(Trích từ Diển Đàn Dân Chủ - Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.)
Aristotle (384-322 t.T.L.) được xem như là người đầu tiên nghiên cứu chính trị như một khoa học. Ông yêu chuộng quan niệm tiến hóa của vạn vật và nổ lực nghiên cứu của ông dần dần khiến ông quý mến các truyền thống cũng như luật lệ lâu đời của xã hội. Aristotle quan niệm rằng truyền thống và luật lệ cổ xưa của nhân loại nên được giữ gìn bởi vì các tác dụng quý giá của hệ thống cổ lệ. Nếu không có giá trị đặc biệt thì các truyền thống và luật lệ hiện hành vốn có nguồn gốc cổ xưa đã biến mất từ lâu.
Qua sách Chính Trị (Politics), Aristotle tán thành ý kiến của Plato là con người không thể không có quốc gia. Ông tỏ vẻ đồng ý với Plato là chính khách tài đức có thể xây dựng một quốc gia Ẫlý tưởngỮ. Nhưng theo Aristotle, mục đích căn bản của chính khách là xây dựng một quốc gia tốt nhất - chứ không phải một quốc gia Ẫlý tưởngỮ - mà họ có thể xây dựng được trong các điều kiện hiện tại phản ảnh đạo đức và khả năng thực tế của nhân loại. Aristotle chú trọng vào sự cải tổ quốc gia đương thời thay vì xây dựng một quốc gia mới hoàn toàn. Theo ông, quốc gia cung cấp cho con người nhiều ích lợi về mặt vật chất nhưng, quan trọng hơn hết, là về mặt luân lý đạo đức. Ông tin là nhân loại lúc nào cũng cố gắng tìm kiếm những gì tốt đẹp cho nên tổ chức quốc gia có khả năng giúp cho nhân loại tiến bộ.
Ðối với Aristotle, quốc gia có thể trải qua nhiều chính thể và một quốc gia Ẫlý tưởngỮ sẽ đem đến sự hoàn hảo về luân lý đạo đức cho công dân. Trong quốc gia Ẫlý tưởngỮ của Aristotle, mục đích của chính quyền là giúp nhân dân đạt được đời sống tốt và chính quyền nên chú trọng vào việc giáo dục cũng như hướng dẫn nhân dân đạt được đời sống tốt. Song song, quốc gia Ẫlý tưởngỮ nên có một số đất đai được trưng dụng làm công sản để gặt hái hoa quả nhằm tạo công quỹ cho quốc gia, v.v. Con người thực tế của Aristotle dừng lại ở đây bởi vì ông cho là bàn nhiều về quốc gia lý tưởng hoàn toàn không ích lợi. Theo ông, một quốc gia vẫn có thể được xem là tốt mặc dầu không hoàn hảo hay lý tưởng; và nhân loại vẫn phải cố gắng sinh tồn trong một quốc gia bị xem là xấu. Cây thước đo lường tình trạng tốt xấu của quốc gia là khả năng của quốc gia trong việc lo cho quyền lợi chung. Một quốc gia thiếu công bằng hay xấu là một quốc gia mà chính quyền chỉ lo củng cố quyền lợi riêng tư của lãnh tụ hay thiểu số lãnh đạo. Một quốc gia tốt là một quốc gia mà chính quyền biết quan tâm đến quyền lợi chung và gạt quyền lợi riêng tư của thiểu số cầm quyền qua một bên.
Aristotle chú trọng vào vai trò của hiến pháp và chính thể pháp trị. Hiến pháp là bộ luật căn bản quy định sự phân quyền và tưởng thưởng trong một quốc gia. Sự thành công của một quốc gia lệ thuộc vào khả năng phân chia quyền lợi đồng đều trong xã hội. Quốc gia sẽ đạt được công lý nếu sự tưởng thưởng được chia sẻ và quyền lực chính trị được sử dụng trên căn bản đóng góp cho sự ích lợi của xã hội.
Bởi vì loài người khác nhau về nhiều mặt như khả năng, kiến thức, sức đóng góp, v.v., quyền lợi phải được phân chia dựa trên sự khác biệt đó. Nguyên tắc công lý phân định (distributive justice) chào đời và trưởng thành trong triết lý quốc trị của Aristotle. Ông viết trong sách Chính Trị là Ẫnhững đòi hỏi chia sẻ quyền lực chính trị phải dựa vào sự đóng góp cho những yếu tố cấu tạo quốc giaỮ (Claims to political rights must be based on the ground of contribution to the elements which constitute the being of the state). Tựu trung, một cá nhân hay một nhóm muốn đòi hỏi được chia quyền lãnh đạo quốc gia phải có những đóng góp thực sự cho quốc gia. Công lý phân định không có nghĩa là mỗi công dân đều có quyền lực chính trị đồng đều như nhau hay thiểu số quý tộc phải được nhiều quyền lực chính trị hơn các công dân khác. Theo nguyên lý này, công dân nào đóng góp xây dựng quốc gia, công dân đó có thể được giao phó một số quyền lực chính trị tượng trưng giá trị của nổ lực đóng góp cho quốc gia. Những người nào không đóng góp cho quốc gia không có quyền đòi hỏi quyền lãnh đạo quốc gia.
Aristotle chia các chính thể ra thành nhiều loại dựa trên khả năng xây dựng công lý của quốc gia. Theo ông, quốc gia có sáu thể loại với các đặc điểm tương tự như những yếu tố mà Plato đã đưa ra trong tác phẩm Chính Khách. Một chính quyền hợp lý là một chính quyền mà những cá nhân lãnh đạo quản trị quốc sự vì quyền lợi chung, và thành phần lãnh đạo quốc gia được chọn lựa vào vai trò lãnh đạo dựa trên khả năng của họ. Aristotle kết luận rằng các chính thể hợp lý dưới sự lãnh đạo của một cá nhân thông thái (lãnh tụ chuyên chế nhưng có tài đức) hay một nhóm thông thái (thiểu số chuyên chế có tài đức) là chính thể Ẫlý tưởngỮ nhưng không thể đạt được trong thực tế; vì vậy cho nên nhân loại cần đến chính thể pháp trị đặt căn bản trên nguyên lý pháp trị. Nhân loại vốn không hoàn mỹ lại còn có nhiều khuyết điểm cho nên quốc gia không thể kiếm được người hoàn toàn tài đức để đưa vào vai trò lãnh đạo. Thực tế này được các chế độ độc tài chuyên chế trong quá khứ và hiện tại chứng minh qua tình trạng thiếu công lý cũng như các chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi riêng tư của giai cấp lãnh đạo thay vì để chăm lo cho quyền lợi quốc gia. Ðối diện với tình trạng này, Aristotle suy luận rằng mỗi công dân đều có quyền lãnh đạo quốc gia nhưng không ai có thể chiếm được ngôi vị tối thượng trong quốc gia.
Ngôi vị tối thượng trong quốc gia phải được giành cho luật pháp. Luật pháp phải được áp dụng một cách không thiên vị để tránh sự kỳ thị hay xu nịnh. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, Aristotle đề nghị là những sắc luật đặc biệt (psephisma) nên được ban hành để giữ được đức tính công bình của xã hội và tránh được sự hà khắc của luật pháp. Sau các sắc luật đặc biệt, phương pháp điều đình nên được sử dụng dựa trên căn bản quyền lợi công lý. [Aristotle đã dự đoán chính xác về kết quả hà khắc thiếu công minh của luật pháp. Một người không biết đọc hay viết có thể bị chủ nợ gài bẩy bắt ký nhượng toàn bộ tài sản nếu không thể trả một món nợ rất nhỏ đúng hẹn. Luật pháp vốn mù lòa cho nên có thể khiến con nợ bị tan gia bại sản bởi vì mảnh giấy giao kèo thiếu công bằng này. Tại nhiều quốc gia pháp trị hiện nay, các quan tòa phải dùng nguyên tắc công bằng (equity) để bảo vệ những công dân yếu thế.]
Luật pháp của quốc gia phải được đặt căn bản trên các điều lệ của hiến pháp; các sắc luật vi hiến trở thành vô hiệu lực. Quốc gia không thể áp dụng luật pháp của nước khác bởi vì luật pháp dựa trên hiến pháp, và hiến pháp của các quốc gia khác nhau. Aristotle suy luận rằng truyền thống và các luật lệ cổ xưa có nhiều giá trị và không thể bị gạt qua một bên; luật lệ và truyền thống lâu đời của quốc gia cần phải được quan tâm khi sáng tạo hiến pháp quốc gia. Hiến pháp không chỉ phân định quyền lực chính trị và đưa ra mô hình chính phủ mà còn phải phản ảnh lối sống của nhân dân.
Những người tham chánh hay nghiên cứu chính trị có bốn nhiệm vụ. Họ phải học hỏi các hiến pháp lý tưởng nhất. Sau đó, họ phải tìm hiểu mô hình hiến pháp nào thích hợp với hoàn cảnh nào. Song song, họ cũng phải phân tích các hiến pháp thiếu hoàn hảo cũng như tìm kiếm phương pháp bảo vệ các hiến pháp này. Cuối cùng, họ phải xác định những nguyên tố cấu tạo hiến pháp hữu dụng nhất cho mỗi quốc gia. Aristotle quan niệm rằng việc thay đổi hiến pháp hiện hành hay bắt buộc công dân chấp nhận một hiến pháp mới rất khó khăn. Vì thế cho nên các nhà tham chánh phải cẩn thận và kiên nhẫn vô cùng khi muốn thuyết phục công dân chấp nhận các ý kiến cải cách hiến pháp.
Theo Aristotle, thế giới hiện tại của nhân loại có hai loại chính thể: dân chủ và quý tộc trị. Những động cơ xã hội, chính trị, kinh tế của quốc gia sẽ dẫn đến một trong hai mô hình này. Mỗi loại chính thể (dân chủ hay quý tộc trị) có vô số hình thức sinh hoạt chính trị tốt và xấu. Sự khác biệt giữa các hình thức sinh hoạt chính trị trong xã hội dân chủ tùy thuộc vào số công dân giữ được quyền hành dựa theo tiêu chuẩn tài sản cá nhân. Aristotle kết luận rằng chính thể dân chủ tệ nhất là một chính thể thiếu hẳn sự phân chia quyền hành theo tiêu chuẩn tư sản và công dân được trả lương để tham chánh. (Những người có tài sản không tham chánh để được trả lương hay để được hưởng đặc quyền.)
Aristotle nhận định rằng nền dân chủ của Athens là nền dân chủ tệ hại nhất bởi vì nó cho phép giai cấp lao động ở thành phố lạm dụng quyền hành chính trị. Nông dân Athens ở xa thành phố cho nên chỉ có một số ít có thời giờ và khả năng để vào thành phố - trung tâm văn hóa và chính trị - hầu tham chánh. Song song, nền dân chủ trực tiếp (công dân trực tiếp quản trị quốc gia) ở Athens gặp nhiều trục trặc vì khó có thể dung hòa giữa quyền dân trị tối thượng của công dân và ý muốn quản trị quốc sự một cách tốt đẹp. (Như đã bàn ở phần đầu, chỉ một số nhỏ dân Athens tham dự các buổi họp Quốc Hội để trực tiếp bàn luận về các vấn đề quốc gia; tuy vậy, thiểu số tham dự cũng đã quá đông khiến các công việc của Quốc Hội nhiều lúc bị đình trệ.)
Theo Aristotle, xã hội dân chủ thực dụng và tốt nhất bao gồm đa số nhân dân lo cày cấy và cho phép các chính khách có khả năng quản trị quốc sự. Quyền lực chính trị tối thượng nằm trong tay của công dân và họ chỉ sử dụng để thay đổi những chính khách vô tài hay phạm lỗi. Chính thể dân chủ do Aristotle đề nghị là chính thể dân chủ đại diện (hay gián tiếp) mà công dân giao trọng trách quản trị quốc gia cho các vị đại diện có khả năng.
Khi bàn về chính thể quý tộc trị, Aristotle cho là nếu thiểu số lãnh đạo không lạm dụng biệt quyền và quyền lực chính trị không bị tập trung (tức là một số lớn những người có tài sản trong quốc gia đều có quyền lực chính trị) thì một chính quyền quý tộc trị đặt căn bản trên luật pháp có thể tồn tại được. Tuy nhiên khi đặt mô hình quý tộc trị vào bối cảnh thực tế, ông không tin là chính thể này có thể tồn tại bởi vì thiểu số lãnh đạo thường có ý muốn tập trung quyền lực và sẽ gây ra nhiều mâu thuẫn bất công trong xã hội; chính thể quý tộc trị sẽ dễ khiến toàn thể công dân bất bình.
Aristotle kết luận rằng chính thể thực dụng tốt đẹp nhất là chính thể bao gồm những yếu tố tốt đẹp của chế độ dân chủ và quý tộc trị. Theo ông, bất cứ xã hội nào cũng có hai phần tử: phẩm và lượng. ẪPhẩmỮ biểu hiện tiêu chuẩn thiểu số với các yếu tố như sự giàu có, chức vụ, học thức, khả năng, v.v. ẪLượngỮ dựa trên động cơ dân chủ tức là quyền quốc trị của toàn thể công dân. Bất cứ chính quyền nào bị một trong hai phần tử này hoàn toàn kiểm soát sẽ đem đến những xung đột không tốt. Chính thể tốt nhất sẽ cân bằng ảnh hưởng của hai phần tử này bằng cách sử dụng những ưu điểm của một phần tử để tiêu diệt các khuyết điểm của thành phần đối chọi, và ngược lại. Trong thực tế, chính thể tốt đẹp này có thể được xây dựng bằng cách đặt quyền lực chính trị vào tay của giai cấp trung lưu; đặc điểm tối quan trọng ở đây là giai cấp trung lưu phải đạt được số đông vừa phải trong quốc gia để có thể kiểm soát sự đòi hỏi quá đáng của hai phần tử ôphẩmọ và ôlượngọ. Theo Aristotle, chính thể thực dụng tốt đẹp nhất là chính thể do dân trị và vì dân. Bởi vì thành phần thượng lưu trong xã hội chỉ thích chỉ huy nhưng không muốn tuân theo kỹ luật và thành phần hạ lưu - vốn bị tự ti về tư sản - dễ bị những chính khách gian hùng lợi dụng cho nên việc quản trị quốc sự nên được giành cho thành phần trung lưu. Vì không quá nghèo để bị Ẫcái khó nó bó cái khônỮ hay quá giàu để chia bè phái vì quyền lợi riêng tư, thành phần trung lưu có thể tự chủ để quản trị các vấn đề quốc gia một cách hợp lý. Tựu trung, chính thể mà Aristotle đề nghị là một chính thể dân chủ dựa trên giai cấp trung lưu. Tài sản phải được xem như là phương tiện hơn là cứu cánh; nếu tài sản được sử dụng hữu hiệu thì nó có thể đóng góp nhiều cho xã hội và đời sống của công dân. Aristotle quan niệm rằng tài sản nên được chia sẻ một cách công bằng trong xã hội để giảm thiểu những xung đột giữa người nghèo và kẻ giàu có. Chính sự thiếu cân bằng giữa các động lực kinh tế trong xã hội đem đến các xung đột nguy hiểm trên chính trường. Một chính thể dân chủ khó tồn tại được nếu tài sản bị tập trung trong tay của một thiểu số chủ nhân và người dân vô sản có quyền chết đói. Sự an lạc của quốc gia tùy thuộc vào con số công dân quan tâm về quốc sự và có khả năng ảnh hưởng chính quyền. Nếu đại đa số nhân dân nghèo đói và bị kềm kẹp, họ dễ trở nên cực đoan khi gặp cơ hội thay đổi chính quyền bị thiểu số giàu có khống chế. [Ðộc giả sẽ không ngạc nhiên khi thấy được là các chính quyền dân chủ thực sự hiện nay đều đặt nền móng trên giai cấp trung lưu và cố gắng cải cách kinh tế để gia tăng thành phần trung lưu hay tiểu tư sản.]
Aristotle bất đồng ý kiến với Phaleas (of Chalcedon), một triết gia đồng thời với Plato từng đưa ra quan niệm là những khó khăn của xã hội đến từ sự phân chia đất đai thiếu công bằng. Aristotle nhận thấy là các xung đột trong xã hội đến từ nhiều nguyên nhân chứ không chỉ mang màu sắc tranh chấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư bản. Ðiển hình là sự tham lam cá nhân; bởi vì tham lam mà nhiều kẻ giàu có trở nên độc tài chuyên chế để bảo vệ cũng như khuếch trương quyền lợi riêng tư, họ không trở nên độc tài chuyên chế bởi vì thiếu ăn hay vô sản. Vì vậy, Aristotle đề nghị phương pháp hướng dẫn công dân sử dụng tài sản một cách có lợi cho xã hội và Ẫcông bằng hóaỮ nguyện vọng của người dân thay vì phương pháp phân chia tài sản đồng đều. [Luật nhân quyền ở các quốc gia dân chủ hiện nay chú trọng vào việc Ẫcông bằng hóaỮ cơ hội phát triển cho tất cả công dân bất kể giàu nghèo, nam nữ, da màu, v.v. Song song, luật thuế vụ cũng được sử dụng để phân chia một số lợi nhuận của giai cấp giàu cho những người nghèo. Xã hội dân chủ không có chuyện cướp giựt tài sản hay vô sản hóa khả năng kiếm lợi nhuận của giai cấp giàu có để nâng đỡ giai cấp vô sản. Các chế độ cộng sản sử dụng chính sách bần cùng hóa xã hội để mọi người - ngoại trừ thiểu số đảng viên cộng sản - trở thành vô sản; chính sách điên rồ này đã đẩy quốc gia xuống vực thẳm nghèo đói.] Về vấn đề giữ gìn các chính thể pháp trị, Aristotle suy luận rằng chính chế độ do dân trị và vì dân là cứu cánh cho tất cả các chế độ. Chính thể độc tài thiếu dân chủ có thể tiến hóa nếu biết áp dụng các quy tắc chính trị của chính thể do dân trị và vì dân. Trong tiến trình thay đổi để áp dụng các quy tắc tiến bộ này, chính thể độc tài thiếu dân chủ phải tránh tình trạng vô pháp, tránh tình trạng những kẻ lãnh đạo lạm dụng chức vụ để lo cho quyền lợi riêng tư, tránh tình trạng một nhóm người lũng đoạn khống chế được chính quyền khiến cho đại đa số nhân dân oán ghét. Song song, những cá nhân trong chính quyền phải thực sự có khả năng và tuyệt đối tôn trọng luật pháp.
Khi bàn về vấn đề nô lệ, Aristotle quan niệm theo cái nhìn của dân Athens vào thời đó. Sự khác biệt về khả năng và tài đức khiến con người bị phân chia thành chủ nhân và nô lệ. Mặc dầu công nhận sự kiện một số nô lệ có khả năng và tài đức hơn chủ nhân mà vẫn phải sống đời sống nô lệ là không đúng, Aristotle vẫn tin là một số người sinh ra làm chủ nhân và một số người khác phải làm nô lệ. Ông chỉ khuyên là chủ nhân nên đối xử với nô lệ một cách nhân từ.
Khác với thầy Plato vốn thiên về một cơ chế tập trung quyền hành để đập tan các động lực chia rẽ nội bộ quốc gia, Aristotle không tin là chủ trương tiêu diệt các phe phái đối nghịch là phương pháp tốt và hữu hiệu. Theo ông - cũng như James Madison khi bàn về nền dân chủ Hoa Kỳ sau này - các phe phái đối nghịch luôn luôn tồn tại trong xã hội và cách tốt nhất để xây dựng quốc gia là giới hạn nhược điểm của các phe nhóm chứ không phải tiêu diệt các phe nhóm đối nghịch. Aristotle rất lo ngại là quyền tự do của công dân có thể bị vi phạm một khi chính quyền không bị luật pháp kềm chế sau khi đã đập tan các phe phái đối nghịch. Ông suy luận rằng hình thức tổ chức chính quyền tốt nhất phải cân bằng giữa quyền tự do của công dân và quyền hành của chính quyền. Trong một tổ chức chính trị hữu lý, ngôi vị độc tôn trong quốc gia sẽ được giành cho luật pháp, và luật pháp chứ không phải bạo lực sẽ quản trị quốc gia.
. . . . . . . . . . Dương Thành Lợi,
Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 25-34