn cấp vùng và địa phương
đều do dân cử, không trực tiếp tham gia các
sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội. Chính quyền
có nhiệm vụ triệt tiêu mọi hình thái độc
quyền, bảo đảm công bằng xã hội và bình
đẳng cơ hội, cho mọi thành phần dân tộc,
và mọi miền đất nước. Còn xã hội
là dân bản, mọi sinh hoạt (kinh tế, văn hóa,
giáo dục, chính trị) đều do dân trực tiếp
thực hiện, cả ở cấp địa
phương lẫn quốc gia và quốc tế (người
dân có điều kiện trực tiếp giao lưu với
quốc tế). Xác nhận và tăng cường vai trò
của các tổ chức dân sự phi chính phủ, của
truyền thông, của các cơ sở văn hóa, giáo dục
và nghiên cứu học thuật. Ðề cao tinh thần
pháp trị (rule of law), tăng cường vai trò của
tòa án và luật pháp, xây dựng hệ thống luật
lệ dân bản, thực thi dân quyền và nhân quyền,
và phù hợp công pháp quốc tế. Xác lập nền tư
pháp độc lập, công minh và vô tư, và hệ thống
kiểm soát và chế tài công quyền (check and balance). Thực
hiện cơ chế dân chủ pháp trị, toàn dân, và
đa nguyên với bốn tính chất căn bản: (a) các hoạt động công
dâân đa diện và đa dạng do chính người dân
thực hiện, là nền tảng của xã hội (xã hội
công dân); (b) địa phương tản
quyền để phát huy đồng đều tiềm
năng toàn diện của mọi vùng đất nước,
mọi thành phần dân tộc; (c) trung ương tam quyền
phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp), giữ vai
trò điều phối và điều tiết bằng chính
sách và luật pháp để bảo đảm bình đẳng
cơ hội và phát triển bền vững và công bằng
cho toàn dân và toàn quốc; và (d) quốc gia chính thức
công nhận (trong Hiến Pháp) vai trò theo dõi và cảnh
báo dư luận xã hội đối với các hoạt
động công quyền của các tổ chức độc
lập với chính quyền và các đảng phái (báo
chí, các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu,
và các cơ quan thăm dò dư luận...)
Xã hội Việt trước đây, ngay
trong thời kỳ quân chủ, cũng đã mang một
hình thái xã hội dân sự đặc thù, với những
hoạt động và cơ cấu dân bản do quần
chúng tự động tổ chức và thực hiện.
Do đó chế độ chính trị dân chủ dân bản
với những tính chất nêu trên có khả năng phát
triển được trong thời kỳ hậu cộng
sản, nhất là trong bối cảnh và điều kiện
một nhân loại toàn cầu hóa và nhân bản hóa.
c/ Kinh
Tế Thị Trường: Kinh tế thị trường,
cạnh tranh tự do và bình đẳng, do tư nhân
không do chính quyền. Chính quyền chỉ trực tiếp
điều hành càc hoạt động kinh doanh nào tư
nhân không làm hoặc chưa làm nhưng cần thiết
cho quốc phòng, hay dân sinh, như điện, nước...,
và sẽ giải tư ngay khi có thể được.
Quốc gia phải bảo đảm điều kiện
và cơ hội phát triển hết tiềm năng và
đặc thù kinh tế, văn hóa của mọi vùng
trong nước. Có chính sách nâng đỡ và hỗ trợ
các thành phần yếu kém trong xã hội, và các vùng kém
phát triển (nông thôn, vùng núi). Mở rộng cửa
giao lưu thương mại, kinh tế với ASEAN và thế
giới để đẩy nhanh tiến trình phát triển
đất nước. Nhưng cần duy trì phát triển
bền vững, bảo vệ sinh thái, bảo đảm
công bằng xã hội, phát triển đồng đều
mọi vùng đất nước, bảo đảm công
ăn việc làm và tăng trưởng mức sống
cho mọi thành phần dân chúng.
d/ Văn
hóa Giáo Dục Tự Do: Văn hóa bao gồm các hoạt
động tinh thần (giáo dục, văn học nghệ
thuật, truyền thông, tôn giáo và tín ngưỡng). Các
sinh hoạt tinh thần, văn hóa, giáo dục phải nhằm
tạo được môi trường, cơ hội và
điều kiện để mỗi người Việt
vừa thể hiện được những tính chất
đặc thù và tích cực trong nền văn hóa dân tộc,
vừa đãi lọc và hòa nhập được vào
trào lưu văn hóa toàn cầu tiến bộ và nhân bản.
(1) Cần có một nền văn hóa
toàn dân, văn hóa tự do, phẩm chất cao dần,
và phổ quát trong mọi tầng lớp nhân dân qua việc
phát triển hai mạng lưới giao lưu xã hội
là giao thông vận tải và truyền thông xã hội (bao
gồm bưu điện, điện thoại, truyền
thanh truyền hình, internet, xuất bản, sách báo), để
mở rộng sự di động xã hội (social
mobility) cả vật thể lẫn tinh thần đồng
thời nhanh chóng hòa nhập nước ta vào sự di
động toàn cầu (global mobility). (2) Cần có một nền giáo dục
tổng hợp giữa đạo học nhân văn với
khoa học kỹ thuật, giữa nhận thức và kiến
thức tổng quát với khả năng và kỹ năng
chuyên môn, giữa văn hóa dân tộc với văn hóa
nhân loại toàn cầu. Truyền thông điện tử,
quốc nội và quốc tế, sẽ phát triển nhanh
chóng và rộng khắp, nhờ kỹ thuật mới với
giá ngày càng thấp hơn. Ðiều này, cùng với sự
phát triển của kinh tế thị trường và xã
hội dân sự, sẽ tạo điều kiện thuận
lọi cho việc hình thành một hệ thống giáo dục
mới song song với hệ thống giáo dục nhà trường.
Ðó là hệ thống giáo dục toàn dân, trong xã hội
và ngoài nhà trường, không cần trường lớp,
cho mọi lứa tuổi, đáp ứng mọi nhu cầu
học tập của toàn dân từ giáo dục phổ
thông như trong nhà trường, tới huấn nghệ
sơ trung cấp, và các loại kiến thức tổng
quát. Giáo dục là chìa khóa phát triển, đặc biệt
trình độ dân trí nước ta còn rất thấp, cần
nâng cao dân trí của toàn dân trong thời gian ngắn nhất.
Hệ thống giáo dục toàn dân là giải pháp tối
ưu có tính khả thi cao, phải được coi trọng
ngang với hệ thống giáo dục nhà trường.
e/ Ba
nhân tố phát triển Việt Nam trong thế kỷ 21: (1)
Ngoài nhân tố quốc tế không thể thiếu, trong
nội bộ xã hội Việt có ba nhân tố phát triển
Việt Nam là: Kinh tế thị trường, văn hóa
giáo dục tự do và chính trị dân chủ. Chính trị:
chế độ dân chủ dân bản và pháp trị.
Kinh tế: nền kinh tế thị trường tư nhân
và toàn cầu. Văn hóa giáo dục: nền văn hóa
giáo dục tự do, toàn dân và tổng hợp. (2)
Trong điều kiện có được tính di động
xã hội và di động toàn cầu nhanh và rộng khắp,
ba nhân tố này sẽ cùng tác động nhau, thúc đẩy
nhau, tạo các điều kiện vật chất và tinh
thần cần thiết để nhanh chóng khắc phục
những nhược điểm, phát huy những thế
mạnh cả về vật thể lẫn tinh thần của
người dân Việt Nam. Nhờ đó sẽ vừa
phát huy nội lực dân tộc, vừa tận dụng
trào lưu tiến bộ của thế giới để
đưa nước ta vào thời kỳ phát triển nhẩy
vọt, thu ngắn và thu hẹp cách biệt giữa nước
ta và các nước khác trong vùng ÐNA¨. (3) Với
những tiến bộ của thế giới về giao
thông vận tải, truyền thông điện tử và
các kỹ thuật quản trị và tổ chức xã hội
hiện đại, và trong xu thế toàn cầu hóa, trong
bối cảnh đang hình thành một cộng đồng
nhân loại không biên giới hay biên giới quốc gia
ngỏ (non or open frontier global community), những dự kiến
về sự hình thành và vận hành của ba nhân tố
phát triển trên đây ở Việt Nam là có thể thực
hiện được.
***
PHẦN II: Việt Nam - Hiện
Trạng (2000) A. Trong Nước: B. Hải Ngoại:
***
PHẦN III: Tổng Cương
Về Sách Lược, Phương Thức Và Lộ
Trình
Lời Mở:
Trước thực trạng và viễn ảnh
thế giới và trong nước như trình bày trên
đây, chúng ta cần mạnh dạn và nhanh chóng cùng
nhau làm việc để tạo được một tâm
thức chính trị mới và đưa ra được
một tầm nhìn chiến lược mới, mang tính
dân tộc, thời đại và quốc tế, cả
ở trong nước lẫn hải ngoại. Ðể làm
được việc này chúng ta cần áp dụng một
phương thức vận động mới, toàn diện
hơn, phi chính trị tư đảng hơn
(non-partisan), nhân bản hơn, dân bản, dân quyền và
dân sinh hơn. Chúng ta cho rằng mục tiêu trước
mắt của tất cả các cá nhân và tổ chức
chính trị hải ngoại là: vừa kết hợp mọi
tầng lớp quần chúng hải ngoại với trong nước
thành một khối, tách biệt khỏi và độc lập
với tập đoàn thống trị thiểu số, vừa
nêu bật trước dư luận quốc tế tính
chất phi đạo lý (immoral), bất hợp pháp
(illegal, criminal) và thiếu chính thống (illigitimate,
non-democratically elected) của tập đoàn thiểu số
đang cầm quyền. Từ đó tạo được
môi trường và điều kiện thuận lợi thúc
đẩy những hoạt động chính trị có tầm
vóc quốc dân và quốc tế, từ đó mới tác
động hữu hiệu được vào tình hình
trong nước, để cuối cùng tạo được
đột biến chính trị, thiết lập được
nền dân chủ.
A. Những Biến Ðổi
Chính Trị Có Thể Xẩy Ra Ở Việt Nam:
1. Năm trường hơp chuyển sang dân
chủ đã xẩy ra trên thế giới: (1) Hậu quả chấm dứt chiến tranh
lạnh, tan vỡ khối Varsovie: Ðông Âu, Liên Xô. (2)
Phân liệt nội bộ, hoặc nội chiến
(Bosnia, Kosovo; có thể xẩy ra ở Trung quốc); (3)
Khủng hoảng hoặc sụp đổ kinh tế
dẫn tới tan vỡ chế độ chính trị (trường
hợp Indonesia); (4) Trình độ phát triển chín mùi cho dân
chủ: trường hợp Nam Hàn, hay Ðài Loan (hoàn hảo nhất); (5) Quốc tế can thiệp để chấm
dứt chính sách diệt chủng (Cao Miên, Ðông Timor)
2. Các Trường Hợp Có Thể Xẩy Ra
ở Việt Nam: (1) Ðảng cộng sản chủ động
cùng với những thành phần đối kháng ôn hòa
chuyển đổi sang dân chủ theo kiểu Liên Xô và
Ðông Âu. (2) Cho tự do kinh doanh nhưng hạn chế
tự do chính trị và tự do văn hóa tư tưởng.
Như Miến Ðiện, mở rộng chính quyền và Quốc
Hội cho một thiểu số ngoài đảng cộng
sản. Như Trung quốc, nới rộng bầu cử
ở cấp địa phương. (3) Cọ xát giữa hai khuynh hướng bảo
thủ và cấp tiến trong xã hội dẫn tới
phân liệt xã hội theo địa phương, hoặc
theo giai tầng xã hội (giầu nghèo, nông thôn-thành thị)
từ đó dẫn tới biến loạn xã hội và
chính trị. (4) Khủng hoảng kinh tế đi kèm những
quyết định sai lầm dẫn tới hỗn loạn
xã hội không kiểm soát được làm sụp
đổ chế độ. (5) Nổi loạn trong quần chúng (nông thôn,
thành thị, từ lẻ tẻ tới bùng nổ lớn)
chống bất công, tham nhũng, cường quyền. (6) Phân liệt trong đảng (giữa trung
ương với nhau, giữa trung ương với
địa phương, giữa các địa
phương với nhau), từ đó dẫn đến
phân liệt nội bộ,; (7) Bị cuốn vào cuộc tranh chấp và
chiến tranh khu vực, và theo đó chế độ sẽ
tan vỡ (các điểm nóng: Lào, biên giới và vùng
trung du miền Bắc, Cao Nguyên miền Trung, vùng biển
Ðông). 3. Lượng Ðịnh Tình Hình: (1) Rất khó xẩy ra trương hợp (1)
vì: a) ÐCSVN có quá trình hình thành và tran đấu khác xa
các ÐCS ở Ðông Âu; b) Lãnh đạo cộng sản VN
thiếu tầm nhìn và bản lãnh; c) Các thành phần
đối kháng còn yếu; Trường hợp (2) dễ
xẩy ra nhất nhưng nếu không có các yếu tố
áp lực mạnh sẽ không thể tạo được
điều kiện để diễn biến hòa bình mà
chỉ gây trở ngại cho chính tự do kinh doanh, và do
đó sẽ lại dẫn tới bế tắc mới
trầm trọng hơn. (2) Trường hợp (3) và (5) đã và
đang xẩy ra. Trường hợp (4) luôn âm ỉ, nhưng
nhờ sự hỗ trợ quốc tế và sự can thiệp
còn mạnh mẽ của chính quyền vào hoạt động
kinh tế nên có thể ngăn chặn được
(như trong cuộc khủng hoảng kinh tế A¨ Châu vừa
qua), nhưng dù không bùng nổ cũng không giải quyết
được bế tắc. Trường hợp (6) hiện
khó xảy ra vì khả năng kiểm soát trong nội bộ
đảng CS còn mạnh, trừ khi có những biến
động khác (như 4, 5, 7) làm tê liệt khả năng
này. Truờng hợp (7) vượt khỏi phạm vi VN và
tuy quốc tế đang cố gắng ngăn chặn
nhưng nguy cơ tiềm ẩn rất lớn, cần dự
trù có thể xẩy ra. 4. Năm biến số (variables) chính tác động
vào tình hình VN: (1) Nội bộ ban lãnh đạo đảng
CS (truyền thống dung hòa, tương nhượng,
thường không dẫn tới các quyết định
tích cực có lợi cho tiền đồ đất
nước, do đó không có khả năng giải quyết
tận cỗi gốc vấn đề VN); (2) A¨p lực quốc tế: xu thế toàn cầu
hóa và áp lực của WTO, World Bank, IMF, UN + Mỹ, EU,
ASEAN (nhất là Mỹ); (3) Trung Quốc: chỗ dựa mong manh mà thế
lực không ngừng bành trướng; (4) Dân chúng: bất mãn và đòi hỏi ngày
càng dâng cao và công khai (kể cả đảng viên, cán
bộ, được tăng cường sức mạnh
bởi kinh tế thị trường, v mở cửa với
quốc tế; (5) Cộng đồng người Việt hải
ngoại: tiếp tục duy trì một VN hải ngoại
đối kháng chế độ cộng sản, đang
tích cực chuyển đổi cho phù hợp tình hình mới.
Nếu có được những sáng kiến hoạt
động thích hợp, phối hợp và vận dụng
được thế mạnh tài chánh, môi trường
tự do giao lưu thông tin, văn hóa, tư tưởng,
và dư luận quốc tế, sẽ tác động ngày
càng có hiệu quả hơn và trực tiếp hơn vào
tình hình trong nước trong thời gian tới. 5. Nhận định đúc kết: Do tính chất
phức tạp đó, kịch bản Dân Chủ Việt
Nam có thể là một kịch bản tổng hợp
đa yếu tố, bao gồm nhiều diễn biến khác
nhau chứa dựng trong tất cả 6 trường hợp,
trừ trường hợp (1). Chúng ta không tin rằng ban
lãnh đạo đảng CS hiện nay thực tâm muốn
đưa đất nước ra khỏi tình trạng bế
tắc hiện nay mà vẫn chỉ muốn đổi
mới để duy trì độc quyền chính trị
và văn hóa. Do đó, không thể thụ động trông
đợi ở giải pháp cộng sản (do đảng
CS chủ động) và giải pháp diễn biến
hòa bình (do Mỹ và quốc tế thúc đẩy), dù cả
hai biện pháp này đang và sẽ tiếp tục tạo
các điều kiện và cơ hội ngày càng thuận
lợi hơn cho cuộc vận động của chúng
ta.
Việc ký kết Thương Ước Mỹ-Việt
và chuyến viếng thăm Việt Nam của Clinton đánh
dấu giai đoạn Mỹ đặt chân trở lại
Việt Nam. Từ 2001 trở đi là giai đoạn Mỹ
vận dụng chỗ đứng ngay bên trong Việt Nam
để chuyển hóa Việt Nam bằng phương pháp
diễn biến hòa bình. Tuy nhiên Mỹ có mục tiêu chiến
lược và lộ trình làm việc phù hợp vị thế
siêu cường và quyền lợi riêng của họ. Mức
độ và tốc độ chuyển hóa VN của họ
có thể chậm hơn, và tùy thuộc nhiều vào quyền
lợi và chiến lược toàn cầu và khu vực của
họ. Hơn nữa, những người dân chủ Việt
Nam, cả trong nước lẫn hải ngoại, thường
ở vị thế thuận lợi hơn để tác
động trực tiếp vào nhiều yếu tố thuần
túy Việt Nam mà người Mỹ không có đủ
điều kiện để tác động được.
Do đó, chúng ta phải chủ động và tích cực
vận dụng cơ hội mới đang mở ra để
tạo các điều kiện cần thiết nhanh chóng
đẩy tình hình tới chỗ đòi hỏi phải
có một giải pháp dân chủ cho VN. Ðồng thời
vì tình hình phức tạp, nhiều biến số, bế
tắc VN hiện nay không thể giải quyết bằng
một phương thức đơn lẻ, mà cần một
Tầm Nhìn xa rộng và một Phương Thức Toàn
Bộ, có phân định ưu tiên theo từng giai đoạn,
từng lãnh vực và từng mục tiêu cụ thể.
Tầm Nhìn đã được trình bày trong Phần I.
Tài liệu này trình bày tổng cương về
Phương Thức và Lộ Trình Vận Ðộng từ
nay tới năm 2005, là năm mà chúng ta hy vọng sẽ
tạo được đột biến chính trị
ở VN.
B. Sách Lược Tổng Thể
:
Bao gồm ba khía cạnh: Toàn Dân, Toàn Diện
Và Toàn cầu, nhằm xây dựng trận tuyến Quốc
Dân Việt đối lập và đối kháng với tầng
lớp đang cầm quyền để, sau cùng, thiết
lập một chính quyền dân chủ thực sự
đại diện quyền lợi quốc dân và dân tộc.
Lấy năm 2005 làm mốc đạt được mục
tiêu thứ nhất trong ba mục tiêu đề ra trong Tầm
Nhìn. Mốc thời gian này được vạch ra
căn cứ vào lượng định tốc độ
phát triển của tình hình thế giới, khu vực
và ngay tại Việt Nam. Mốc thời gian này chỉ
có tính cách hướng dẫn và thúc đẩy hành
động.
1. Toàn Dân: (a). Toàn dân bao gồm toàn thể người
Việt không phân biệt vì bất cứ lý do gì, không
thưộc tầng lớp lãnh đạo
đương thời, cả trong nước lẫn hải
ngoại, nằm ngoài sự chi phối của tầng lớp
lãnh đạo, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp
vào các hoạt động tư nhân đa dạng trong cả
ba lãnh vực kinh tế thương mại, văn hóa
giáo dục, và chính trị xã hội.
(b). Hòa nhập quần chúng hải ngoại
vào quần chúng trong nước thông qua các lãnh vực
hoạt đông tư nhân và tổ chức nằm ngoài
chính quyền, không chịu sự chi phối của tầng
lớp lãnh đạo. Ðẩy mạnh các hoạt động
thông lưu trong-ngoài toàn diện trong tầng lớp quần
chúng thầm lặng, mở bung cánh cửa VN ra thế giới,
để hỗ trợ việc hình thành giới tuyến
mới ở trong nước (quần chúng Việt với
ban lãnh đạo ÐCSVN). Ðồng thời tạo điều
kiện và môi trường ra đời một Quốc Dân
Việt mới không biên giới trong-ngoài, làm nền tảng
cho việc xây dựng một xã hội dân sự và dân
bản Việt, một nước Việt mới, hòa nhập
Việt Nam vào xu thế chung của nhân loại và thời
đại.
(c). Tạo trận tuyến giữa toàn dân Việt
đối kháng với giới lãnh đạo ÐCS ở
trong nước Giúp tăng cường sức mạnh của
toàn dân, xói mòn và làm suy yếu sức mạnh của giới
lãnh đạo ÐCS. Tách và cô lập tập đoàn lãnh
đạo ra khỏi đại đa số đảng
viên cộng sản, ra khỏi toàn thể quần chúng,
và dư luận quốc tế. Từ đó chủ động
tạo hoặc vận dụng tình thế tạo đột
biến chính trị để nhanh chóng ổn định
xã hội, thống nhất dân tộc và xây dựng chế
độ dân chủ pháp trị.
2. Toàn Diện: Xây dựng tầng lớp Quốc
Dân Việt thông qua ba lãnh vực: Văn hóa tự do, Kinh
tế thị trường và Chính trị dân chủ.
(a) Văn Hóa Tự Do: Lãnh vực Văn hóa
bao gồm các hoạt động văn học nghệ
thuật, thông tin sách báo, giáo dục, nghiên cứu học
thuật duc, tôn giáo. Chủ động thúc đẩy, hỗ
trợ và tổ chức các hoạt động văn hóa
và giáo dục tư nhân (đào tạo, trao đổi học
sinh, sinh viên, trí thức, mở đại học
tư...), các chương trình văn hóa, thông tin, sách
báo văn học nghệ thuật tư nhân (chú trọng
phát triển hệ thống truyền thông Internet ở
trong nước, và từ hải ngoại về trong nước,
nhất là các chương trình giáo dục, văn học
nghệ thuật, thông tin, mở rộng kiến thức...)
Giúp tăng cường sức mạnh của các tổ
chức và hoạt động tôn giáo độc lập
không chịu sự chi phối của ÐCSVN.
(b) Kinh Tế Thị Trường: Hỗ trợ
phát triển kinh tế thị trường, và thương
mại tự do. Chủ động thúc đẩy, hỗ
trợ và tổ chức các hoạt động
thương mại, đầu tư tư nhân hai chiều
giữa hải ngoại và trong nước, nhằm
tăng cướng sức mạnh của kinh tế
tư nhân ở trong nước. Thúc đẩy thay đổi
hệ thống luật pháp để bảo đảm sự
phát tiển bền vững và nhanh chóng thành phần kinh
tế tư và nền kinh tế thị trường.
(c) Chính Trị Dân Chủ: +
Hỗ trợ, tạo điều kiện hình thành xã hội
dân sự (dân bản) ở trong nước qua các tổ
chức và hoạt động tư nhân ngoài sự chi phối
của chính quyền, ở trong nước, hoặc từ
hải ngoại về trong nước (cứu trợ xã
hội, từ thiện, thanh thiếu niên, y tế cộng
đồng...) + Thực hiện các cuộc vận động
chính trị ở trong nước (từ dân sinh, dân quyền
sang nhân quyền, dân chủ), và hải ngoại (kết
hợp khối dân tộc và dân chúng trong ngoài nước
để tiến lên xây dựng dân chủ và phát triển),
từ ngấm ngầm tới bán công khai và công khai, trong
mọi tầng lớp xã hội, mọi cá nhân và tổ
chức, cơ sở xã hội. + Tạo môi trường, cơ hội và
điều kiện cho các tổ chức chính trị xuất
hiện công khai, trực diện với ban lãnh đạo
ÐCS ở trong nước vào thời điểm thích hợp.
+ Chuẩn bị đối phó với mọi
hình thái biến động xã hội, và bất ổn
định trong nước cũng như khu vực. Vận
dụng được những mặt tích cưc, để
vừa hạn chế được các mặt tiêu cực
của những biến cố đó, tháo gỡ các yếu
tố cản trở tiến trình dân chủ, vừa
đẩy nhanh tiến trình dân chủ. + Chuẩn bị các điều kiện, môi
trường, nhân lực để đoàn kết dân tộc
và ổn định tình thế, bảo đảm an sinh
cho toàn dân và an ninh cho quốc gia, và thiết lập chế
độ dân chủ.
2. Toàn Cầu: (a) Vận động hải ngoại và quốc
tế, đặc biệt trong 4 khu vực có đông người
Việt định cư: U¨c, Âu (Tây và Ðông Âu), Canada, Mỹ,
và cả A¨ châu (Nhật, Nam Hàn, Thái Lan). Hội nhập
cuộc vận động toàn dân và toàn diện của
chúng ta vào bối cảnh và chuyển biến quốc tế.
Ðồng thới vận dụng lộ trình và kế hoạch
đối ngoại của các chính phủ, đặc biệt
là Mỹ, đối với VN và khu vực ÐNA, A¨
Châu-TBD. (b) Ba mục tiêu quốc tế
vận: 1/ Làm nổi bật trước công luận
và diễn đàn quốc tế ba tính chất sau đây
của nhà cầm quyền VN hiện nay: (a) Trái đạo
lý (immoral: kẻ sai thắng, vi phạm nhân quyền); (b)
Tội phạm (criminal: giết người hàng loạt);
và (c) Trái luật pháp (illigitimate: không do dân bầu) 2/ Tạo được thế đứng của
những người Dân Chủ và phong trào dân chủ trước
công luận quốc tế. 3/ Vận động quốc tế và các
chính phủ dân chủ chấp nhận Giải Pháp Dân Chủ
cho Việt Nam, và hỗ trợ tíến trình thực hiện
giải pháp dân chủ do những người dân chủ
trong và ngoài nước đưa ra.
C. Tổng Quát Về Phương
Thức Vận Ðộng
1. Những gợi ý về phương thức: (a) Giao lưu giữa người dân trong nước
và hải ngoại ngày càng dễ dàng và mở rộng hơn;
tạo môi trường thuận lợi hơn cho các cuộc
vận động tư tưởng và chính trị
ở trong nước, và cho việc hình thành khối quốc
dân Việt độc lập và tách biệt khỏi tập
đoàn lãnh đạo; (b) Môi trường hải ngoại thuận lợi
hơn cho đường hướng hoạt động
mới; (c) Sức ép quốc tế trong các lãnh vực
ngoài lãnh vực kinh tế, thương mại sẽ
tăng cường hơn; (d) Yếu tố bất ngờ: cần lưu
ý theo dõi sát khả năng xẩy ra các biến cố bạo
động (bạo loạn ở nông thôn, miền núi; bạo
động thành thị; đảo chính; bất ổn
định khu vực).
2. Các Phương Thức sử dụng: (a) Retreat: giữa những người cùng
chung chí hướng vì một nước Việt nam Tự
Do. Retreat nhóm nhỏ, tiểu bang hay nước, khu vực
hay liên bang (Mỹ, Canada, Âu Châu, U¨c...), toàn cầu. (b) Truyền thông: Cả hai loại: điện
tử và thông thường; quảng đại và đặc
biệt. (c) Diễn Ðàn: các buổi nói chuyện, hội
thảo, tiếp xúc chính trị và tư tưởng (từ
thu hẹp tới mở rộng, từ chọn lọc tới
quảng đại). (d) Tập hợp nhân sự bằng nhiều
hình thức và cơ cấu tổ chức đa dạng,
thoáng mở, trải rộng không tập trung, thích hợp
với mọi người, mọi giới, và tùy theo
hoàn cảnh và công việc. Nên có cơ cấu liên lạc
và phối hợp để đạt hiệu năng
cao... (e) Công việc: đa dạng, tùy điều
kiện và hoàn cảnh, hợp sở trường và sở
thích cá nhân trong cả ba lãnh vực kinh tế thương
mại, văn hóa giáo dục, và chính trị xã hội. (f) Các chiến dịch vận động quốc
tế toàn diện và toàn cầu (không phải chỉ
ở Mỹ) (targets: media, Congress, government, NGO, business,
academics). Cần lập một Ban Chiến Lược và
nhiều Ban Ðặc Nhiệm chuyên trách về lãnh vực
này.
3. Ba Cuộc Vận Ðộng: (a) Vận động quốc tế: Vận
động cô lập ban lãnh đạo hiện nay ra khỏi
công luận quốc tế, và tiến đến quốc
tế chấp nhận và giúp thực hiện Giải
Pháp Dân Chủ và tiến trình dân chủ (sẽ soạn
thảo và đưa ra trong giai đoạn tới) (b) Vân động hải ngoại: Chuyển hóa
tâm thức chính trị, chuẩn bị điều kiện,
môi trường, nhân lực để thúc đẩy việc
hình thành một cộng đồng Việt hải ngoại
thuận lợi cho cuộc vận động dân chủ
ở trong nước, là gạch nối giữa VN quốc
nội với thế giới, giúp mở bung mọi cánh
cửa VN (kinh tế, văn hóa, thông tin, giáo dục,
chính trị) ra thế giới. Vận động hải
ngoại trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy
việc ra đời một trận tuyến Quốc Dân
Việt, thông lưu trong-ngoài, thông lưu VN-thế giới.
Từ trong trận tuyến này sẽ xuất hiện những
lực lượng chính trị dân chủ thích hợp. (c) Vận động trong nước: Tạo
điều kiện và thúc đẩy từ bên trong, và từ
ngoài vào, cho hình thành một khối Quần chúng Việt
ở trong nước, tách biệt và độc lập với
tập đoàn lãnh đạo ÐCS, kết hợp với
hải ngoại, làm nền tảng cho việc hình thành một
VN Tự Do, bất chấp và vượt qua sự chi phối
của tập đoàn lãnh đạo ÐCS. Từ trận
tuyến và môi trường chính trị xã hội đó
sẽ xuất hiện các lực lượng chính trị
dân chủ thích hợp. Ðưa tình hình đất nước
tới đột biến chính trị qua một trong hai
hình thái: chế độ dân chủ ra đời bằng
diễn biến hòa bình, hoặc chế độ cộng
sản sẽ bị tan vỡ trong hỗn loạn.
D. Ðại Cương Về Lộ
Trình Vận Ðộng:
Thời gian vận động: từ 2000
đến 2005. Nhằm đạt mục tiêu thiết lập
chế độ dân chủ pháp trị tại Việt
Nam. Thời điểm này được đưa ra dựa
vào dự kiến tốc độ phát triển của
tình hình khách quan ở trong nước, trong khu vực và
trên thế giới. Cần chuẩn bị đủ các
điều kiện và khả năng linh động để
sẵn sàng thích nghi và ứng biến kịp thời với
biến chuyển thực tế. 1. Giai Ðoạn 1: Giai đoạn Chuẩn Bị.
Từ 6 tháng tới một năm. (2000-2001) (a) Mục tiêu: Soạn thảo, thảo luận
và phổ biến Tầm Nhìn, Phương Thức và Lộ
Trình thực hiện. (b) Phương thức áp dụng cho giai đọan
chuẩn bị. Nguyên tắc tổng quát: chú trọng chất
lượng và nội dung. + Trao đổi qua email, và/hay gặp gỡ trực
tiếp; + Retreat (để chia xẻ sâu rộng về
hai Tài Liệu Căn Bản). Retreat cá nhân, nhóm, liên nhóm
hay đa nhóm; + Website và chuẩn bị nhân sự, phương
tiện cho một tập san xây dựng dân chủ và
phát triển đất nước. + Vận động tài chính và phương
tiện hoạt động. (c) Công việc: Soạn thảo các tài liệu về Tầm
Nhìn, Sách Lược và Lộ Trình Hoạt Ðộng. Cùng những người dân chủ trong
ngoài nước trao đổi, thảo luận, tu chỉnh
các tài liệu này để phản ánh được
quan điểm chung đồng thời qua các cuộc trao
đổi này nhận diện được thêm những
người dân chủ. Phổ biến các tài liệu này bằng
nhiều caứch khác nhau. Truyền thông: thực hiện Website (Việt
và Anh). Chuẩn bị cho việc xuất bản tập
san. Vận động phương tiện và
tài chính. chuẩn bị kế hoạch, nhân sự
và phương tiện để vận động quốc
tế. chuẩn bị các điều kiện và
các dự án hoạt động cho giai đoạn sau. thực hiện các dự án (projects) nào
có đủ điều kiện để thực hiện
đồng thời để tạo môi trường và
điều kiện thuận lợi chuẩn bị cho giai
đoạn sau. 2. Giai Ðoạn 2: Hai năm. Tạo Thế và Lực.
(2001-2002) (a) Thế: là môi trường và cơ hội
để có thể tác động vào quốc tế, hải
ngoại và trong nước. Lực: là nhân lực, tài lực,
phương tiện, kế hoạch, tổ chức. (b) Mục Tiêu: Tạo được thế
và lực chủ động trong cả ba khu vực: quốc
nội, quốc ngoại và quốc tế. Cụ thể:
(a) Chuyển đổi tâm thức và hoạt động
hải ngoại; (b) cô lập tập đoàn lãnh đạo
Ðảng cộng sản VN với dư luận quốc tế;
và (c) kết hợp được quần chúng Việt
hải ngoại với trong nước thành sức mạnh
toàn dân đối kháng lại tập đoàn lãnh đạo.
Ðồng thời kết hợp các nhân lực, nhân tố
và điều kiện cần thiế để tạo môi
sinh chính trị thuận lợi cho việc xuất hiện
những hoạt động và tổ chức dân chủ
thích hợp trong cả ba lãnh vực (văn hóa, kinh tế,
chính trị) và ba khu vực (quốc tế, quốc nội
và quốc ngoại). (c) Phương thức và công việc cụ
thể : Ðược hoạch định qua các buổi
retreat trong giai đoạn chuẩn bị. 3. Giai Ðoạn 3: Dự trù từ 2 đến
3 năm. Hoàn tất lôĩ trình. (2003-2005) (a) Mục tiêu: Người dân đạt
được quyền quyết định vận mệnh
đất nước. Tổng tuyển cử tự do và
chế độ dân chủ được thiết lập.
(b) Phương thức và công việc cụ
thể sẽ được các ban và các nhóm chuyên môn
soạn thảo sau. Ðây là giai đoạn đấu tranh
chính trị công khai ở trong nước. (c) Cần dự trù mọi trường hợp,
cả diễn biến hòa bình lẫn hỗn loạn. Dự
trù các biện pháp đối phó hỗn loạn để
rút ngắn thời gian và giảm thiểu tác hại.
TỔNG KẾT
Tầm Nhìn, Sách Lược, Phương thức và
Lộ trình đại cương trên đây là những
đề nghị gợi ý để mọi người
cùng trao đổi với mục đích tìm ra những
điểm chung căn bản về đường
hướng và phương thức tối ưu cho cuộc
vận động chung của mọi cá nhân, mọi
đoàn thể hiện nay ở hải ngoại cũng
như ỏ trong nước. Tài liệu này được
biên soạn với ước mong phản ánh được
nhận định về hiện trang Việt Nam và thế
giới, quan điểm và tầm nhìn chung về tương
lai Việt Nam, của mọi người Việt yêu nước
trong cũng như noài nước. Quá trình biên soạn
trải qua nhiều giai đoạn với sự tham gia của
nhiều người, nhiều nhóm thuộc nhiều khuynh
hướng văn hóa, chính trị khác nhau, nhưng đều
chia xẻ chung một tâm nguyện: xây dựng một nước
Việt tự do, tiến bộ, công bằng và phồn
vinh. Sau khi đã trao đổi và đồng ý được
một cách đại lược về Tầm Nhìn, Sách
lược, Phương thức và Lộ Trình, mỗi
cá nhân, mỗi nhóm, tùy theo sở trường, sở thích,
và phù hợp hoàn cảnh riêng, sẽ soạn thảo
các Chương trình hành động và lịch trình làm
việc cụ thể, để thực hiện các phương
thức và cônâg việc đề ra trong ba giai đoạn
của Lộ Trình trên đây. Dự kiến rằng qua
những retreat, các chương trình và lịch trình làm
việc thích hợp sẽ được soạn thảo,
và sau đó sẽ được các cá nhân và nhóm thực
hiện. Cơ cấu tổ chức và phương thức
phối hợp giữa các cá nhân và nhóm sẽ được
chính những cá nhân và nhóm này thảo luận và thiết
lập trong quá trình làm việc, tùy điều kiện và
nhu cầu thực tế. Chi tiết về những dự
kiến trên cùng các Chương Trình Hành Ðộng và Lịch
Trình Làm Việc không thuộc phạm vi của các tài liệu
căn bản này.
Ðoàn Viết Hoạt
Diễn Ðàn Việt (Khởi thảo và phổ biến
đợt đầu: đầu tháng 10/2000) (Tu chỉnh và phổ biến
đợt 2: từ 1/6/2001)
|