GS. VS. Ðặng Hữu
Thế giới đang chuẩn bị bước vào một thế kỷ mới. Do tác động của khoa học - công nghệ thế giới cũng đang chuẩn bị bước sang một giai đoạn phát triển cao hơn trong lịch sử phát triển của mình. Ðó là giai đoạn ra đời của nền kinh tế tri thức, giai đoạn ra đời và phát triển của xã hội thông tin.
Ðây là một vấn đề rất lớn, báo chí đề cập nhiều, ở đây chúng tôi chỉ tóm lược những điểm chính, có liên quan đến chủ đề chúng ta đang nghiên cứu là chiến lược phát triển nguồn nhân lực và cải thiện đời sống nhân dân.
Vấn đề thứ nhất: Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ vào cuối thế kỷ XX và sự ra đời của nền văn minh mới
Từ khi có loài người đến nay, sự phát triển của con người luôn dựa vào tri thức, vào khả năng sáng tạo, tức là dựa vào khoa học - công nghệ. Song ở các thời kỳ khác nhau thì tác động của khoa học - công nghệ ở mức rất khác nhau. Ơ thời kỳ tiền sử - một thời gian rất dài, con người chủ yếu làm theo bản năng, có ít tri thức, không đủ để có sáng tạo. Chuyển sang thời đại văn minh nông nghiệp, con người bắt đầu có những sáng tạo như tạo ra các công cụ trồng trọt (cái cày, cây cuốc) và biết tưới nước, tuy nhiên cũng phải mất tới 4000 - 5000 năm sau con người mới bắt đầu có tri thức thật sự, nhận thức được các quy luật khách quan và bước sang một thời đại mới là thời đại công nghiệp, thời đại của những sáng tạo kỹ thuật lớn lao. Những sáng tạo lớn như máy hơi nước, động cơ điện, luyện kim, hoá công nghiệp, v.v... đã làm thay đổi nền kinh tế, những sáng tạo ấy đưa xã hội lên một tầm cao mới đó là thời đại công nghiệp, xã hội công nghiệp. Xã hội công nghiệp cũng mới chỉ bắt đầu cách đây khoảng hơn 200 năm, càng về cuối càng phát triển nhanh và có thể nói là phát triển theo hàm số mũ. Cách mạng công nghiệp một mặt tạo ra của cải cho xã hội, mặt khác tạo ra điều kiện để con người phát triển khoa học, nhận thức quy luật khách quan, nhận thức xã hội, nhận thức tự nhiên. Do nắm bát được các quy luật khách quan, các ngành khoa học phát triển rất mạnh, nhất là vào cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện thêm nhiều ngành mới như nghiên cứu về lượng tử, về nguyên tử, vũ trụ, đại dương, cấu tạo vật chất. Kiến thức đã tạo tiền đề cho một cuộc cách mạng kỹ thuật mới. Tuy nhiên, do Ðại chiến thế giới lần thứ 2, bước đi của nó có phần chậm lại, các thành tựu khoa học và công nghệ được sử dụng vào các mục đích quân sự. Mãi sau Ðại chiến các nước mới có điều kiện tập trung biến các thành tựu khoa học thành công nghệ và đến lượt mình công nghệ lại tạo điều kiện cho khoa học phát triển mạnh hơn.
Trong thời gian gần đây, đặc biệt là những năm 80 và nhất là những năm 90 này khoa học Ờ công nghệ phát triển với tốc độ phi thường. Trước đây, khoa học với công nghệ còn tách riêng, nói khoa học là nói phần kiến thức, phần con người hiểu biết các qui luật khách quan, khám phá (phát minh) ra những điều chưa biết, là cái đã có trong tự nhiên nhưng con người chưa biết. Còn công nghệ là sự hiểu biết mới, được sử dụng vào hoạt động lao động, làm ra của cải, là cái chưa có, do vậy nói sáng tạo ra công nghệ, là sáng chế ra những cái mới. Trong một thời gian rất dài, khoa học, công nghệ hay còn gọi là kỹ thuật, và sản xuất là ba lĩnh vực tách rời nhau. Bất cứ sản phẩm mới nào ra đời cũng phải theo con đường từ khoa học đến công nghệ rồi mới ra sản xuất. Quá trình này rất dài, từ phát minh ra các định luật về điện, đến sáng chế ra động cơ điện, máy phát điện, đến đưa điện vào sản xuất và đời sống... phải mất hàng mấy chục năm. Song gần đây tạo các công nghệ mới chỉ mất vài năm. Và có nhiều cái còn nhanh hơn; khoa học trực tiếp chuyển thành công nghệ và sản xuất. Ðiều Mác nói: khoa học phát triển tới một lúc nào đó sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, và khoa học trực tiếp làm ra sản phẩm, đã trở thành hiện thực. Nó thể hiện rất rõ trong các ngành công nghệ cao. Có thể nói rằng cuộc cách mạng khoa học mới hay còn gọi là "cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại" bắt đầu từ những năm 50, sau Ðại chiến thế giới lần thứ hai, có đặc điểm là phát triển rất mạnh mẽ, khoa học gắn liền với công nghệ (trước kia ta gọi là kỹ thuật). Kỹ thuật gắn với khoa học làm một. Bên cạnh khái niệm "cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại", còn có khái niệm "cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba" (Cách gọi này xuất phát từ khía cạnh công nghiệp). Xét khía cạnh trình độ kỹ thuật thì khái niệm lâu nay vẫn dùng là "cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại". Giai đoạn phát triển mới của nó là những công nghệ cao.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với giai đoạn phát triển mới là công nghệ cao đang làm đảo lộn cả thế giới, thay đổi một cách cơ bản không chỉ lực lượng sản xuất mà cả các quan hệ xã hội, lối sống, quan hệ quốc tế... Nói tóm lại, có thể nói thế kỷ 20 là thế kỷ diễn ra sự đảo lộn rất lớn của thế giới nhờ khoa học Ờ công nghệ, mà giai đoạn đỉnh cao nhất của nó là thời gian giao thời hai thế kỷ hiện nay.
Thế kỷ XXI sẽ đánh dấu sự ra đời của nền văn minh mới trong lịch sử loài người. Về tên gọi của nền văn minh đang phôi thai này thì còn có nhiều ý kiến khác nhau, có người gọi là "nền văn minh hậu công nghiệp", "nền văn minh trí tuệ", "xã hội tri thức", "nền kinh tế tri thức", "xã hội thông tin" ... Ðây là bước chuyển biến đặc biệt lớn tương tự như bước chuyển từ thời tiền sử sang văn minh nông nghiệp hay từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp. Nền văn minh công nghiệp so với nông nghiệp thì mới chỉ là thay thế cơ bắp con người và giúp con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Thời kỳ văn minh nông nghiệp con người mới sử dụng đến lao động và đất đai. Cách mạng công nghiệp đã làm cho sức con người lớn hơn rất nhiều, sử dụng được nhiều tài nguyên. Song đã lâu cách sản xuất công nghiệp, sản xuất ào ạt, tiêu thụ ào ạt không còn thích hợp nữa, một phần bởi tài nguyên đã cạn kiệt mặt khác bởi những thách thức về môi trường đã trở nên rất gay gắt. Ðể phát triển, con người phải bước lên một giai đoạn mới, giai đoạn sử dụng tri thức nhiều hơn sử dụng tài nguyên, tài nguyên được sử dụng một cách hợp lý hơn. Công nghệ do con người làm ra lại góp phần nâng cao trí tuệ con người. Máy tính khác với công cụ khác ở chỗ không chỉ thay thế lao động cơ bắp mà thay thế cả một số chức năng lao động trí óc của con người như chức năng điều khiển và chức năng tư duy nhờ đó tạo cho con người một khả năng sáng tạo rất lớn. Con người thực sự làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên và làm chủ bản thân. Ðó chính là tác động lớn nhất của cuộc cách mạng công nghệ mới. Tháng 5 năm 1997, sự kiện máy tính Deep Blue M.2000 của công ty IBM đánh bại nhà vô địch cờ vua thế giới Casparôv cho thấy con người đã làm ra máy móc để rồi máy móc lại hỗ trợ trí tuệ con người, nâng con người lên một tầm cao trí tuệ mới. Một đặc điểm nữa của nền văn minh mới là sự phát triển chưa từng có của thông tin, sự ra đời của siêu xa lộ thông tin toàn cầu mà mọi hoạt động của con người từ làm kinh tế, học tập, vui chơi giải trí... đều thông qua siêu xa lộ ấy và từ đó dẫn đến sự đảo lộn cung cách vận hành xã hội từ trước đến nay. Ðó chính là những đặc điểm của xã hội tin học đang manh nha bên thềm thế kỷ XXI, đồng thời cũng là những đặc điểm chính của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang diễn ra trên toàn thế giới.
Khái niệm "công nghệ cao" cũng chỉ mới xuất hiện từ những năm 70 - 80 trở lại đây. Có nhiều cách khác nhau để đánh giá về trình độ kỹ thuật, trình độ công nghệ của một nền sản xuất, song thông thường người ta đánh giá theo bốn trụ cột chính. Thứ nhất là khoa học về sự sống tức là về khoa học về con người, sinh vật, sinh thái môi trường, là ngành khoa học quan trọng nhất đối với sự sống, sự phát triển. Thứ hai là khoa học vật liệu.Vật liệu tiến bộ chứng tỏ trình độ sản xuất cao. Thứ ba là khoa học về năng lượng. Thứ tư là khoa học quản lý tức là phương pháp điều khiển, phương pháp tổ chức quản lý để làm thế nào rút ngắn thời gian, không gian. Yếu tố này cũng rất quan trọng, nó quyết định sự phát triển nhanh hay chậm của xã hội loài người. Ở cả bốn ngành khoa học trụ cột này đều đã có những sự phát triển vượt bậc mở ra khả năng rất lớn cho loài người. Về khoa học sự sống thì công nghệ gen, công nghệ tế bào đã phát triển đến giai đoạn con người có thể tạo ra những giống, những loại theo ý muốn. Chú cừu Doly ra đời bằng phương pháp sinh sản vô tính là một dẫn chứng. Thế giới đang rất lo ngại về hậu quả của phát minh này, bởi nó mở ra khả năng của việc áp dụng phương pháp này vào con người. Việc tạo ra một đội bóng toàn Maradona là hoàn toàn có thể, vấn đề chỉ còn là thời gian và có dám cho làm hay không. Về công nghệ vật liệu thì ngoài những vật liệu hiện đại đã có, vật liệu tổ hợp (composit) có những tính năng có thể nói là kỳ diệu. Ðặc biệt gần đây là kỹ thuật Nano technology. Với công nghệ này có thể chế tạo ra vật liệu so với thép nhẹ hơn 7 lần song sức bền cao hơn khoảng 400 lần. Với loại vật liệu này việc sản xuất các loại rôbốt tí hon, thậm chí rôbốt không nhìn thấy là hoàn toàn có thể. Về công nghệ năng lượng, hiện thế giới vẫn đang phải đương đầu với khủng hoảng năng lượng, khủng khoảng môi trường. Song việc giải quyết khủng khoảng cũng chỉ còn là thời gian vì triển vọng xuất hiện các nguồn năng lượng mới đã rất rõ. Triển vọng nhất là năng lượng mặt trời. Thời gian gần đây xuất hiện nhiều giải pháp nhằm hạ giá thành do vậy sắp tới chắc chắn sẽ được dùng nhiều. Ðáng lưu ý nhất là năng lượng nguyên tử. Công nghệ khuyếch đại năng lượng nguyên tử, một phát minh mới - rất an toàn, phản ứng dưới nhiệt độ tới hạn, không bao giờ xảy ra phản ứng dây chuyền, sử dụng tối đa nguồn nhiên liệu, gần như không có chất thải và rất an toàn. Vấn đề hiện vẫn đang được thử nghiệm và rất có triển vọng. Sắp tới khi nghiên cứu thành công thì vấn đề khủng khoảng năng lượng của toàn thế giới sẽ được giải quyết. Hướng nghiên cứu công nghệ nhiệt hạch tổng hợp thì chắc còn lâu. Một công nghệ đặc biệt phát triển nữa là công nghệ thông tin (thuộc trụ cột thứ tư). Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin khiến thế gíơi ngày càng thu nhỏ, ngày càng hoà nhập làm một, xoá nhoà những khoảng cách về thời gian và không gian. Thế giới đang bàn tính việc cùng làm "thương mại điện tử" rồi "chính phủ điện tử", "tiêu dùng điện tử"... Ðây là giai đoạn CNTT phát triển vượt bậc, tác động sâu sắc và rộng khắp. Trong lịch sử khoa học - kỹ thuật từ trước tới nay chưa có một lĩnh vực khoa học nào, một phát minh khoa học - công nghệ nào lại có tác động to lớn như công nghệ thông tin. Nó được sử dụng ở mọi lĩnh vực, đến từng gia đình, từng con người, gây ra những thay đổi sâu sắc về phong cách hoạt động của mọi đối tượng từ các khối liên minh tới từng quốc gia và từng người dân. Gần đây Trung Quốc có xuất bản một cuốn sách về kinh tế tri thức mà mục đích là để cảnh tỉnh mọi người trước những biến đổi ghê gớm của thế giới do công nghệ thông tin tạo ra. Những biến đổi này nước nào không chú ý tới thì tức là đã phạm sai lầm hết sức to lớn. Thời Khang Hy đã phạm sai lầm, mặc dù đó là thời cực thịnh, thời kỳ Trung Quốc rất chú ý phát triển kỹ thuật. Phải nói rằng nền kỹ thuật Trung Quốc đã được hình thành từ lâu, thậm chí ra đời trước kỹ thuật châu Âu đến năm, bảy thế kỷ tuy nhiên phát triển rất chậm so với châu Âu. Ðến thời Khang Hy kỹ thuật Trung Quốc phát triển mạnh đến nỗi người ta nói Trung Quốc thời kỳ đó còn giàu hơn các nước châu Âu. Rất tiếc là Khang Hy chủ trương đóng cửa, không muốn tiếp thu cách mạng công nghiệp của châu Âu, tàu bè Châu Âu đã có động cơ nhưng Trung Quốc vẫn cứ là tàu buồm, nên phải chịu kết cục bi thảm, bị các nước Châu Âu đè bẹp (thời nhà Thanh). Ơ ta thì có thời kỳ vua Tự Ðức, cũng có sai lầm tương tự. Tóm lại bài học lịch sử để lại là các nước đều phải tranh thủ tiếp cận với cách mạng công nghệ thế giới để có thể phát triển nước mình, tránh khỏi thua thiệt.
Bốn ngành khoa học - công nghệ nói trên là bốn trụ cột chính của công nghệ cao. Những tri thức khoa học ở trình độ cao nhất, được con người tích luỹ và nâng cao từ đời nọ qua đời kia có tác động rất mạnh đến sản xuất được gọi là công nghệ cao. Ngoài bốn ngành công nghệ chính là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới, nhiều nước còn thêm vào lĩnh vực công nghệ cao nhiều ngành khác, ví dụ Trung Quốc gọi Hải dương học hay khoa học vũ trụ đều là công nghệ cao. Song thông thường, người ta nhấn mạnh 4 lĩnh vực công nghệ nói trên vì đó là 4 trụ cột của nền sản xuất, nền kỹ thuật. Trong 4 trụ cột đó công nghệ thông tin có vai trò quan trọng nhất, tạo ra động lực để con người chuyển sang xã hội thông tin.
Quá trình phát triển của công nghệ thông tin diễn ra qua 4 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn thu thập và xử lý thông tin thông thường bằng tay bằng sổ sách...Sang đến giai đoạn hai đã bắt đầu có sự can thiệp của máy móc, giúp con người xử lý chính xác hơn, tin cậy hơn, nhanh hơn. Giai đoạn ba là giai đoạn sử dụng máy tính, việc xử lý thông tin hơn hẳn giai đoạn trước, nhiều việc xử lý được tự động hoá, và do đó thông tin biến thành tri thức mới (xử lý thông tin cho người ta những hiểu biết mới, các mối quan hệ có tính quy luật) . Chuyển sang giai đoạn thứ tư là giai đoạn "thông minh", máy móc không chỉ làm khâu tính toán mà còn tổng hợp số liệu, phân tích số liệu, rút ra kết luận một cách rất nhanh chóng và chuẩn xác và đưa ra cách giải quyết các vấn đề. Ðây là giai đoạn nhân nhanh tri thức con người. Thông tin là tài nguyên quý giá, thông tin là tri thức. Có thể nói giai đoạn này là giai đoạn máy móc có trí tuệ hay còn gọi là giai đoạn của những cỗ máy thông minh. Hiện nay công nghệ thông tin Trung Quốc đã qua giai đoạn thứ ba, và đang chuyển sang giai đoạn thứ tư, chính là nhờ mạng máy tính.
Công nghệ cao có những đặc điểm gì ?
Công nghệ cao là công nghệ dựa vào những thành tựu khoa học mới nhất với hàm lượng tri thức và hàm lượng khoa học cao nhất. Với đặc điểm khoa học phát triển mạnh mẽ như ngày nay thì công nghệ cao là sự gắn kết của khoa học với sản xuất. Nó chập cả ba quá trình khoa học: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai làm một. Những lĩnh vực khoa học mà trực tiếp ra sản xuất như thế là công nghệ cao.
Do đặc điểm như vậy tác động của công nghệ cao đến sự phát triển là rất rõ ràng. Nó tạo ra các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực dịch vụ mới có năng xuất, chất lượng hiệu quả cao nhất. Ðó chính là khoa học tạo ra sản phẩm, khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp như Max nói.
Tác động của công nghệ cao đến sản xuất trên thế giới:
Thứ nhất công nghệ cao cải tạo các lĩnh vực sản xuất dịch vụ truyền thống. Ví dụ ngành sản xuất ô tô vốn là ngành truyền thống lâu đời song giờ đây đã biến đổi nhiều, dựa nhiều vào tri thức, vào công nghệ cao. Sản phẩm của ngành được sử dụng vật liệu mới, nhẹ hơn tới 70 Ờ 80% so với sản phẩm truyền thống và được điều khiển tự động do vậy trở nên khác xa các sản phẩm truyền thống. Khi một ngành đạt tới sự thay thế tới 70% thì đó là ngành công nghệ cao, hoặc ngành đó trở thành ngành có tính công nghệ cao.
Thứ hai công nghệ cao sản sinh ra các ngành sản xuất, dịch vụ mới. Sự phát triển của công nghệ thông tin là biểu hiện rõ ràng nhất. Cách đây 20 năm sản phẩm của nó còn chưa đáng kể trên thị trường thế giới song giờ đây tổng giá trị sản phẩm của CNTT đã lên tới gần 1000 tỷ đôla/năm. Công nghệ thông tin đang phát triển rất nhanh, mỗi năm tăng mười mấy phần trăm. Hiện nay CNTT đã trở thành ngành sản xuất dịch vụ lớn nhất trên thế giới, vượt cả ô tô và dầu khí vốn là hai ngành đứng đầu. Ngoài việc sản xuất máy tính và lập phần mềm là những ngành rất lớn, CNTT còn tạo ra rất nhiều ngành dịch vụ mới. CNTT còn thâm nhập vào nhiều ngành khác và tạo thêm nhiều công việc mới. Ví dụ thương mại điện tử mở ra sẽ tạo thêm nhiều việc làm, cuốn hút rất nhiều lao động có chuyên môn cao. Ðó thực sự là một chuyên ngành rất mới. Những ngành mà công nghệ cao tạo ra này không chỉ rất mới mà còn có tính cạnh tranh rất cao, hiệu quả rất cao. Từ đó thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế trên thế giới cũng như trong từng nước. Ngoài lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, công nghệ cao còn tác động rất mạnh tới các hoạt động tổ chức, quản lý, tới các mối quan hệ xã hội. Có thể nói công nghệ cao có tác động đến tất cả các hoạt động của xã hội loài người. Ðây là đặc trưng nổi bật xã hội loài người giai đoạn cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21.
Ðặc điểm cần nhấn mạnh nữa của công nghệ cao là nó đẩy trình độ sản xuất của loài người tiến lên một bước. Quá trình sản xuất kiểu cổ điển đi từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng rồi mới đến nghiên cứu triển khai và sản xuất hàng loạt nay ngày càng rút ngắn thậm chí không còn phân biệt ranh giới nữa. Quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất được rút ngắn đến tận cùng. Ơ nhiều lĩnh vực đã không còn phân biệt được đâu là sản xuất đâu là nghiên cứu. Vào thăm cơ sở của một hãng nào đó ở thung lũng Silicon người ta không biết gọi nó là xưởng sản xuất hay là phòng thí nghiệm bởi cả hai cách gọi đều không sai. Gọi là xưởng sản xuất vì ở đó sản phẩm được sản xuất ra hàng loạt còn gọi là labo bởi quá trình làm ra sản phẩm là quá trình tìm tòi, nghiên cứu khoa học. Ðiều kiện sản xuất trong những cơ sở này tinh vi hơn rất nhiều so với các phòng thí nghiệm thông thường. Phòng sản xuất các linh kiện đặc biệt dùng trong máy tính xây dựng tốn kém mấy trăm triệu đôla bởi chỉ riêng không khí vào phòng đã phải lọc qua bẩy lần.
Khoa học mang tính chuyên sâu rất cao đồng thời cũng đòi hỏi tính tổng hợp rất cao, đòi hỏi sự phối hợp giữa các ngành, sự gắn bó chặt chẽ giữa hai lĩnh vực, cả khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Ðó cũng là một trong những xu hướng phát triển khoa học ngày nay.
Công nghệ cao đặt ra đòi hỏi mới đối với giáo dục - đào tạo:
Xưa nay ta vẫn dùng các khái niệm "quốc sách", "nền tảng" để nói lên vị trí, vai trò của giáo dục trong xã hội. Song với sự phát triển như vũ bão của khoa học Ờ công nghệ trên thế giới hiện nay có lẽ các khái niệm ta vẫn dùng chưa nói hết được vai trò đặc biệt hiện nay của giáo dục. Hoạt động công nghệ bây giờ chủ yếu là nghiên cứu khoa học do vậy nó đặt ra yêu cầu rất cao về tri thức. Con người phải được giáo dục, đào tạo sao cho có đủ tri thức để đảm đương được mọi công việc trong lĩnh vực công nghệ cao. Trong lĩnh vực này, tất cả mọi người đều phải đạt đến một trình độ nhất định. Tập thể lao động chỉ bao gồm toàn các chuyên gia. Chính vì vậy, để phát triển được công nghệ cao, phải có giáo dục, giáo dục trở thành yếu tố quyết định, là cơ sở chủ yếu nhất cho xã hội công nghệ cao.
Công nghệ cao ngày càng xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực, các ngành sản xuất của nền kinh tế công nghiệp truyền thống và từng bước biến đổi nó thành nền kinh tế tri thức. Có khá nhiều cách gọi khác nhau về nền kinh tế mới song bản chất chỉ là một. Có nơi gọi là nền kinh tế dựa vào tri thức, có nơi lại gọi là nền kinh tế tri thức. Khái niệm "nền kinh tế tri thức" đã được Liên Hiệp Quốc chính thức sử dụng vài ba năm nay. Ðây là xu thế phát triển chính của thế kỷ 21. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa chủ yếu vào khoa học và tri thức. Ở đây nếu chỉ nhận thấy vai trò của khoa học thì chưa đủ bởi công nghệ không chỉ từ khoa học mà ra mà còn từ tri thức, từ nguồn tài sản đặc biệt mà loài người đã tích luỹ được trong suốt quá trình phát triển dài lâu của mình. Cái cốt lõi của nền kinh tế tri thức là công nghệ cao. Người ta đánh giá nền kinh tế của một nước đạt tới trình độ kinh tế tri thức hay chưa là dựa trên cơ sở nền kinh tế đó có đạt được một tỷ lệ nhất định các ngành sản xuất, ngành dịch vụ dựa vào công nghệ cao. Trong cuộc tranh luận cách đây vài năm do Liên Hiệp Quốc tổ chức về tác động của khoa học Ờ công nghệ đối với sự phát triển xã hội, hầu hết các nước đi đến nhất trí rằng tác động mạnh mẽ nhất của khoa học Ờ công nghệ đối với xã hội loài người sẽ diễn ra vào những năm ba mươi của thế kỷ tới và phải tới nửa sau của thế kỷ tức là vào những năm năm mươi thì thế giới mới có được ở phạm vi toàn cầu một nền kinh tế tri thức tương đối hoàn chỉnh.
Những đặc trưng chính của nền kinh tế tri thức :
Thứ nhất đó là nền kinh tế dựa vào tri thức. Tri thức tạo ra giá trị cao nhất trong xã hội. Các nền kinh tế khác trong lịch sử loài người cũng dựa vào tri thức song ở các mức độ khác nhau và tri thức ở đó chưa có ý nghĩa quyết định, yếu tố quyết định là những yếu tố như lao động, như tài nguyên. Trong nền kinh tế tri thức thì tri thức là yếu tố quyết định. Sở hữu tài nguyên không còn là quan trọng nhất nữa mà là sở hữu tri thức, sở hữu trí tuệ. Do vậy có thể nói nền kinh tế trí thức là giai đoạn cao nhất trong sự phát triển hoạt động sản xuất của loài người. Từ trước đến nay loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế, phát triển văn minh. Ví dụ ở thời kỳ kinh tế nông nghịêp, kinh tế dựa chủ yếu vào lao động thô sơ, ở thời kỳ kinh tế công nghiệp kinh tế dựa chủ yếu vào tài nguyên sang giai đoạn mới này kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức, tri thức là quyết định. Ai chiếm hữu được tri thức thì người đó thắng trong cuộc cạnh tranh. Từ đó đặt ra rất nhiều vấn đề mới. Ví dụ, sở hữu công nghịêp, sở hữu trí tuệ không phải là vấn đề mới, nó đã có từ hàng trăm năm nay, song vấn đề là ở chỗ mọi thể chế, mọi quy định về sở hữu trí tuệ hiện nay trên thế giới đều trở nên bất cập, không còn phù hợp nữa. Sắp tới khi xã hội chuyển mạnh hơn sang xã hội thông tin thì vấn đề này sẽ càng gay cấn, quyết liệt hơn.
Những số liệu nêu lên dưới đây cho thấy vai trò đặc biệt của giáo dục và khoa học trong nền kinh tế tri thức. Trước hết nói về vai trò của khoa học: trong kinh tế nông nghiệp, vai trò khoa học còn yếu, không đáng kể. Chuyển sang kinh tế công nghiệp vai trò lớn hơn hẳn và tác dụng của khoa học rất rõ ràng. Dẫn chứng là bình quân GDP các nước chi cho khoa học chỉ có từ 1 Ờ 2 % GDP song đóng góp của khoa học vào nền kinh tế đạt đến 30 Ờ 40% GDP. Ðến nền kinh tế tri thức, vai trò khoa học trở nên cực kỳ to lớn, là yếu tố quyết định. Chi phí cho khoa học tăng tới 3% GDP trở lên song đóng góp của khoa học vào nền kinh tế lên tới trên 80% tức là hầu hết sản phẩm của xã hội đều do khoa học mang lại. Về vai trò giáo dục: trong kinh tế nông nghiệp vai trò của giáo dục còn thấp, đầu tư cũng thấp, dưới 1% GDP; sang kinh tế công nghiệp đầu tư lên tới 2 Ờ4%; sang kinh tế tri thức đầu tư cho giáo dục phải tăng tới 6 Ờ 8% trở lên thì nền kinh tế mới tiếp tục phát triển được. Về công nghệ : công nghệ thông tin trong kinh tế công nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng từ 3 - 5% song sang kinh tế tri thức thì nó chiếm tới15 % trở lên. Công nghệ sinh học trong kinh tế công nghiệp chỉ chiếm 2% song tới kinh tế tri thức chiếm trên 10%. Các loại công nghệ cao khác trong kinh tế công nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng 5% song sang kinh tế tri thức lên tới trên 30%. Lao động nông nghịêp trong kinh tế nông nghịêp chiếm tỷ trọng trên 50%, đến kinh tế công nghiệp giảm xuống chỉ còn khoảng 10 Ờ 20 %, sang kinh tế tri thức chỉ còn dưới 10%. Lao động nông nghiệp giảm mạnh cũng chính là một trong những tính chất chủ yếu của nền kinh tế tri thức.
Về tên gọi của nền kinh tế mới:
Ngoài những tên gọi mà chúng ta đã nói tới ở phần trên, như "nền kinh tế tri thức" hay "nền kinh tế dựa vào tri thức" còn có những tên gọi khác xuất phát từ một số khía cạnh khác. Ví dụ còn có tên gọi "nền kinh tế số" (các nhà thông tin hay dùng) xuất phát từ góc độ nền kinh tế mới dựa vào kỹ thuật thông tin, dựa vào kỹ thuật số. Hay còn gọi là "nền kinh tế mạng" xuất phát từ đặc điểm hầu hết hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội cũng như các hoạt động lớn nhỏ của con người đều thông qua mạng. Các máy nối mạng có thể rất đồ sộ mà cũng có thể rất nhỏ chỉ là một con chíp điện tử cài vào áo hay cấy dưới da. Ngoài ra còn có tên gọi "kinh tế phần mềm". Phần mềm chính là tri thức. Những cách gọi này về cơ bản là giống nhau bởi đều thể hiện những đặc trưng của nền kinh tế mới là tri thức, là công nghệ cao.
Nền kinh tế tri thức mang những tính chất rất đặc biệt. Thứ nhất, của cải mà con người làm ra dựa chủ yếu vào cái chưa biết, những gì biết rồi thì giá trị ít đi. Thứ hai, môi trường để tìm ra cái chưa biết chính là thông tin, là sự phát triển mạng. Mạng trở thành yếu tố quyết định trong kinh tế mạng hay kinh tế số. Thứ ba, tiếp nhận cái chưa biết (quí hơn cái đã biết) cũng chính là loại bỏ cái đã biết. Từ đó dẫn đến cái thứ tư tức là sự ra đời của cái mới. Ơ nền kinh tế tri thức, chu trình hình thành cái mới : từ biết cái mới, nuôi dưỡng nó, rồi suy tàn và thay thế bằng cái mới hơn diễn ra cực nhanh. Công nghệ thay đổi không còn là hàng năm mà là hàng tháng thậm chí hàng ngày. Cái mới ra đời là cái cũ bị thay luôn.
Ðiểm đặc biệt khác nữa ở kinh tế tri thức là sự thành công của một công ty này không nhất thiết dẫn đến sự sụp đổ của một công ty khác do cạnh tranh như ở thời kỳ kinh tế công nghiệp mà ngược lại, thành công của nơi này kéo theo thành công của nơi khác, dẫn đến sự phát triển liên tục. Dẫn chứng điển hình là sự phát triển của thung lũng Silicon, nơi đang chi phối sự phát triển công nghệ cao của toàn thế giới. Công ty này đẻ ra công ty khác, các công ty cùng hợp tác và cùng mở rộng. Một đặc điểm rất đáng lưu ý nữa là chất lượng càng cao thì giá cả càng thấp. Máy tính là một minh chứng.Cái có giá trị nhất là cái cho không. Cái sử dụng sau đó mới là khoản để người ta thu về. Ví dụ, máy in màu bán rất rẻ 200 Ờ 300 đôla nhưng mực in thì rất đắt. Hay người ta cho không anh một phần mềm nào đó song khi anh đã sử dụng rồi thì phiên bản ra sau của nó anh sẽ phải mua với giá cao. Sản phẩm nào càng nhiều người sử dụng thì càng có giá trị. Những cách thức nói trên quá khác với thông lệ làm ăn bấy lâu của chúng ta buộc chúng ta phải suy nghĩ, thay đổi cách làm, cách nghĩ lâu nay của mình.
Về tổ chức sản xuất cũng có những thay đổi. Kinh tế công nghiệp quy định ba khu vực sản xuất là nông nghịêp, dịch vụ và công nghiệp đến nay quy định này tỏ ra không còn phù hợp, cụ thể là có một số ngành dựa vào tri thức không thể xếp vào một khu vực nào. Ví dụ ngành công nghiệp thông tin chỉ đưa vào một khu vực là công nghịêp hay dịch vụ đều không ổn, bởi nó cao hơn cả công nghiệp lẫn dịch vụ do đó nhiều người cho rằng đã xuất hiện một khu vực sản xuất thứ tư. Ðối với ngành công nghiệp thông tin thì hiện nay phần sản xuất được xếp vào khu vực công nghiệp còn phần mềm như các dịch vụ, viễn thông, ngân hàng thì được xếp sang phần dịch vụ.
Về hình thức tổ chức sản xuất. Xuất hiện hình thức mới là các khu công nghệ cao mà ở đó sản xuất và khoa học kết hợp làm một. Ðó là hình thức sản xuất mới của nền kinh tế tri thức, của xã hội thông
tin. Các khu công nghệ cao hay còn gọi là các "công viên công nghệ cao" (technology park) đang phát triển rất mạnh. Ðầu tiên chỉ là tự phát, như sự ra đời thung lũng Silicon. Xuất phát điểm ra đơì khu công nghệ cao này là đại học Stanford và một số trường đại học khác. Vào những năm 50, nhu cầu mở rộng quy mô đào tạo và tăng cường công tác nghiên cứu của trường đại học Stanford khiến nhà trường rơi vào tình trạng bí về tài chính. Ðể giải quyết khó khăn này nhà trường quyết định cho thuê 80 ha đất của nhà trường (luật của Mỹ không cho phép bán đất chỉ được phép cho thuê). Thời hạn là 99 năm với một ý đồ rất rõ ràng, chỉ cho phép vào đây những công ty nào chấp nhận kinh doanh và sản xuất những sản phẩm mà nhà trường nghiên cứu ra. Khác với những khu vực sản xuất truyền thống, thung lũng Silicon là một khu vực sản xuất đẹp và sạch như công viên. Rất đẹp, rất sạch và hiệu quả rất cao. Ðây là nơi cả ba quá trình nghiên cứu khoa học là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai, sản xuất hàng loạt nhập lại làm một. Những sản phẩm từ đây được sử dụng trên toàn thế giới.
Từ một khu công nghệ cao hình thành tự phát như vậy đến nay trên thế giới đã hình thành cả một xu hướng rất mạnh xây dựng các khu công nghệ cao. Bởi đó chính là hình thức tổ chức sản xuất của tương lai, là nơi khoa học trực tiếp trở thành lực lượng sản xuất, trực tiếp làm ra sản phẩm. Trung quốc cũng như Ân Ðộ đều rất chú trọng đầu tư xây dựng các khu công nghệ cao. Việt Nam cũng đã quyết định xây dựng thí điểm hai khu đầu tiên.
Trung Quốc không chỉ rất chú trọng việc xây dựng các khu công nghệ cao mà còn nhằm tới những mục đích cao hơn. Trung Quốc nhận thấy rằng khoa học của Mỹ là mạnh nhất song khâu chuyển từ khoa học sang công nghệ vẫn còn chậm bởi Mỹ thiếu một lực lượng lao động đủ mạnh để làm nhanh khâu này. Trung quốc dự định hợp tác với Mỹ xây dựng các khu công nghệ cao mà mục đích là mau chóng chuyển các phát minh khoa học mới nhất của Mỹ thành công nghệ rồi bán lại cho Mỹ tức là rút ngắn hơn nữa quá trình chuyển từ khoa học sang công nghệ. Trung Quốc tin là Trung Quốc có lực lượng nhân lực đủ mạnh để làm được khâu này, tức là làm ngay khâu đầu tiên, khâu hình thành công nghệ chứ không phải khâu tiếp theo khâu sản xuất đại trà. đó là một chủ trương rất lớn, rất táo bạo.
Tóm lại khu công nghệ cao chính là hình thức dẫn đầu của tổ chức sản xuất mới. Nó là nơi sản sinh ra các công nghệ cao và phát triển các ngành công nghiệp dựa trên công nghiệp cao. Nó đưa ra công nghệ cao để cải tạo các lĩnh vực khác đồng thời nó mở ra các ngành công nghiệp mơí dựa vào công nghệ cao. Ðó cũng chính là hoạt động khoa học trong tương lai. Nhất thể hoá khoa học, công nghệ và sản xuất. Khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp cho ra sản phẩm. Các ngành dịch vụ cơ bản từ đó cũng được cải tạo dần, trở nên mang tính công nghệ cao.
Ðặc điểm nổi bật của nền kinh tế tri thức: sáng tạo là linh hồn của nền kinh tế. Tất cả đều bắt nguồn từ sáng tạo. Ngay từ ở xã hội công nghiệp thì cái mới đã đóng vai trò đặc biệt bởi nó quyết định khả năng cạnh tranh tuy nhiên ở xã hội công nghiệp quá trình tạo ra cái mới còn dài. Bước sang xã hội tri thức chu kỳ sản sinh cái mới và xoá bỏ cái cũ rút xuống rất ngắn. Cái mới ra đời liên tục, thay thế cái cũ. Sáng tạo trở thành cái đảm bảo sự tồn tại của công ty, của quốc gia. Từ nhu cầu sáng tạo dẫn đến một hình thức đầu tư mới, gọi là hình thức đầu tư mạo hiểm. Nói đến công nghệ cao là phải chấp nhận mạo hiểm, chấp nhận rủi ro. Anh có thể nghiên cứu nhiều thứ song thành công có khi chỉ là một. Loại hình đầu tư này hiện đã trở thành chủ trương của các công ty lớn. Ơ ta loại hình này mới chỉ xuất hiện trong lĩnh vực thông tin. Nó đòi hỏi phải có cơ chế riêng, phải chấp nhận tới 90% thất bại. Song chỉ 10% thành công cũng có thể bù lại nhiều lần khoản đầu tư bỏ ra. Ðầu tư vào kinh tế tri thức là đầu tư vào tài sản vô hình trên cơ sở tri thức. Hiện nay ở Mỹ trên 60% đầu tư là đầu tư vô hình.
Nền kinh tế tri thức còn thay đổi cả thị trường. Nó mở rộng và làm biến đổi thị trường truyền thống. Thương mại điện tử là một phát kiến hết sức quan trọng, dự kiến sẽ chi phối hầu hết các hoạt động của xã hội tương lai. Các nước đang đề nghị Việt Nam tham gia thương mại điện tử. Bởi không thể đứng ngoài nên nhất định Việt Nam sẽ tham gia. Song vấn đề là tham gia khi nào, phải được cân nhắc, lựa chọn kỹ. Nếu không cân nhắc kỹ, chuẩn bị chu đáo thì sẽ rất nguy hiểm bởi trong thương mại điển tử, nước nào làm chủ được tri thức, làm chủ được công nghệ, nước đó sẽ rất có lợi, ngược lại nếu không đủ lực, không đủ bản lĩnh, nước đó sẽ bị dòng thác thương mại điện tử cuốn trôi và đè bẹp. Các đồng chí chắc có nghe nói về hiệp định liên chính phủ mà Mỹ trực tiếp soạn thảo và đang lôi kéo các nước tham gia. Kế hoạch Mỹ thảo ra đang bị các nước EU và cả Canađa phản đối kịch liệt. Một trong những lý do là bởi Mỹ định dùng công nghệ cao của Mỹ để chi phối các nước tham gia. Những vấn đề phức tạp như vậy hiện còn rất nhiều song xu thế thương mại điện tử đã rõ. Vấn đề chỉ còn là thời gian.
Kinh tế tri thức là loại hình kinh tế phát triển bền vững, thân thiện với môi trường. Một vấn đề rất nhạy cảm trong nền kinh tế mới là vấn đề văn hoá , vấn đề bản sắc dân tộc. Các dân tộc cần phải làm gì để giữ được bản sắc văn hoá riêng của mình trong thời đại toàn cầu hoá. Vấn đề này từng là chủ đề của nhiều hội thảo quốc tế lớn. Tại Hội nghị quốc tế về tri thức toàn cầu tổ chức vào năm ngoái ở Canada, có rất nhiều đại biểu cho rằng vấn đề này phải được đem ra xem xét tại một hội nghị văn hoá toàn cầu. Các dân tộc sẽ duy trì bản sắc văn hoá riêng như thế nào trong điều kiện nền văn hoá toàn cầu và siêu xa lộ thông tin. Làm sao mỗi dân tộc đều giữ được bản sắc riêng, không để bị hoà tan vào cái chung là vấn đề rất lớn cần được nghiên cứu thấu đáo.
Loại hình xã hội mới là xã hội thông tin. Hiện nay nhiều nước đã có chiến lược tiến tới xã hội thông tin. Singapo là nước rất tích cực xây dựng xã hội thông tin. Một nước nhỏ khác như Ailen cũng vậy, họ có cả một uỷ ban về xã hội thông tin,chuyên nghiên cứu soạn thảo ra các chính sách giúp chính phủ hướng xã hội phát triển theo mô hình xã hội thông tin.
Về tên gọi của xã hội mới, cũng xuất hiện nhiều cách gọi khác nhau, như "xã hội văn minh", "xã hội trí tuệ", "xã hội hậu công nghiệp", "làn sóng thứ ba" ...song xã hội thông tin là tên gọi mang ý nghĩa sâu sắc hơn cả. Dưới đây là những đặc điểm chính của xã hội thông tin:
1. áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động, đến từng gia đình.
2. Có cơ sở hạ tầng là siêu xa lộ thông tin. Mạng máy tính trở nên phổ cập, rất tiện lợi và rẻ tiền. Mọi người đều có thể cập nhật mạng tiếp nhận tất cả các thông tin mình cần từ kinh tế, đến học tập giải trí... .
3. Là một xã hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời, học tập thông qua mạng. Mỹ đã nối mạng đến 80% số trường tiểu học, đến năm 2000 dự định sẽ nối hết. Hàn Quốc đã trải được 17.000 cây số cáp quang, nối 10 triệu hộ gia đình, dung lượng rất lớn, v.v...
4. Chính phủ điện tử, mọi hoạt động chỉ đạo điều hành của hệ thống hành chính Nhà nước đều thông qua mạng máy tính.
Xu hướng phát triển kinh tế mỗi nước còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố song xu thế kinh tế toàn cầu thì đã rõ, đó là xu thế toàn cầu hoá. Cụ thể là thương mại quốc tế hiện đã tăng nhanh nhiều lần so với thu nhập do các nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin, hợp tác, sử dụng lao động...
Xu thế thương mại quốc tế kéo theo xu thế quốc tế hoá sản xuất. Thương mại quốc tế tăng nhanh song quốc tế hoá sản xuất còn tăng nhanh hơn cả thương mại. Các công ty xuyên quốc gia phát triển rất mạnh. Mấy trăm công ty hiện nắm hơn một nửa giang sơn kinh tế của thế giới. Chính các công ty này đã thúc đẩy toàn cầu hoá sản xuất. Công nghệ thông tin với các mạng thông tin đã tạo cho các công ty khả năng đó. Mạng lưới của các công ty xuyên quốc gia trải ra khắp toàn cầu do đó họ phát huy được thế mạnh của các vùng trên toàn thế giới thậm chí còn tranh thủ được cả sự chênh lệch về múi giờ giữa các vùng để tăng thời gian làm việc.
Ðặc điểm nữa là tài chính. Tài chính quốc tế phát triển nhanh một cách đáng sợ, còn nhanh hơn cả quốc tế hóa sản xuất. Lưu thông tiền tệ nhiều gấp hàng trăm lần lưu thông hàng hoá. Các công ty lớn sử dụng hơn 40% vốn vào đầu tư tài chính. Các hoạt động tài chính diễn ra mạnh mẽ, nhanh chóng, gây tác động rất lớn, thậm chí có thể trong vài giờ chuyển toàn bộ ngân hàng New-york sang Tokyo. Do vậy người ta nói những kẻ nắm tài chính thế giới có thể lũng đoạn cả thế giới. Chính công nghệ thông tin đã tạo cho tài chính quốc tế sức mạnh đáng sợ đó.
Những đặc trưng khác của toàn cầu hoá:
Nước này có thể sử dụng dễ dàng tài nguyên của các nước khác. Các nước đang phát triển đang bị các nước phát triển chèn ép. Ơ đây thấy rất rõ vai trò của các công ty xuyên quốc gia mà hiện đang chiếm tới 40% tổng giá trị xuất khẩu của thế giới; 50% tổng kim ngạch mậu dịch; 90% kim ngạch đầu tư trực tiếp; 70% chuyển giao công nghệ; 90% phát triển công nghệ cao; 90% mậu dịch của các nước đang phát triển; tiêu thụ tới 7000 tỷ đôla hàng hoá. Thực ra với các nước đang phát triển không phải không có lợi, có cơ hội tiếp thu công nghệ, nếu khéo lợi dụng thì phát triển nhanh song nếu không khéo thì bị bóc lột tài nguyên, bóc lột lao động, mua công nghệ với giá trị cao hơn nhiều lần giá thật. Hình thức bóc lột kiểu mới là bóc lột bằng công nghệ cao. Nếu không tranh thủ công nghệ của các nước phát triển thì khó có thể phát triển nên các nước đang phát triển buộc phải chấp nhận trả giá. Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác, trong việc chuyển giao công nghệ, làm ăn với các công ty xuyên quốc gia cần phải biết cách hội nhập, biết cách bảo vệ lợi ích của người sử dụng công nghệ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những nước đứng ngoài xu thế hội nhập thì đều bị cô lập hoặc phát triển rất chậm, khu vực Trung A của châu A là một ví dụ. Ngược lại những nước biết tận dụng hội nhập, tận dụng cơ hội làm ăn với các nước phát triển thì phát triển rất nhanh, dẫn chứng là các nước Ðông Nam A hay các nước Mỹ La Tinh trong thập kỷ 90 vừa qua. Hiện nay hầu hết các nước đang phát triển đều có chính sách phát triển công nghệ thông tin. Các nước châu Phi cũng đang nhanh chóng phát triển mạng lưới bưu chính viễn thông, mở ra triển vọng khai thác mạng Internet.
Công nghệ thông tin hiện đang phát triển với tốc độ rất nhanh:
Thị trường công nghệ thông tin trên thế giới đã vào khoảng gần 1000 tỷ đôla trong đó Mỹ chiếm 42%; EU - 29%; châu A và Thái Bình Dương - 21%. Khống chế toàn bộ ngành công nghiệp này vẫn là Mỹ. Lượng Internet lưu thông trên toàn cầu được thông qua tới 50% ở bang Virginia của Mỹ, nơi thường xuyên diễn ra những hội nghị thông tin toàn cầu. Các công ty xuyên quốc gia sừng sỏ về công nghệ thông tin tập trung tới 1/3 ở thung lũng Silicon và đại lộ 128 của Mỹ. Tóm lại Mỹ vẫn đứng đầu thế giới về công nghệ thông tin và Mỹ chuyển giao công nghệ sang châu Âu đi qua Ailen. Canada gần Mỹ nên cũng nhận được ảnh hưởng từ Mỹ. Nhật cũng phát triển rất nhanh song vẫn chưa so sánh được với Mỹ. Nhật đi trước ở một số công nghê phần cứng song xét tổng thể vẫn kém Mỹ. Mỹ chi cho công nghệ thông tin vào khoảng 3.6% GDP; khu vực châu A Ờ Thái Bình Dương chi cho CNTT - 2.35% GDP. Trên thế giới hiện nay đã có vào khoảng 250 triệu máy tính. Dự kiến đến năm 2002 sẽ có khoảng 500 triệu. Ngoài máy tính ra trong CNTT còn có một công nghệ rất quan trọng nữa là microprocessor (bộ vi xử lý) hiện có khoảng 6 tỷ đến 2003 sẽ lên 10 tỷ. Công nghệ này sẽ đi vào từng sản phẩm một, không chỉ những sản phẩm lớn như ôtô, mà cả những sản phẩm nhỏ nhất như những đồ dùng hàng ngày. Tự động hoá sẽ không chỉ đi vào sản xuất mà vào toàn bộ đời sống con người. Mạng Internet đang phát triển cực kỳ nhanh. Khái niệm Internet đã có từ năm 1961 sau này có thêm những công nghệ mới, khái niệm mới như hypertext (siêu văn bản), multimedia (đa phương tiện)... Khái niệm siêu xa lộ thông tin thì ra đời cách đây 4 năm và đến giữa năm 98 đã có khoảng 120 triệu người dùng(số liệu do Hội nghị thông tin toàn cầu cung cấp). Phát triển hết sức nhanh và giá thành giảm rất nhanh là hai đặc điểm của công nghệ thông tin mà các nước như nước ta phải đặc biệt lưu ý. Kỹ thuật vi điện tử cho phép sản phẩm biến đổi không ngừng, cái ra sau tốt hơn đồng thời rẻ hơn, dễ sử dụng hơn cái ra trước. Ðó là điều kiện để các nước đi sau đi thẳng vào cái mới nhất, tranh thủ công nghệ mới nhất. Việt Nam do biết tranh thủ đi tắt, đón đầu nên các chuyên gia thông tin của ta cũng đã làm được nhiều việc. Ví dụ, công nghệ dịch tự động, nhận dạng chữ viết....
Vấn đề rất lớn đối với chúng ta hiện nay là biết đi tắt, đón đầu ra sao để đạt hiệu quả cao nhất. Quan điểm đi tắt đã được khẳng định bởi chỉ có bằng cách đó chúng ta mới có thể trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Ờ như mục tiêu Ðại hội VIII đề ra. Ðến thời điểm đó thì rất có thể thế giới đã tiến xa lắm. Do vậy ở một số lĩnh vực có chọn lọc, mình còn phải biết vượt lên trước trên cơ sở thế mạnh của mình. Tranh thủ cái mới nhất để đi tắt nếu không sẽ hết sức chậm.
Một điểm cần đặc biệt lưu ý là bên cạnh xu hướng tin học hoá xã hội, những vấn đề toàn cầu hiện vẫn đặt ra rất gay gắt. Vấn đề thứ nhất là phân cực giầu nghèo rất rõ ràng. Một thế giới cực kỳ phát triển đối mặt với một thế giới bao gồm tới 80% dân số thế giới là những người nghèo và cực nghèo. Số người sống dưới 1 đôla ước tính còn tới 40% dân số thế giới. Vấn đề thứ hai là vấn đề suy thoái môi trường, một vấn đề toàn cầu. Ðây là hậu quả của cách mạng công nghiệp trước đây, hậu quả của cách làm ăn thiếu tính toán thấu đáo, toàn diện, chỉ chạy theo lợi nhuận, sản xuất kiểu ồ ạt, làm sao sản xuất được nhiều nhất, tiêu dùng nhiều nhất. đối với tư bản làm sao có lợi nhiều nhất. Vấn đề môi trường phức tạp, đòi hỏi chúng ta, đặc biệt là ngành khoa học - công nghệ phải hết sức chú ý. Vấn đề thứ ba là văn hoá. Cùng với sự phát triển về kỹ thuật trên thế giới, nhìn chung người ta cho rằng văn hoá có chiều hướng suy, tệ nạn nhiều hơn. Ðó là vấn đề chung của toàn cầu. Ðối với Việt Nam, nước XHCN thì vấn đề này lại càng có ý nghĩa quan trọng. Tính toán con đường đi lên đối với ta thì vấn đề độc lập tự chủ phải đặt lên hàng đầu. Chúng ta phải có cách đi riêng. Cách đi tắt là cách đi chưa hề có mô hình nào, chưa có tiền lệ trước đây. Bây giờ không phải là chỉ ngồi tính xem cần bao nhiêu kg thép hoặc công nghiệp nặng phải thế nào, mà phải tính cần công nghệ gì, phải làm gì để cho ra được nhiều sản phẩm, để tham gia cạnh tranh với thế giới. Mình phải có con đường riêng, không có tiền lệ. Bởi vậy phải có con người một là rất sáng tạo, thực sự có tri thức. Hai là con người phải có bản lĩnh, kiên định con đường đi, đủ sức khắc phục khó khăn. Tựu chung lại vấn đề là ở giáo dục, ở đào tạo nguồn nhân lực.