Mặc Tử với Quan Niệm Bác Ái
(Trích từ Diển Đàn Dân Chủ
- Trích từ Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của
Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1996. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn
chứng.)
Mặc Tử cảm thấy Khổng giáo không thể an định quốc gia bởi vì lễ nghi phiền phức trói buộc con người vào vòng nghèo đói và tệ nạn 'giả nhân giả nghĩa'. Ông phê bình Nho học như sau:
'Ðạo Nho có bốn điều đủ làm mất thiên hạ: Nho sinh cho trời không minh, cho quỷ không thiên, trời quỷ không bằng lòng, cái đó đủ mất thiên hạ. Lại chôn cất hậu, để trở lâu, làm ra quan quách thật nặng, chế ra áo khâm thật nhiều, đưa ma như thể dọn nhà, ba năm khóc lóc, phải nâng mới dậy, phải gậy mới đi, tai không nghe gì, mắt không thấy gì, cái đó đủ mất thiên hạ. Lại đàn hát, trống múa, tập làm âm nhạc, cái đó đủ mất thiên hạ. Lại cho số mạng là có, nghèo giàu, thọ yểu, trị loạn, yên nguy, đều có khuôn sẵn, không thể thêm bớt, người trên làm theo ý ấy, ắt không nghe đến chính trị, người dưới làm theo ý ấy, ắt không thiết gì làm việc, cái đó đủ mất thiên hạ.'
Mặc Tử lại phê phán Lão giáo là sách lược bất động không đem đến thực lợi cho nhân dân. Ông quan niệm rằng 'trời yêu cả thiên hạ, làm lợi cho vạn vật, tỉ mỉ như cái múp sợi lông' khác với chủ trương của Lão, Trang là 'thiên địa bất nhân (không thương thiên hạ).' Ông suy luận rằng việc quốc trị không thể không làm (vô vi) như Lão hay Trang chủ trương, và khi làm thì phải chú trọng vào phương tiện để đạt cho được cứu cánh chứ không chỉ bám vào cứu cánh mà quên đi phương tiện như Khổng hay Mạnh. Chương Canh Trụ có ghi lại câu chuyện sau:
'Diệp Công hỏi Trọng Ni về việc chính trị mà rằng: 'Kẻ khéo làm việc chính trị thì làm thế nào?'
Trọng Ni thưa rằng: 'Kẻ khéo làm việc chính trị thì phải làm cho người xa gần lại, việc cũ mới ra.'
Tử Mặc Tử nghe vậy nói rằng: 'Diệp Công chưa biết hỏi, Trọng Ni cũng chưa biết đáp. Diệp Công không lẽ không biết rằng kẻ khéo làm việc chính trị thì phải làm cho người xa gần lại, việc cũ mới ra? Hắn (thực ra) chỉ hỏi cái cách phải làm thế nào mà thôi.'
Trong khi Khổng Mạnh và Lão Trang chỉ bàn về lý tưởng chính trị thì Mặc Tử nhấn mạnh đến pháp thuật chính trị cần thiết để an bang tế thế. Ðối với ông, phương tiện cũng không kém cứu cánh; nếu chỉ bàn mông lung về lý tưởng mà không có chương trình hành động cụ thể thì cũng khó đạt được lý tưởng.
'Mặc Tử hỏi một nhà Nho: ''Sao lại làm nhạc?'' Người ấy đáp: ''Nhạc để làm nhạc.''
Mặc Tử bảo: ''Ông chưa trả lời đúng câu hỏi của tôi. Nay tôi lại xin hỏi rằng ''Sao lại làm buồng?'' Ông sẽ đáp là ''Mùa đông làm buồng để tránh rét, mùa hạ tránh nắng, làm buồng để phân biệt trai, gái.'' Như thế là ông đã trả lời câu hỏi của tôi rồi.'
Ngoài việc tìm kiếm cách thức để đạt được mục đích (cách nào?), Mặc Tử còn muốn biết nguyên nhân của hành động (tại sao?). Ông muốn tìm ra cái 'gốc' đã làm xáo trộn xã hội để biết được cái 'dụng' rồi mới tìm cách giải quyết các vấn đề khó khăn. 'Thầy thuốc chữa bệnh người ta, phải biết bệnh ở đâu ra thì mới chữa được. Những kẻ chữa loạn sao lại không thế? Thánh nhân làm việc cai trị thiên hạ, không thể không xét loạn ở đâu ra.' Không biết được lý do xích hóa thiên hạ thì khó áp dụng đúng phương pháp khai phóng thiên hạ. (Khi cội nguồn của vấn đề là kinh tế thì phải giải quyết bằng phương pháp kinh tế; nhưng nếu cội nguồn của vấn đề là chính trị thì phương pháp kinh tế không bao giờ có thể giải quyết ổn thỏa vấn đề chính trị.)
'Thánh vương cũng đã thu thuế nhiều của muôn dân để cất thuyền và xe. Lúc đã cất xong rồi liền hỏi: 'Ta sẽ dùng nó làm gì?' Ðáp rằng: 'Thuyền dùng ở nước, xe dùng ở cạn, quân tử được nghỉ chân, tiểu nhân được nghỉ vai, lưng. Cho nên muôn dân xuất của đem lại cho mà không oán hận. Tại sao? Bởi vì nó trúng vào chỗ lợi của dân. Vậy thì những thứ nhạc khí, nếu trúng vào chỗ lợi của dân như thế ta cũng không dám công kích. Nhưng dân có ba điều lo là đói không được ăn, rét không được mặc, mỏi không được nghỉ, ba điều đó là sự lo lớn của dân. Song nếu vì dân mà gõ chuông lớn, đánh trống kêu, gảy đàn cầm đàn sắt, thổi ống vu ống sinh và múa cái can cái thích, thì cái của ăn mặc của dân có được gì đâu.'
Thuế má 'dụng' được cho nên là việc 'phải,' và vì 'phải' nên 'dụng' được. Trong khi đó, theo Mặc Tử, nhạc không 'dụng' được cho nên không 'phải;' và vì không 'phải' do đó không nên 'dụng'. Mọi việc vì vậy có ba 'biểu' tức là 'gốc,' 'nguyện' (nguồn) và 'dụng.'
'Thế nào gọi là ba (3) biểu? Nghĩa là có cái làm gốc, có cái làm nguyện, có cái để dụng. Gốc ở chỗ nào? Trên thì gốc ở việc của Thánh vương đời xưa. Nguyện (nguồn) ở chỗ nào? Dưới thì dò xét sự thật ở trước tai mắt trăm họ. Dụng ở chỗ nào? Ðưa ra là việc hình chính xem có lợi cho nhà nước trăm họ hay không.'
Khi biết rõ được hai biểu ban đầu (gốc và nguồn) của vấn đề thì sau đó ứng dụng (hành động) vào thực tế để đánh giá thực lợi; chỗ 'dụng' của vạn vật sẽ đem đến ích lợi thực sự cho nhân dân. Ðây là chủ trương ứng dụng hay thực lợi của Mặc Tử; những phù phiếm bề ngoài không đem lại lợi lộc thực sự cho nên không cần đến. Chủ nghĩa ứng dụng của Mặc Tử được diễn tả như sau:
'Lời nói đủ để cải cách hành vi thì tôn trọng. Không đủ tăng tiến hành vi thì không nên tôn trọng. Không đủ để tăng tiến hành vi mà tôn trọng, đó là miệng phóng túng vậy.'
Bất cứ chính sách hay phương pháp nào cũng phải giúp cho nhân loại thăng tiến, và nếu không đưa đến kết quả này thì trở nên vô dụng và không được tôn trọng. Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánh giá tất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếu không có lợi cho nhân dân (chứ chưa nói đến việc có hại) thì không làm. Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái 'dụng' của sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa'. Theo Mặc Tử thì 'muôn việc không việc gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa, lợi dã).
'Nay bảo một người nào rằng: 'Cho anh cái mũ cái dép mà chặt tay chân của anh, anh có lấy không?' Chắc chắn không lấy. Tại sao? Bởi vì mũ dép không quý bằng chân tay.
Lại bảo: 'Cho anh cả thiên hạ mà giết thân anh, anh có lấy không?' Chắc chắn không lấy. Tại sao? Bởi vì thiên hạ không quý bằng thân.
(Nhưng lại có cảnh) tranh một lời nói mà đến giết nhau, đó là nghĩa quý hơn thân.'
'Dùng mà không được (không có lợi) thì tôi cũng phản đối. Vả lại có khi nào có điều hữu thiện mà lại không dùng (lợi) được.' Mặc Tử quan niệm 'nghĩa là lợi' (nghĩa, lợi dã) cho nên khi biết vai trò chính yếu của nhân nghĩa thì bậc lãnh đạo phải áp dụng nhân nghĩa trong mọi lãnh vực để kiềm chế tư tưởng hay hành động bất nhân. Ở đời có kẻ tự xem là quân tử nhưng chỉ biết bàn suông về nhân nghĩa mà không thi hành việc nhân nghĩa; họ chỉ là loại quân tử mồm mép biết dùng đại ngôn mà không có thực tài. Loại quân tử mồm mép không khác gì kẻ mù lòa không biết phân biệt trắng đen cho nên khi gặp việc thì cũng không biết chọn lựa giữa việc nghĩa và việc bất nhân.
'Nay có kẻ mù lòa nói: 'Bạch nghĩa là trắng, thâm nghĩa là đen' thì dẫu kẻ sáng mắt cũng không cãi lại được. Nếu đen trắng lẫn lộn mà sai kẻ mù chọn lấy thì hắn không thể biết được. Cho nên ta nói kẻ mù không biết đen trắng, không phải vì sự gọi tên (nói), mà là vì sự chọn lựa (làm).
Nay người quân tử trong thiên hạ nói việc nhân, dẫu có đến vua Vũ hay vua Thang cũng không cãi lại được. Nhưng để việc nhân và bất nhân lẫn lộn mà bảo những người quân tử trong thiên hạ chọn lấy, thì họ không thể biết được (việc nhân hay việc bất nhân). Cho nên ta bảo người quân tử trong thiên hạ không biết việc nhân, không phải vì sự gọi tên (nói), mà là vì sự chọn lựa (làm).'
Ðối với Mặc Tử thì hành động thực dụng quan trọng hơn ngôn từ. Chỉ có hành động thực lợi mới chứng minh được sự hiểu biết thật sự của bậc quân tử chân chính. Chủ trương 'tri hành hợp nhất' của Mặc Tử đòi hỏi 'tri thức' phải song hành với 'ứng dụng,' tức là phải tự vấn xem vốn liếng hiểu biết của mình có khả năng thực hành được không. Kẻ nào chỉ biết dùng đại ngôn nhưng khi va chạm thực tế mà không biết giải quyết vấn đề thì chỉ là loại giả quân tử hay quân tử mồm mép vô tài đức. Rất tiếc cho nhân loại là thứ giả quân tử tham lam danh lợi thì rất nhiều trong xã hội. 'Quân tử trong đời, nghèo mà bảo giàu thì giận, vô nghĩa mà bảo có nghĩa thì mừng. Há chẳng trái lẽ lắm sao!' và 'Quân tử trong đời, sai làm đồ tể giết một con lợn, không làm nổi thì họ từ chối; sai làm tể tướng một nước, không làm nổi nhưng họ cứ làm' cho nên thật khổ cho dân đen.
Mặc Tử không chấp nhận việc ký thác cuộc đời cho số mạng. Ông tin rằng muốn thay đổi vạn vật thì phải bắt tay vào làm chứ không thể theo cách ngồi chờ
thời.
'.. Sĩ-quân-tử đời nay hoặc cũng có người vẫn cho số mệnh là có. Song ta từng xem việc của thánh vương đời xưa, cái nước vua Kiệt đã làm cho loạn, vua Thang nhận lấy lại làm cho trị; cái nước vua Trụ đã làm cho loạn, ở vua Thang vua Võ thì thiên hạ trị, há có thể bảo là số mạng à?..
Kẻ theo thuyết 'hữu mệnh' nói rằng: 'Người trên thưởng ai ấy là số mệnh người ấy được thưởng, không phải vì hiền thảo mà thưởng. Người trên phạt ai, ấy là số mệnh người ấy phải phạt, không phải vì bạo ngược mà phạt.' Bởi thế mà họ: vào trong nhà thì không hiếu thảo với họ-mạc, đi ra ngoài thì không kính thuận với làng xóm, đứng ngồi không có lễ ý, ra vào không có tiết độ, ở chỗ trai gái không có phân biệt. Cho nên sai họ coi việc quan phủ thì họ ăn trộm ăn cắp, cho họ giữ thành thì họ làm phản, vua có nạn họ không liều chết, vua đi họ không tiễn đưa..
Ngày xưa, những dân cùng đời cổ tham ăn uống, biếng làm việc, vì thế của ăn không đủ, mà lo đói rét tới nơi, họ không biết nói: 'vì ta hư hỏng, làm việc không gắng', ắt nói: 'số mệnh của ta vẫn nghèo'..
Ngày xưa những đấng bạo vương đời cổ không nhịn được sự đam mê của tai mắt và sự thiên lệch của bụng dạ.. rồi đến tan mất nước nhà, nghiêng đổ xã tắc, họ không biết nói: 'vì ta hư hỏng, làm việc chính trị không khéo', ắt nói: 'số mệnh của ta vẫn mất'..
Nay dùng lời của kẻ theo thuyết 'hữu mệnh' thì người trên không nghe đến chuyện chính trị, người dưới không làm việc. Người trên không nghe chuyện chính trị thì chính sự loạn, người dưới không làm việc thì của dùng không đủ. Ðó là chỉ khiến cho những lời nói càn bởi đấy mà ra, mà là cái đạo của kẻ tàn bạo vậy.'
Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theo minh ý của trời, chứ không phải tin vào bói toán một cách mù quáng. Theo minh ý của trời là phải biết thương dân bởi vì trời rất thương dân. Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình chăm lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệt đối không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân. 'Thế thì lấy gì để làm khuôn phép cho việc chính trị mới phải? Rằng: Không chi bằng cứ bắt trước trời rộng rãi mà không riêng tư; sự làm ơn của trời hậu hỹ mà không hợm hĩnh; sự sáng láng của trời lâu bền mà không suy. Cho nên đấng thánh vương mới bắt chước trời. Ðã lấy trời làm khuôn phép, thì cất nhắc việc gì cũng phải so đọ với trời, cái gì trời muốn thì làm, cái gì trời không muốn thì thôi.'.. 'Sao biết trời thương yêu trăm họ? Vì là trời đã gồm lại mà làm cho sáng tất cả.'
Mặc Tử không chủ trương phải tiến hành cách mạng nhằm thay đổi các ông vua bất tài. Ông chủ trương rằng dân phải kính trọng lãnh tụ quốc gia; và lãnh tụ quốc gia phải có lòng bác ái để thương dân bởi vì trời thương yêu dân, và chỉ có thương dân thì mới tận tình chăm lo cho dân.
'Trời muốn cho con người yêu nhau, làm lợi cho nhau, mà trời không muốn họ ghét nhau, làm hại nhau vậy.
Sao biết ý trời là kiêm ái? Vì kiêm mà yêu nhau, vì kiêm mà lợi cho nhau. Sao lại phải biết trời kiêm mà yêu nhau, kiêm mà làm lợi cho nhau? Vì kiêm mà nhận làm có, vì kiêm mà nuôi.'
Lý do mà xã hội bị đảo điên với chiến tranh triền miên khiến trăm họ đau khổ là vì con người không có lòng bác ái. Vua không thương quan, quan không thương dân, dân không thương lẫn nhau và không kính vua, các quốc gia thì đối xử với nhau như kẻ thù cho nên mới có cảnh đâm chém tranh giành quyền lợi. Mặc Tử cực lực chống lại sự căm thù giai cấp trong xã hội '.. cho nên thánh nhân làm việc cai trị thiên hạ, không thể không cấm sự căm thù đối với nhau và khuyến khích sự yêu thương nhau' và chủ trương mọi người phải có lòng bác ái để có thể sống thái hòa với nhau.
'Thầy thuốc chữa bệnh người ta, phải biết bệnh ở đâu ra thì mới chữa được. Những kẻ chữa loạn sao lại không thế? Thánh nhân làm việc cai trị thiên hạ, không thể không xét loạn ở đâu ra.
Thử xét loạn ở đâu ra? Ở chỗ không biết yêu nhau mà ra. Tôi, con không hiếu thảo với vua, cha nên gọi thế là loạn. Con chỉ yêu mình mà không yêu cha, cho nên mới làm thiệt hại cho cha để lợi cho mình; em chỉ yêu mình mà không yêu anh, cho nên mới làm thiệt hại cho anh để lợi cho mình; bề tôi chỉ yêu mình mà không yêu vua, cho nên mới làm thiệt hại cho vua để lợi cho mình, thế gọi là loạn. Dẫu đến cha không thương con, anh không thương em, vua không thương bề tôi, cũng là những điều thiên hạ vẫn gọi là loạn.
Cha chỉ yêu mình mà không yêu con, cho nên mới làm thiệt hại cho con để lợi cho mình; anh chỉ yêu mình mà không yêu em, cho nên mới làm thiệt hại cho em để lợi cho mình; vua chỉ yêu mình mà không yêu bề tôi, cho nên mới làm thiệt hại cho bề tôi để lợi cho mình..
Dẫu đến những kẻ trộm giặc thiên hạ cũng vậy. Kẻ ăn trộm chỉ yêu nhà mình mà không yêu nhà khác, cho nên mới ăn trộm của nhà khác để làm lợi cho nhà mình; kẻ làm giặc chỉ yêu mình mà không yêu người, cho nên mới hại người khác để lợi cho thân mình..
Dẫu đến các quan đại phu làm loạn nhà nhau, các nước hầu đánh lẫn nước nhau cũng vậy. Các quan đại thần chỉ yêu nhà mình mà không yêu nhà khác, cho nên mới làm loạn nhà khác để lợi cho nhà mình; các nước hầu đều yêu nước mình mà không yêu nước khác, cho nên mới đánh nước khác để lợi cho nước mình. Các vật gây loạn cho thiên hạ đều thế mà thôi.'
Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc là sách lược bác ái. Sách lược quốc trị bác ái không chỉ bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trong quốc gia mà còn bao gồm cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội. Mặc Tử quả quyết rằng sách lược quốc trị bác ái sẽ an định được xã hội. 'Nếu như thiên hạ đã gồm yêu nhau, nước nọ với nước kia không đánh lẫn nhau, nhà nọ với nhà kia không làm loạn nhau, trộm giặc không có, vua tôi, cha con đều hiếu từ, như thế thì thiên hạ trị. Cho nên thánh nhân làm việc cai trị thiên hạ, không thể không cấm sự căm thù đối với nhau và khuyến khích sự yêu thương nhau.'
'Ðời xưa, khi dân mới sinh chưa có hình chính, lời nói của họ mỗi người một lẽ phải. Cho nên, một người một lẽ phải, hai người thì hai lẽ phải, mười người thì mười lẽ phải. Hễ người càng nhiều thì cái gọi là lẽ phải càng nhiều. Cho nên ai cũng bênh lẽ phải của mình mà chê lẽ phải của người, rồi chê lẫn nhau! Cho nên.. thiên hạ rối loạn như cầm thú vậy.'
Thương dân yêu nước thì phải làm cho dân giàu nước mạnh. 'Ðời xưa các đấng vương-công đại-nhân làm việc chính trị cho nước nhà đều muốn nước nhà được giàu, nhân dân được nhiều.' 'Bậc thánh vương.. tìm cách dấy lên cái lợi của thiên hạ, trừ hại cho thiên hạ.' (Cố cổ giả thánh vương.. cần hưng thiên hạ chi lợi, trừ thiên hạ chi hại.) Như đã bàn ở trên, Mặc Tử biết là 'kẻ khéo làm việc chính trị thì (biết) phải làm cho người xa gần lại, việc cũ mới ra.. (Họ) chỉ hỏi cái cách phải làm thế nào mà thôi.' Vì vậy, ông đề nghị lãnh đạo quốc gia nên áp dụng phương pháp sau đây để thi hành sách lược bác ái 'cấm sự căm thù đối với nhau và khuyến khích sự yêu thương nhau.'
'Nay ta đương tìm cách dấy được điều lợi cho thiên hạ mà làm, thì ta cho kiêm (bác ái) là phải. Ðó là đem cái tai tinh mắt sáng trông nghe cho nhau; đó là đem cái chân tay khỏe mạnh làm lụng cho nhau, mà kẻ có đạo thì cùng dạy bảo lẫn nhau. Cho nên những người già nua mà không vợ con (thì nên) có kẻ hầu nuôi cho trọn tuổi thọ; những kẻ nhỏ yếu mồ côi không cha mẹ (thì nên) có chỗ nương tựa cho lớn cái thân. Nay quen cho kiêm (bác ái) là phải, thì lợi như thế.'
Sách lược quốc trị bác ái của Mặc Tử là sách lược thực dụng cho nên phương pháp thi hành thay đổi tùy theo các yếu tố phức tạp của mỗi hoàn cảnh. Sách lược bác ái thực dụng đòi hỏi lãnh đạo quốc gia phải phân tích bệnh trạng của đất nước trước khi chọn lựa phương pháp chữa trị. Một liều thuốc không bao giờ có thể chữa trị tất cả các thứ bệnh cho nên một phương pháp duy nhất không thể giải quyết được tất cả các bài toán phức tạp của quốc gia.
'Phàm các nước phải chọn từng việc mà làm. Nhà nước hôn loạn thì bảo họ (áp dụng) những thuyết 'thượng hiền' (trọng hiền nhân), 'thượng đồng'; nhà nước nghèo thì bảo họ (áp dụng) những thuyết 'tiết kiệm', 'tiết táng'; nhà nước mê thích âm nhạc chè rượu, thì bảo họ (áp dụng) những thuyết 'phi nhạc', 'phi mệnh'; nhà nước dâm bậy vô lễ, thì bảo họ (áp dụng) những thuyết 'tôn thiên', 'sự quỷ'; nhà nước chăm việc xâm lăng thì bảo họ (áp dụng) những thuyết 'kiêm ái'..''
Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương là lãnh đạo quốc gia phải biết trọng dụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không. Nếu không 'trọng người hiền, dụng người tài' thì quốc gia sẽ bị loạn. Nếu chỉ biết dùng những kẻ thân thuộc hay bè phái thì sẽ khiến nhân dân chán nản và nhân tài bị mai một. 'Thánh vương đời xưa rất tôn trọng và mến chuộng hiền nhân mà sai dùng người tài, không kết bè với cha anh, không thiên vị kẻ giàu sang, không say mến kẻ nhan sắc. Ai hiền thì nâng lên, cho giàu và sang, dùng làm quan trưởng; kẻ nào bất tiếu thì bỏ đi, bắt nghèo và hèn, dùng làm phu dịch. Vì vậy dân đều nô nức sự thưởng, sợ hãi sự phạt, rủ nhau mà làm người hiền.. Rồi sau thánh nhân nghe lời họ, dò nết của họ, xét tài của họ, mà cẩn thận cho họ quan tước. Kẻ nào đáng trị một nước, cho trị một nước; kẻ nào đáng làm trưởng quan, cho làm trưởng quan; kẻ nào đáng trị một ấp, cho trị một ấp.'
Như vậy thì vai trò của hiền nhân trong sách lược bác ái rất quan trọng; vấn đề thực dụng ở đây là làm thế nào nhận diện hiền nhân để có thể giao trọng trách cho họ? Theo Mặc Tử, hiền nhân là 'kẻ có sức (thì) cố đem giúp người, kẻ có của (thì) vội đem chia cho người, kẻ có đạo (thì) khuyên nhau mà đem dạy người... Như thế thì kẻ đói được ăn, kẻ rét được mặc, kẻ loạn được trị.' Nhân tài giúp nước có thể xuất thân từ mọi giai cấp chứ không nhất thiết là phải từ giai cấp quý tộc. Với chủ trương này, Mặc Tử đưa ra quan niệm bình đẳng hóa xã hội. Ông phản đối hệ thống phân chia giai cấp đương thời (mà ngay cả Nho giáo cũng chấp nhận như một sự kiện hiển nhiên) và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc qua cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quan
trọng.
'Nay các đấng vương công đại nhân có cái quần không thể may được ắt tìm người thợ may khéo; có một con trâu, một con dê không giết được ắt tìm một tên đồ tể giỏi.. Kịp đến lúc quốc gia có loạn, xã tắc lâm nguy ắt không biết dùng kẻ có tài để trị vậy. Hễ là người trong thân thuộc ắt dùng. Vô cố phú quý, diện mặt xinh đẹp ắt dùng vậy.'
Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm. Chính sách tiết kiệm đòi hỏi lãnh đạo quốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoang nhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc gia. 'Xưa kia vua Nghiêu trị thiên hạ.. cái lễ cúi đầu, vòng lượn, bắt dáng bắt điệu, thánh vương không làm.' 'Thánh nhân làm việc chính trị của một nước, một nước có thể lợi được gấp hai; lớn ra, làm việc chính trị cho cả thiên hạ, thiên hạ có thể lợi được gấp hai. Cách làm cho lợi lên gấp hai đó, không phải là đi lấy đất ở ngoài. Nhân trong nước nhà, bỏ cái vô dụng đủ làm cho lợi gấp hai.' 'Những việc gì thêm chi phí mà không thêm lợi cho dân, thánh nhân không làm.' 'Cho nên dùng (mà) của không phí, sức dân không mệt, ấy là dấy lợi nhiều lắm.'
Về chính sách giáo dục, trong khi Lão giáo chủ trương vô-học và Khổng giáo nhấn mạnh việc đọc 'thư, kinh' thì Mặc Tử quan niệm rằng học phải đi đôi với quan sát và thực hành (tương tự lối nghiên cứu khoa học ngày nay).
'Cách mà người thiên hạ sở dĩ xét biết là có hay không, ắt lấy những sự tai mắt mọi người thực biết là có hay không làm mực thước. Thật có nghe thấy, có trông thấy thì lấy làm có, không nghe thấy, không trông thấy thì cho là không.'
Khi quốc gia có quy củ và theo sách lược bác ái thì đất nước sẽ được thái hòa và nhân dân sẽ được hạnh phúc. Mặc Tử đề nghị một lề lối sinh hoạt trong xã hội như sau để quốc gia có thể tiếp tục được an trị:
'(Trăm họ thiên hạ) nghe thấy điều thiện và điều bất thiện đều phải báo với người trên.. Người trên có lỗi thì can ngăn, người dưới có điều hay thì dò hỏi mà dâng lên.. Nếu điều thiện và điều bất thiện mà không bảo với người trên; cái mà người trên cho là phải lại không nhận là phải; cái mà người trên cho là trái lại không nhận là trái; người trên có lỗi không can ngăn; người dưới có điều hay, không dò hỏi mà dâng lên.. người trên sẽ phạt mà trăm họ sẽ chê.'
'Tán đồng với thiên tử mà không tán đồng với trời thì vạ trời chưa thôi..'' bởi vì thiên tử hay lãnh đạo quốc gia cũng chỉ là người cho nên có thể sai; chỉ có trời là tuyệt đối đúng. Do đó chính sách quốc trị phải phản ảnh xác thực ý trời, có nghĩa là phải phục vụ hết lòng cho quyền lợi của nhân dân. Như đã bàn ở trên, theo ý trời là phải biết thương dân bởi vì trời rất thương dân.
........ Dương Thành Lợi: Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương,
tr. 257-291