Karl Marx và Chủ nghĩa Cộng Sản 

Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

Chủ nghĩa Cộng Sản là một chính thuyết lỗi thời bị đào thải nhưng vì đã đem đến quá nhiều hậu quả khốc liệt - đặc biệt là đối với dân tộc Việt Nam - cho nên chúng ta không thể bỏ qua việc nghiên cứu chính thuyết này. Như triết gia John S. Mill quan niệm, nhân loại sẽ bị mất mát nhiều nếu một tư tưởng - bất kể là đúng hay sai - không được phổ biến. Sự hiểu biết minh bạch về chủ nghĩa Cộng Sản sẽ cung cấp cho nhân loại nhiều bài học quý giá. 

  Trước khi bàn về chủ nghĩa Cộng Sản, chúng ta cần biết sơ về tình hình chính trị và xã hội Âu Châu trong giai đoạn sơ khai của chính thuyết này. Tiến trình phát triển kỹ nghệ ở Tây phương trong thế kỷ 18 và 19 tạo ra một giai cấp mới - giai cấp công nhân - sống bám vào nhà máy do giai cấp doanh thương làm chủ. Ðời sống của công nhân ngày càng cùng cực bởi vì dân số ở Âu Châu gia tăng ở một mức độ kinh khủng đưa đến tình trạng nông dân đổ xô về thành phố xin việc làm. (Chỉ nội trong thế kỷ 19, dân số ở Âu Châu tăng gấp đôi.) Song song, khoa học phát minh ra máy móc thay thế con người lại giảm thiểu nhu cầu nhân dụng trong nhà máy. Lợi dụng tình trạng mới này, giai cấp kỷ nghệ gia ngày càng chèn ép công nhân. Giai cấp thợ thuyền phải làm từ 12 đến 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày; số lượng phụ nữ và trẻ em được thuê làm việc trong các nhà máy cũng gia tăng bởi vì đồng lương trả cho họ thấp hơn. Các yếu tố này khiến tình hình xã hội Tây phương ngày càng bi đát hơn. 

  Ðứng trước thực trạng này, một số chính quyền đưa ra các đạo luật để cải thiện đời sống nhân dân. Nhưng các chính sách cải cách không đạt được nhiều thành quả tốt đẹp bởi vì giới kỹ nghệ gia luôn luôn thành công trong việc lèo láy chính sách quốc gia theo hướng có lợi hoặc hướng ít có hại nhất cho họ. Ðể tự bảo vệ quyền lợi giai cấp, giới công nhân thành lập công đoàn nhằm có thể thương thuyết với giai cấp chủ nhân các phương tiện sản xuất. Lúc đầu nổ lực tổ chức công đoàn đã bị chính quyền ngăn cấm nhưng dần dần về sau các tổ chức công đoàn đã được hợp thức hóa. 

  Trước khi chủ nghĩa Cộng Sản ra đời, nhiều triết gia theo trường phái xã hội (socialism) đã đưa ra những chủ trương cải tạo xã hội để xóa bỏ các sản phẩm bất công của nền kinh tế kỹ nghệ hóa. (Cho đến hôm nay nhiều người vẫn còn hiểu lầm là chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới chủ trương cải tạo xã hội bất công có lẽ vì họ không biết gì trường phái xã hội thịnh hành song song với cộng sản chủ nghĩa ở tây phương cùng các kết quả cải tạo xã hội sâu xa do các chính quyền dân chủ phi-cộng-sản đạt được như chính sách phúc lợi [welfare] ở Tây phương hay chính sách bảo trợ sức khỏe miễn phí ở Canada với các tiêu chuẩn phục vụ tân tiến nhất nhì thế giới.) John Gray, William Thompson, v.v., ở Anh đã từng ta thán về việc công nhân tạo ra tài sản nhưng không được hưởng. Louis Blanc, Charles Fourier, v.v., ở Pháp suy luận rằng tư sản chính là nguồn gốc của sự bần cùng và mong muốn nhân loại với lòng thương người hợp tác với nhau - thay vì làm cách mạng - để giải quyết các bất công trong xã hội. Một nhóm khác theo trường phái Xã Hội Jêsus (Christian Socialism), điển hình như Charles Kingsley, Frederick Denison Maurice ở Anh và F. Robert de Lamennais ở Pháp, chống lại việc cạnh tranh kinh tế và phủ nhận quan niệm sự thành công có thể được đo lường bằng tài lực. Hầu hết các triết gia đều hiểu rằng kinh tế là một trong những động lực tối quan trọng ảnh hưởng việc xây dựng cơ chế chính trị và vai trò của chính quyền; nhưng có lẻ chỉ một mình Karl Marx và các đồ đệ theo trường phái Khoa Học Xã Hội (Scientific Socialism) của ông tin tưởng rằng động lực kinh tế là động lực duy nhất ảnh hưởng các tương quan của nhân loại. 

Karl Marx sinh vào tháng 5 năm 1818 ở Treves, Ðức quốc, trong một gia đình gốc Do Thái. Cha của Marx là một luật sư thành công; ông đã quyết định cho cả nhà theo Thiên Chúa giáo năm Marx lên 6 tuổi. Năm 1835, Marx theo học tại Ðại Học Bonn rồi chuyển sang Ðại Học Berlin. Chính tại Ðại Học Berlin, Marx đã hấp thụ được chính thuyết của Hegel với các nguyên lý cực đoan. Năm 1841, Marx tốt nghiệp tiến sĩ triết từ Ðại Học Jena. Marx dự định trở thành giáo sư nhưng không được nhận bởi vì tư tưởng hơi cấp tiến của ông; cuối cùng Marx phải hành nghề phóng viên cho tờ Rheinische Zeitung để kiếm sống qua ngày. Ông được đề bạt giữ vai trò chủ bút được một năm trước khi tờ báo bị chính quyền bắt đình bản (1843). 

  Năm 1842, Marx thành hôn với Jenny von Westphalen vốn sinh ra trong một gia đình quý tộc. Mặc dầu quen sống trong nhung lụa, Jenny von Westphalen đã tận tụy với chồng và luôn luôn ở cạnh bên chồng trong những giai đoạn cùng cực nhất. Sau khi tờ Rheinische Zeitung bị đình bản Marx qua Ba Lê để làm việc cho một tạp chí và nghiên cứu về kinh tế học. Tại đây Marx quen biết Engels, con của một kỹ nghệ gia người Ðức. Hai người trở thành bạn thân bởi vì cả hai đồng quan điểm về tình cảnh khổ sở của giai cấp công nhân. Engels không chỉ giúp Marx thâu lượm các tài liệu về thực trạng của công nhân mà còn giúp đỡ tài chánh cho Marx. 

  Năm 1845, Marx viết sách Mười Một Bài Luận về Feuerbach (Eleven Theses on Feuerbach) và hoàn tất tác phẩm Tư Tưởng Ðức (The German Ideology) cùng với Engels một năm sau đó. Một số tác phẩm không nổi tiếng khác của Marx là Sự Bần Cùng của Triết Học (Poverty of Philosophy) viết năm 1847, Xung Ðột Giai Cấp tại Pháp (The Class Struggles in France) viết năm 1850, và Ðóng Góp Phê Bình về Kinh Tế Chính Trị (A Contribution to the Critique of Political Economy) viết năm 1859. 

  Năm 1847, Marx và Engels viết bản Tuyên Ngôn Cộng Sản và, khi tình hình chính trị ở Pháp sôi động, Marx vội vã trở về Ðức để chuẩn bị thực hiện cách mạng. Marx nắm vai trò chủ bút của báo Neue Rheinische Zeitung để phổ biến tư tưởng cách mạng bạo động. Ông bị bắt và bị trục xuất khỏi Ðức sau khi được một bồi thẩm đoàn xét xử và tha bổng. Marx đến Anh năm 1849 và làm việc trong một thời gian ngắn cho tờ New York Tribute. Trong thời gian này, ông viết tác phẩm Tư Bản Luận và đồng thời cũng là thành viên của Ban Chỉ Ðạo (General Council) của Hội Công Nhân Quốc Tế (International Workingmen's Association). Marx qua đời vào tháng 3 năm 1883 sau khi hoàn thành tập I của Tư Bản Luận. Engels tiếp tục công việc của Marx và viết thêm tập II và III của Tư Bản Luận dựa trên các tài liệu Marx để lại. 
  
Duy Vật Biện Chứng Pháp và Nền Tảng Chủ Nghĩa Cộng Sản 

  Marx quan niệm rằng một chương trình cải cách xã hội phải hoàn toàn dựa trên các nguyên tắc khoa học giá trị nếu muốn thành công; vì vậy cho nên ông gán cho trường phái cộng sản của ông cái tên chủ nghĩa Khoa Học Xã Hội  (Scientific Socialism). Như đã bàn ở trên, Marx từng hấp thụ tư tưởng và phương pháp biện chứng duy tâm của Hegel lúc theo học tại Ðại Học Berlin. Cũng như Hegel, Marx đưa ra một triết lý về lịch sử; nhưng thay vì chấp nhận biện chứng pháp thiên về thần học của Hegel, ông theo bước của triết gia Ludwig Feuerbach đưa ra phương pháp phân tích duy vật biện chứng (dialectical materialism hay Duy Vật Biện Chứng Pháp).   Trong khi Hegel quan niệm là sự tiến hóa của nhân loại tùy thuộc vào sự xung đột giữa luận đề và phản luận đề (biểu hiện các tư tưởng giá trị cũng như vô giá trị), Marx suy luận rằng quá trình tiến hóa của loài người phản ảnh thành quả của sự xung đột giữa các thế lực kình chống nhau. Theo Hegel, chỉ có tư tưởng xung đột (luận đề và phản luận đề) để đưa đến hợp đề (synthesis) bao gồm các tư tưởng có giá trị và loại bỏ các tư tưởng vô giá trị; và trong khi tư tưởng xung đột, những mãnh lực hay dữ kiện vật chất chỉ là các phản xạ của sự xung đột. Marx suy nghĩ ngược lại và cho là các mãnh lực vật chất mới thực sự xung đột; tư tưởng chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh vật chất. Ông tin rằng chỉ có duy vật biện chứng pháp mới giúp cho nhân loại tìm hiểu lịch sử và xã hội một cách khoa học bởi vì duy vật biện chứng pháp dựa trên sự kiện vật chất hiện hữu thay vì các tư tưởng siêu hình (tức là biện chứng pháp thiên về thần học của Hegel hay Duy Tâm Biện Chứng Pháp). 

  Theo Marx, mãnh lực sản xuất là động lực chính ảnh hưởng tất cả sự việc trong xã hội. Mãnh lực sản xuất bao gồm nguyên liệu và cách thức sản xuất. Chính mãnh lực sản xuất đưa đến các quan hệ sản xuất hay quan hệ xã hội; và tổ chức xã hội giai cấp là một trong những hình thái của quan hệ sản xuất. Các quan hệ sản xuất hay xã hội được thẩm định bởi sở hữu tài sản cũng như yếu tố điều khiển và phục tùng. Vì vậy, nhân loại bị chia ra thành hai giai cấp: thiểu số làm chủ phương tiện sản xuất và đa số vô sản, hay thiểu số khống chế và đa số nô lệ điều hành phương tiện sản xuất (máy móc). 

  Ở bất cứ thời điểm nào, cấu trúc của xã hội hoàn toàn tùy thuộc vào sự kiểm soát của mãnh lực sản xuất. Nếu mãnh lực sản xuất thay đổi, cấu trúc xã hội phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới; nếu cấu trúc của xã hội không thay đổi, quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội sẽ trở nên căng thẳng. Nền tảng kinh tế của xã hội là sự kết hợp giữa mãnh lực sản xuất và quan hệ sản xuất. Trên nền tảng kinh tế của xã hội, một thượng tầng kiến trúc (superstructure) được xây dựng bao gồm các phần tử phi vật chất như luật pháp, triết lý, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, chính thuyết, cơ chế chính quyền, và các yếu tố văn hóa xã hội. 

  Thượng tầng kiến trúc giữ hai vai trò quan trọng: (1) hổ trợ cho vai trò cầm quyền của giai cấp điều khiển xã hội (luật pháp, đạo đức, tôn giáo và các phần tử phi vật chất khác góp phần nâng cao vai trò cầm quyền chính đáng và cần thiết của giai cấp chủ nhân); (2) trở thành công cụ cho giai cấp cầm quyền dùng để bảo vệ ngôi vị độc tôn và điều khiển giai cấp bị trị (cơ cấu chính quyền, luật pháp và các yếu tố phi vật chất được phát minh ra nhằm bảo vệ tài sản cũng như quyền hành của giai cấp thống trị). Nếu nền tảng kinh tế thay đổi, một giai cấp mới sẽ lên cầm quyền. Các phần tử phi vật chất của thượng tầng kiến trúc cũng thay đổi để có thể phụng sự hữu hiệu cho giai cấp cầm quyền mới. 

  Dựa trên hình thức tổ chức xã hội này (thượng tầng kiến trúc phi vật chất được xây dựng trên nền tảng kinh tế bao gồm mãnh lực sản xuất và quan hệ sản xuất), Marx quan niệm rằng nhân loại không thể chỉ sửa đổi các phần tử phi vật chất như luật pháp, cấu trúc chính quyền, v.v., nếu muốn thực sự cải tạo xã hội một cách hữu hiệu và thành công. Theo ông, nhân loại phải làm cách mạng để thay đổi nền tảng kinh tế của xã hội. Chỉ khi nào nền tảng kinh tế được thay đổi, xã hội mới thực sự thay đổi. 

  Marx suy luận rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh mà hoàn cảnh lại chịu ảnh hưởng của giai cấp cầm quyền. Y¨ thức của con người hoàn toàn tùy thuộc vào hoàn cảnh cho nên con người không có khả năng suy nghĩ đến những quan niệm nằm ngoài khuôn khổ của xã hội hiện hữu; vì vậy cho nên con người cần phải được cải tạo và hướng dẫn đi theo chủ nghĩa Cộng Sản. (Dĩ nhiên là Marx đặt ông và một vài triết gia khác ngoài cái vòng lẩn quẩn của nhân loại - đây là những nhân vật có khả năng suy luận vượt ra ngoài khuôn khổ xã hội hiện hữu.) 

  Một trong những nguyên lý quan trọng nhất của chủ nghĩa Cộng Sản là nguyên lý đấu tranh giai cấp. Theo Marx, cuộc đấu tranh giữa thiểu số cầm quyền và đa số bị trị là phương pháp duy nhất để duy vật biện chứng tiến hóa. ễ một thời điểm nào đó trong quá khứ, tổ chức xã hội hoàn toàn tùy thuộc vào mãnh lực sản xuất. Tuy nhiên, một khi phương pháp sản xuất thay đổi thì mãnh lực sản xuất phải thay đổi cho nên xã hội mất thế quân bình và phải thay đổi theo. Giai cấp chủ nhân cơ xưởng đã áp dụng các phương pháp sản xuất mới để đạt được lợi lộc tối đa nhưng không biết là làm như vậy, họ biến hóa nền tảng kinh tế và tổ chức xã hội. Muốn tái lập thế quân bình, quan hệ sản xuất hay tổ chức xã hội phải thay đổi theo mãnh lực sản xuất mới; dĩ nhiên là giai cấp cầm quyền không bao giờ chấp nhận cập nhật hóa quan hệ sản xuất. Vì quyền lợi riêng tư, giai cấp thống trị luôn luôn muốn giữ lại định trạng (status quo) của quá khứ cho nên quan hệ giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị trở nên vô cùng căng thẳng. Sự căng thẳng sẽ tăng dần đến một cực điểm khiến cách mạng xã hội phải bùng nổ để tái lập thế quân bình trong quốc gia: tổ chức xã hội giai cấp cũng như thượng tầng kiến trúc hoàn toàn thích hợp với mãnh lực sản xuất mới. 

  Không nổ lực nào có thể ngăn cản được trào lưu tất thắng của duy vật biện chứng pháp. Bánh xe duy vật biện chứng sẽ đưa đến cách mạng xã hội nhằm giúp cho nhân loại tiến bộ; tương lai luôn luôn tốt đẹp hơn hiện tại cũng như hiện tại luôn luôn tốt đẹp hơn quá khứ (!). Theo Marx, nhân loại không bao giờ có thể gia tăng tốc độ của bánh xe duy vật biện chứng bởi vì nếu mãnh lực sản xuất chưa phát triển đúng mức độ, một tổ chức xã hội với thượng tầng kiến trúc phi vật chất tiến bộ hơn không thể tồn tại. Một quan hệ sản xuất ở mức độ cao hơn không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện vật chất cần thiết đã được hình thành. (.. higher relations of production never appear before the material conditions of their existence have matured in the womb of the old society). Tổ chức xã hội tư bản chỉ có thể được thành lập sau khi xã hội phong kiến đã đi vào giai đoạn kỹ nghệ hóa; và tổ chức xã hội cộng sản chỉ có thể hình thành vào giai đoạn chót của chủ nghĩa tư bản; một quốc gia phong kiến không bao giờ có thể tiến lên cộng sản chủ nghĩa nếu không trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.   Khi phê bình xã hội tư bản (hay nền kinh tế tự do, kinh tế thị trường), Marx đưa ra một số quy tắc về kinh tế để chứng minh sự sụp đổ tất nhiên của nền kinh tế tư bản. Theo ông, trị giá của một món đồ chỉ bằng trị giá của tổng số nhân lực hữu dụng xã hội (socially useful labor) cần thiết để sản xuất ra món đồ đó. Marx chọn đơn vị nhân lực làm tiêu chuẩn để định giá hàng hóa bởi vì, theo ông, tất cả hàng hóa đều cần đến nhân lực sản xuất, và nhân lực sản xuất là động cơ sản xuất duy nhất thực sự tạo ra giá trị. Ông cũng quan niệm rằng tất cả đơn vị nhân lực đều có giá trị đồng đều như nhau bất kể đến giá trị của học thức hay khả năng chuyên môn hay những yếu tố đặc biệt khác. 

  Marx sử dụng thuyết giá trị thặng dư (surplus value) do một số triết gia như Ricardo, Proudhon đưa ra để trình bày lý do tại sao công nhân chỉ được trả đồng lương vừa đủ sống. Giá trị thặng dư là lợi tức của thành phần chủ nhân và tương đương với sự khác biệt giữa trị giá sản phẩm và đồng lương của công nhân làm nên sản phẩm. Theo ông, sự kiện công nhân chỉ được trả đồng lương vừa đủ sống phản ảnh đặc tính căn bản của nền kinh tế tư bản chứ không phải vì tình trạng gia tăng dân số nâng cao mức cung (số lượng công nhân kiếm việc) trên thị trường nhân lực.   Hệ thống tư bản cũng như các hệ thống khác đều có mầm mống tự diệt từ bên trong cho nên không có nổ lực cải cách nào có thể cứu vãn được hệ thống tư bản. Chính các tác động của hệ thống tư bản tự tiêu diệt nền móng của nó, và một hệ thống mới tốt đẹp hơn sẽ được xây dựng trên đóng gạch vụng tư bản chủ nghĩa - hệ thống vô sản hay cộng sản. 

  Marx quan niệm rằng giới chủ nhân và thợ thuyền đều là nạn nhân của chủ nghĩa tư bản. Nhân lực chỉ là một nguyên liệu sản xuất cho nên thợ thuyền phải bán sức lao động để kiếm sống với bất cứ giá nào; trong khi đó, chủ nhân dùng mọi cách để gia tăng lợi tức bởi vì phải cạnh tranh trên thương trường. Nền kinh tế tư bản có xu hướng tập trung quyền hành kiểm soát vào trong tay của một thiểu số đại tư bản cũng như giảm bớt cơ sở sản xuất và bành trướng sản lượng của các cơ sở còn lại. Với sự tiến bộ của kỷ thuật sản xuất, thành phần chủ nhân phải cần đến nhiều tư bản hơn để có thể sử dụng hữu hiệu các kỹ thuật sản xuất mới; nhu cầu tài chánh này dần dần đưa đến sự tập trung tư bản và sự co cụm của giai cấp chủ nhân. Vì vậy, thành phần chủ nhân ngày càng giảm thiểu và thành phần thợ thuyền ngày càng gia tăng. 

  Trong giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, lợi tức của thành phần chủ nhân tuột dốc. Tổng lượng tư bản trong xã hội gia tăng đều nhưng giá trị của tư bản sẽ giảm đi bởi vì cơ hội đầu tư giảm hẳn đi. Bởi vì cơ hội đầu tư tuột dốc, thành phần chủ nhân cạnh tranh mạnh mẽ hơn để giành giựt các mối đầu tư có lợi; sự cạnh tranh này chỉ khiến lợi tức tuột dốc lẹ hơn. Giai cấp cầm quyền sẽ cố gắng bảo vệ chế độ tư bản bằng một số biện pháp như bắt buộc công nhân làm nhiều giờ hơn và sử dụng nhiều máy móc để thay thế công nhân. Các biện pháp này lại gia tăng tệ nạn thất nghiệp. Công nhân mất việc sẽ không có lương để mua hàng hóa cho nên mức cầu của hàng hóa cũng vì thế mà bị giảm thiểu. Một cách khác để giữ vững cơ chế tư bản là tìm kiếm thị trường mới và khai thác các cơ hội đầu tư có lợi ở những quốc gia kém phát triển. Cố gắng này cũng chỉ là phương pháp giải quyết ngắn hạn nhưng lại có phản ứng ngược lại và nguy hại cho chế độ tư bản: giai cấp công nhân có cơ hội bành trướng toàn thế giới và giúp cho việc đấu tranh giai cấp lan tràn khắp các quốc gia. 

  Như đã bàn ở phần trên, trong suốt tiến trình tự diệt của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân ngày càng gia tăng. Sự tập trung quyền hành quản trị kinh tế và cơ sở sản xuất của chủ nghĩa tư bản bắt buộc con người phải sinh sống chung quanh những trung tâm kỹ nghệ. Tệ nạn thất nghiệp, đồng lương chết đói và điều kiện làm việc tồi tệ khiến đời sống của công nhân ngày càng thê thảm hơn; nhưng các yếu tố này lại giúp cho thành phần công nhân có ý thức giai cấp cao hơn. Trong giai đoạn tư bản, giới công nhân tìm tòi học hỏi cách điều khiển máy móc cũng như nghiên cứu hệ thống phân phối hàng hóa để chuẩn bị cho ngày lên cầm quyền. Mãnh lực sản xuất dần dần được xã hội hóa nhưng tổ chức xã hội vẫn còn cơ chế tư bản; thời điểm sẽ đến để cách mạng cộng sản bùng nổ hầu thay đổi tổ chức xã hội nhằm thích hợp với mãnh lực sản xuất mới. 

  Cách mạng cộng sản là cuộc cách mạng của giai cấp công nhân. Cuộc cách mạng này khác với những cuộc cách mạng khác trong lịch sử nhân loại bởi vì xã hội tư bản chỉ còn lại hai giai cấp: thiểu số chủ nhân và đa số công nhân - sản phẩm của hệ thống kinh tế tư bản. Cách mạng cộng sản là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử của loài người mà đa số nhân dân lật đổ thiểu số cầm quyền để giành quy̓làm chủ cũng như điều hành guồng máy sản xuất; công nhân không thể tự bóc lột công nhân. 

  Trong xã hội cộng sản phi giai cấp, mọi người đều bình đẳng như nhau; tuy vậy, những công nhân có khả năng hơn vẫn được trọng vọng trong cơ chế quản trị xã hội vô sản. Xã hội vô sản không còn tình trạng sở hữu tư sản, và con người cũng không còn ý niệm tư hữu bởi vì họ có thể hưởng thụ theo nhu cầu mà chỉ cần làm việc theo khả năng cá nhân. Xã hội cộng sản không còn tình trạng phân chia giai cấp hay tệ nạn bóc lột lẫn nhau cho nên con người hết quan tâm về nhân quyền hay chính sự; con người thực sự được tự do hoàn toàn trong thế giới cộng sản. 

  Xã hội cộng sản là một xã hội được kỷ nghệ hóa hiện đại, và những kỷ thuật sản xuất hiện đại được sử dụng nhằm mục đích ích lợi cho con người. Nền kinh tế cộng sản đặt căn bản trên sự hợp tác thay vì cạnh tranh cho nên không lưu tâm về vấn đề lợi tức (giá trị thặng dư). Nền kinh tế cộng sản cũng biết phân chia sản phẩm đồng đều cho nên sẽ không phải đương đầu với các khó khăn của nền kinh tế tư bản như lạm phát, hàng hóa ứ đọng, v.v. Xã hội cộng sản cũng tiếp tục phát minh ra các kỷ thuật sản xuất mới để gia tăng công xuất hầu giúp cho công nhân có thể giảm bớt thời gian làm việc. Trong những khoản thời gian không phải lao động, công nhân có thể theo đuổi các mục tiêu văn hóa. Qua các sinh hoạt văn hóa, nhân loại sẽ trở nên hoàn mỹ. Trong xã hội cộng sản được xây dựng ở thế giới hiện hữu, thay vì thế giới siêu hình (thiên đàng), con người có thể đạt được đời sống thực sự văn minh. 
  
Kết Luận 

  Chủ nghĩa Cộng Sản của Marx có nhiều hấp lực lôi kéo mọi thành phần trong xã hội. Ngoại trừ thiên đàng cộng sản ra, tổ chức xã hội nào có thể cho con người quyền làm chủ nhân dể dàng, bãi bỏ giai cấp bóc lột, giúp cho con người lao động theo khả năng cá nhân nhưng lại được hưởng thụ theo nhu cầu riêng tư? Chủ nghĩa Cộng Sản đưa thành phần lao động vào những cơn mộng huyền hoặc về một thế giới vô sản thần tiên; song song, chủ nghĩa Cộng Sản cũng cung cấp cho giới lao động cách biện hộ cho tình trạng cơ cực của họ: sự nghèo khổ của công nhân bắt ngu˧n sinh hoạt dân chủ hơn tất cả các chính quyền khác kể cả chính quyền dân chủ tiểu tư sản (trung lưu) bởi vì chính quyền vô sản được đa số nhân dân lãnh đạo với mục đích xóa bỏ vĩnh viễn sự đàn áp chứ không phải để bảo vệ bạo quyền vô sản vừa được thành lập sau cách mạng cộng sản. 

  Trong giai đoạn chuẩn bị các điều kiện tiến lên xã hội cộng sản (ngay sau khi cách mạng cộng sản thành công), giai cấp công nhân sẽ áp dụng một số biện pháp cần thiết để thủ tiêu mọi dấu vết của chế độ tư bản. Trong Tuyên Ngôn Cộng Sản, Marx và Engels đưa ra 10 biện pháp cần được thi hành. Một số biện pháp này phản ảnh tư tưởng cộng sản của Marx (chính quyền độc tài) nhưng một số đề nghị khác được Marx chép lại từ ý tưởng của các triết gia khác (xóa bỏ tệ nạn thiếu niên lao động, giáo dục miễn phí, v.v.). Mười biện pháp được đưa ra trong Tuyên Ngôn Cộng Sản bao gồm: 

1) Xóa bỏ sở hữu ruộng đất, và tiền thuê mướn đất phải được dùng cho các mục tiêu công cộng; 
2) Luật thuế vụ lũy tiến nên được ban hành; 
3) Xóa bỏ quyền thừa kế di sản; 
4) Tịch thu tài sản của thành phần di dân và thành phần chống đối; 
5) Chính quyền phải tập trung kiểm soát và độc quyền trong lãnh vực cho vay; 
6) Chính quyền phải tập trung kiểm soát lãnh vực truyền thông và vận tải; 
7) Chính quyền phải bành trướng quyền hành kiểm soát trong lãnh vực sản xuất cũng như phát triển nông nghiệp; 
8) Mọi người phải lao động cũng như tham gia các đội quân kỹ nghệ được sử dụng đặc biệt trong lãnh vực nông nghiệp; 
9) Kỹ nghệ sản xuất và nông nghiệp nên được hợp nhất trong nổ lực tái phân chia nơi cư trú của nhân dân với mục đích giải thể sự ngăn cách giữa nông thôn và thành thị; và 
10) Chính quyền nên xóa bỏ tệ nạn thiếu niên lao động và thành lập hệ thống giáo dục miễn phí. 

  Trong giai đoạn chuẩn bị tiến lên cộng sản chủ nghĩa, xã hội vẫn còn đầy những tàn dư của chế độ tư bản cho nên sự tưởng thưởng cho nổ lực lao động của mọi người không thể đồng đều như nhau. Trong giai đoạn này, con người vẫn còn xem lao động là cách để kiếm sống thay vì quan niệm rằng lao động là nguồn tiêu khiển. Con người vẫn còn bị các ý niệm tư bản phản động ảnh hưởng trong giai đoạn chuyển tiếp. Chế độ tư bản xấu xa bắt buộc công nhân trở thành các tay nghề làm một việc duy nhất từ ngày này qua tháng nọ khiến con người trở thành những cái máy không biết suy nghĩ và không hãnh diện về công việc của mình. Con người không thích việc làm của mình bởi vì cả đời của họ chỉ được làm có một việc trong nhà máy.   Trong giai đoạn chuyển tiếp, chính quyền vô sản phải bãi bỏ tệ nạn phân chia công việc của chế độ tư bản. Công nhân phải được làm nhiều công việc để có thể hãnh diện về sản phẩm do chính mình làm nên. Một khi công nhân xem lao động là nguồn tiêu khiển, họ sẽ muốn làm việc thay vì phải làm việc để kiếm sống; sự tưởng thưởng cho nổ lực lao động của mọi người sẽ trở nên đồng đều vì ai cũng hăng hái làm việc mà không cần đến sự tưởng thưởng khuyến khích riêng tư. Trong giai đoạn tột đỉnh của cộng sản chủ nghĩa, mỗi người sẽ lao động theo khả năng cá nhân nhưng được hưởng theo nhu cầu cá nhân.   Theo duy vật biện chứng pháp, nhân loại di chuyển dần dần về hướng chủ nghĩa Cộng Sản. Xã hội cộng sản là một xã hội phi giai cấp; giai cấp duy nhất là giai cấp công nhân, và mọi người đều là công nhân cho nên xã hội cộng sản không còn phân chia giai cấp như xã hội tư bản. Trong giai đoạn tột đỉnh của chủ nghĩa Cộng Sản, nhân loại bao gồm toàn công nhân cho nên biên giới quốc gia trở nên vô ý nghĩa. Con người lúc đó thực sự sống trong một xã hội hoàn mỹ không có sự bóc lột lẫn nhau. Bạo lực cách mạng được chính quyền vô sản chuyên chế sử dụng để đàn áp thiểu số tư sản sẽ không còn cần thiết nữa một khi giai cấp tư sản đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Xã hội tư bản là một xã hội bóc lột con người; trong khi đó, xã hội cộng sản không còn vấn đề giai cấp bóc lột giai cấp bởi vì bản chất phi giai cấp của nó. Ngay cả trong giai đoạn chuyển tiếp từ tư bản lên cộng sản, cơ chế xã hội sau cách mạng cộng sản cũng không đặt căn bản trên sự bóc lột bởi vì đại đa số công nhân 891;n từ bản chất chế độ tư bản xấu xa chứ không đến từ khả năng kém cõi của bản thân. 

  Chủ nghĩa Cộng Sản không khác gì một tôn giáo mặc dầu Marx đã kích tôn giáo là thuốc phiện đầu độc dân nghèo. Giai cấp tư bản đã sử dụng tôn giáo để hứa hẹn về một thiên đàng tốt đẹp ở thế giới bên kia nhằm có thể bắt buộc giai cấp bị trị chấp nhận thực trạng cơ cực hiện tại. Thế giới vô hình là thiên đàng của tư bản chủ nghĩa; ngược lại, xã hội vô sản hoàn mỹ là thiên đàng của cộng sản chủ nghĩa. Thiên đàng cộng sản cũng chứa đựng nhiều mơ mộng thiếu thực tế như nhân loại hăng say lao động và tự nguyện làm theo khả năng, ăn theo nhu cầu. Giáo điều cộng sản còn có vẻ văn minh hơn kinh sách tôn giáo bởi vì thiên đàng cộng sản có thể được xây dựng ở thế giới này thay vì ở một thế giới siêu hình nào đó; đây cũng là một khía cạnh mang màu sắc thực tế vật chất (khoa học) của chủ nghĩa vô sản.   Chính thuyết Cộng Sản thu hút được một số trí thức bởi vì học thuyết của Marx có tinh thần khoa học(!) Marx đã đưa ra các thống kê về tệ nạn xã hội cũng như dữ kiện lịch sử - mặc dầu ông sử dụng các tài liệu này một cách cẩu thả - để biện minh cho tư tưởng của ông. Lịch sử của nhân loại không chứa đựng toàn các dữ kiện đấu tranh giai cấp như Marx đã ngụy biện. Những yếu tố khác như quyền lợi chính trị, tôn giáo, khác vọng tự do, v.v., đã đưa đến các cuộc xung đột trong lịch sử loài người; và sự tranh chấp giữa các giai cấp trong xã hội ít khi dẫn đến chiến tranh.   Như đã bàn ở phần đầu, chủ nghĩa Cộng Sản được hình thành trong giai đoạn mà nền kinh tế tự do vô giới hạn đang hoành hành xã hội. Chế độ dân chủ không thể giải quyết được các khó khăn của xã hội kỹ nghệ hóa nếu không chịu cải tạo chính sách kinh tế. Quyền tự do chính trị trở nên vô nghĩa đối với giai cấp bần cùng trong xã hội. Khi bị thất nghiệp dài dài và không lo nổi miếng cho bản thân và gia đình, đại đa số nhân dân sẽ xem quyền tự do chính trị như là bánh vẽ; chỉ một thiểu số cá nhân nhận thức được là quyền tự do chính trị có thể được sử dụng như một phương tiện để cải tổ chính quyền và đời sống cơ cực của họ. Thực tế cho thấy phương pháp giải quyết thích hợp nhất là giải pháp cải tạo kinh tế (phân phối lợi tức kinh tế một cách công bằng qua chính sách thuế má hợp lý, chính sách nâng cao lương hướng và tài trợ thất nghiệp, v.v.) song song với việc cải tạo chính trị chứ không phải là giải pháp cách mạng cộng sản. 

  Chủ nghĩa Cộng Sản do Marx đưa ra trong thế kỷ 19 đã mất chỗ đứng vào cuối thế kỷ 20 bởi vì nó không đáp ứng được nhu cầu thiết thực của nhân loại trên phương diện thực tế và bởi vì nó chứa đựng quá nhiều mâu thuẫn trên phương diện lý thuyết. Hệ thống kinh tế cộng sản làm phá sản nền kinh tế quốc gia cũng như làm băng hoại khả năng sáng tạo của con người; thảm trạng kinh tế trì trệ ở các quốc gia cộng sản là những bài học thực tế cho nhân loại. 

  Về phương diện lý thuyết, Marx suy luận là luật pháp - một phần tử phi vật chất của thượng tầng kiến trúc tư bản - không bao giờ có thể được sử dụng hữu hiệu để cải tạo đời sống của giai cấp công nhân bởi vì luật pháp tiểu tư sản chỉ là công cụ của thiểu số thống trị dùng để bóc lột đa số bị trị. Thực tế đã chứng minh là tư tưởng của Marx sai bởi vì luật pháp đã được tu bổ để đem lại đời sống tốt đẹp hơn cho giai cấp công nhân. Luật pháp quy định về giờ làm việc, lương hướng, tài trợ thất nghiệp, tai nạn lao động, v.v., đã được thi hành và cải thiện hoàn toàn thực trạng của công nhân. 

  Sự hiện diện và ảnh hưởng bao trùm của các công đoàn lao động cũng đóng góp không ít vào việc cải tạo xã hội. Marx không tin là công đoàn có khả năng canh tân xã hội tư bản; nhưng thực tế cho thấy là các công đoàn lao động không những chỉ ảnh hưởng chính sách kinh tế mà còn có thế lực mạnh trên chính trường.  ễ một số quốc gia dân chủ như Anh, Pháp, Gia Nã Ðại, các đảng chính trị dựa trên sức mạnh công đoàn đã từng nắm chính quyền và tu chỉnh chính sách quốc gia nhằm gia tăng quyền lợi của đại đa số nhân dân. 

  Marx đã tiên đoán sai khi ông cho là chủ nghĩa tư bản đang trên đà khai tử. Chủ nghĩa tư bản không tự diệt mà còn bành trướng mạnh với các hình thức phát triển đặc biệt như nổ lực tập trung tư bản bằng cách bán chứng khoán khiến thành phần chủ nhân gia tăng - chứ không giảm thiểu như Marx đã dự đoán. Giai cấp công nhân vô sản cũng không tăng đều như Marx tưởng tượng bởi vì sự bộc phát mạnh mẽ của thành phần trung lưu với một lực lượng chuyên viên được trọng vọng và có thế lực chính trị trong xã hội. Con cháu của giai cấp công nhân đã trở thành chuyên viên trung lưu (tiểu tư sản) tương đối dễ dàng bằng cách theo học các chương trình huấn luyện do chính phủ đài thọ hay được tài trợ bởi các chương trình học bổng tư nhân; họ không bị bắt buộc phải nối bước cha ông gia nhập hàng ngũ công nhân. 

  Marx quan niệm rằng con người ở thế giới cộng sản sẽ chung sống hòa bình và ranh giới quốc gia trở nên vô giá trị. Thực tế cho thấy yếu tố màu da đã ngăn cách con người và là một cản trở vĩ đại cho các nổ lực nhằm kiến tạo thế giới đại đồng. Tệ nạn kỳ thị chủng tộc không đến từ hệ thống tư bản mà đến từ sự kém hiểu biết và thiếu thông cảm giữa những người khác chủng tộc. Marx chắc chắn là sẽ ngạc nhiên khi ông biết được rằng các đồ đệ cộng sản lỗi lạc của ông như Lenin, Stalin, v.v., là những kẻ có đầu óc kỳ thị chủng tộc không khác gì các lãnh tụ tư bản nổi tiếng như Churchill, de Gaulle. 

  Một mâu thuẫn rõ rệt nhất của chủ nghĩa Cộng Sản là sự mâu thuẫn giữa nguyên lý nhân loại không thể gia tăng tốc độ của bánh xe duy vật biện chứng và thực trạng của trào lưu cộng sản thế giới trong thế kỷ 20. ễ những quốc gia mà phong trào cộng sản chiếm đoạt được chính quyền như Nga, Trung Hoa, v.v., hệ thống kinh tế chưa từng được kỷ nghệ hóa. Các nước này thực sự vẫn còn là những quốc gia phong kiến khi ngọn lửa cách mạng cộng sản hủy diệt chính quyền đương thời. Duy vật biện chứng pháp của Marx bắt buộc một quốc gia phong kiến phải trải qua giai đoạn tư bản rồi mới đến giai đoạn cộng sản; nhưng thực tế cho thấy các chế độ cộng sản chỉ được thành lập ở những quốc gia phong kiến lạc hậu. Mâu thuẫn này đã khiến các môn đệ của Marx như Lenin và nhóm Bolsheviks phải tìm cách ngụy biện cho chiêu bài cách mạng nhảy vọt của họ. 

Các đồ đệ chủ trương cách mạng bạo lực của Marx lý luận là cách mạng tư bản trong một nước phong kiến có thể được giai cấp vô sản lợi dụng để chiếm đoạt chính quyền và kiểm soát mãnh lực sản xuất nếu đa số vô sản không tin là thành phần tư bản có đủ khả năng hoàn tất cuộc cách mạng tư bản (kỷ nghệ hóa quốc gia phong kiến). Lối lý luận cho là giai cấp công nhân có thể quản trị quốc gia trong giai đoạn ban đầu của thời kỳ tư bản là một lý luận đi ngược lại với các giáo điều Cộng Sản và duy vật biện chứng pháp của Marx; nhưng đối với Lenin và nhóm Bolsheviks, họ chỉ cần biết là lối ngụy biện này có thể biện minh cho cuộc tranh đấu của họ. Người viết xin chấm dứt phần phê bình chủ nghĩa Cộng Sản bằng câu cuối của đoạn mở đầu chương này: Sự hiểu biết minh bạch về chủ nghĩa Cộng Sản sẽ cung cấp cho nhân loại nhiều bài học quý giá. 

. . . . . . . . . .         Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 259-275