Vấn đề năng lượng hiện nay vẫn là mối ưu tư hàng đầu cho tất cả các
quốc gia trên thế giới, nhất là đối với những nước đang phát triển.
Việt Nam với mức phát triển kinh tế hàng năm trên 7%, do đó nhu cầu có
thêm năng lượng rất cần thiết nhất là điện năng. Ngoài việc tăng gia
nguồn năng lượng cho phát triển, vấn đề mang điện về nông thôn, về
những vùng sâu vùng xa cũng là một việc làm cấp bách nhằm mục đích nâng
cao đời sống của thành phần dân số nầy góp phần vào công cuộc xóa đói
giảm nghèo Do đó, Ngân hàng Thế giới (NHTG) (WB) qua Hiệp hội Phát
triển Quốc tế (IDA) đã tài trợ cho VN qua hai dự án năng lượng nông
thôn I và II. Tạp chí KH&KT lần nầy tiếp chuyện với TS MTT về nội
dung các dự án trên.
- Hỏi: Trước hết xin TS cho biết qua về NHTG và cách tổ chức của ngân hàng nầy như thế nào?
-
Đáp: Thưa anh. NHTG được thành lập từ năm 1944. Lúc đầu có 38 quốc gia
thành viên, hiện tại có 186 thành viên trong đó có VN. Tùy theo từng
mục tiêu của vấn đề, NHTG mở ra nhiều tổ chức khác nhau như: - Ngân
hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IDRB); - Hiệp hội Phát triển Quốc
tế (IDA); - Công ty tài chánh Quốc tế (IFC); - Tổ chức Bảo lảnh Đầu tư
Đa phương (MIGA); - và Trung tâm Quốc tế Gỉai quyết Đầu tư (ICSID).
-
Hỏi: Các tổ chức trên được thành lập để giải quyết những vấn đề NHTG có
liên quan như tên các danh xưng trong những chính sách và chiến lược hỗ
trợ các quốc gia được giúp đỡ. Như vậy chiến lược căn bản của NHTG là
gì thưa Ông?
- Đáp: Trong việc hỗ trợ các quốc gia đang phát
triển, trước hết NHTG giúp đỡ trong việc tư vấn và nghiên cứu phát
triển trong điều kiện hiện có của quốc gia đó. Sau đó sẽ có những dự án
hỗ trợ thông qua các chương trình tài trợ như viện trợ, cho vay dài hạn
với mức lời thấp, hỗ trợ tín dụng để vay mượn các cơ quan quốc tế khác.
Những chương trình được NHTG tập trung là: phát triển nông thôn, phát
triển đô thị, cơ sở hạ tầng, và phát triển con người trong đó có chương
trình xóa đói giảm nghèo. Những chương trình trên đây nằm trong 3 mục
tiêu chính của NHTG để giúp các quốc gia là hỗ trợ chuyển đổi nền kinh
tế, tăng trưởng và giảm nghèo, và thúc đẩy quản trị tốt. Trong chiều
hướng đó Dự án Năng lượng Nông thôn I và II đã được NG tài trợ cho VN.
- Hỏi: Xin TS nói về Dự án Năng lượng Nông thôn (DANLNT) I và II.
Đáp
3: DANLNT I đã bắt đầu thực hiện từ năm 1997 và chấm dứt vào năm 2004.
Dự án có mục đích cải tạo, nâng cấp, và mở mang mạng lưới điện trung
thế và hạ thế cho khoảng 1000 xã thuộc các tỉnh phía Bắc, Trung và Nam.
DANLNT
II đã được VN phê duyệt vào tháng 10/2005 và đang bắt đầu đi vào thực
hiện. Ngày kết thúc dự án dự định vào tháng 12/2011.
- Hỏi: Mục tiêu của DANLNT II có khác hơn DANLNT I hay không?
-
Đáp: Qua kinh nghiệm của DANLNT I, lần nầy mục tiêu và phương thức thực
hiện có kế hoạch tương đối khoa học hơn và có quy mô lớn hơn. DANLNT II
là một dự án nằm trên một địa bàn rộng tên 30 tỉnh gồm cả Bắc Trung Nam
và có nhiều đơn vị quốc gia quản lý. Mục tiêu dự án rất rõ ràng như:
- Cải thiện việc cung cấp điện năng có phẩm chất tốt có giá thành hợp lý cho nông dân (khoảng 700 Đồng/Kwgiờ);
- Tạo ra sự phát triển kinh tế bền vững ở những vùng nầy;
- Nâng cao năng lực quản lý năng lượng điện nông thôn do địa phương quản lý.
- Hỏi: TS vừa nói địa bàn của dự án bao trùm 30 tỉnh trên 64 tỉnh toàn quốc, đó là những tỉnh nào thưa ông?
-
Đáp: Qua 3 mục tiêu của dự án rõ ràng là dự án nhắm tới các tỉnh ở miền
sâu và xa, chưa được phát triển nhiều. Nằm trong dự án có 15 tỉnh thuộc
miền Bắc như: Yên Bái, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lào Cay, Lai Châu v.v...;
9 tỉnh thuộc miền Trung như: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng
Ngãi v.v...; và 6 tỉnh thuộc phía Nam như: Ninh Thuận, Tây Ninh, Bến
tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, và Cà Mau. Trong dự án có ghi rõ chi tiết và
mục đích nâng cấp để mở rộng mạng lưới điện hạ thế cho khoảng 1.200 xã
thuộc 30 tỉnh trên.
- Hỏi: Ngoài nguồn vốn đầu tư do NHTG, còn có nguồn vốn nào khác không thưa Ông?
-
Đáp: Tổng nguồn vốn đầu tư của dự án là 329,5 triệu Mỹ kim, trong đó
NHTG qua chương trình IDA cho vay 220 triệu và có ghi rõ là số tiền nầy
chỉ dùng cho việc mua sắm thiết bị và xây lắp mà thôi. Ngòai ra, còn có
Quỹ Môi trường toàn diện viện trợ 5,25 triệu; vốn đối ứng 69,5 triệu và
nguồn vốn do người dân đóng góp là 34,7 triệu dùng để chi cho hệ thống
chuyển tải điện và nối mạng điện vào các địa phương.
- Hỏi: Còn việc phân công và các cơ quan quản lý phối hợp như thế nào thưa ông?
-
Đáp: DANLNT II là một dự án tổng hợp liên hệ rất nhiều cơ quan, tuy
nhiên có hai cơ quan quản lý chánh là Bộ Công Nghiệp và Cty Điện lực VN
phối hợp cùng với các UBND Tỉnh, và Ngân hàng Nhà nước. Cty Điện lực
chịu trách nhiệm chuẩn bị thực hiện các phần của dự án. Bộ CN thành lập
Ban chỉ đạo để giám sát toàn bộ dự án. Ngoài ra còn có một Ban Quản lý
DA có bổn phận hỗ trợ, phối hợp và thực hiện một số công trình ở cấp
địa phương. Do đó hệ thống quản lý được chia ra như sau: Ban chỉ đạo
trung ương do ông Nguyễn Xuân Thúy, Thứ trưởng Bộ CN làm trưởng ban và
7 ủy viên gồm các bộ liên hệ như Bộ Tài chánh, Ngân hàng Nhà nước, Bộ
NN&PTNT. Tiếp theo là Ban quản lý do Ô. Nguyễn Mạnh Hùng thuộc Bộ
CN làm trưởng ban và 2 ủy viên. Về việc phân công, Bộ CN gồm đãm nhiệm
hai phần vụ: chính sách và dự án. Về chính sách, Bộ phê duyệt các đề án
giải tỏa mặt bằng, tái định cư và bồi thường, bảo vệ môi trường bền
vững, giả thích chính sách đối với cư dân bị ảnh hưởng khi thi hành dự
án. Về dự án, Bộ hướng dẫn các cơ quan quản lý dự án phê duyệt Báo cáo
nghiên cứu khả thi và thông suốt các văn bản chính thức đã được lý kết
cho dự án. Sau cùng, điều khiển tổng quát toàn bộ quá trình thực hiện
dự án.
Trong lúc đó HĐQT Điện lực VN có nhiệm vụ phê duyệt
nghiên cứu khả thi các mạng lưới điện trung thế. Trách nhiệm của các UB
Tỉnh là phê duyệt các mạng lưới điện hạ thế và thiết kế thi công các kế
hoạch dự định thực hiện.
- Hỏi: Sau khi hoàn tất DANLNT II dự định vào năm 2012, tình trạng mạng lưới điện ở nông thôn sẽ như thế nào thưa TS?
-
Đáp: Thưa anh. Nếu tổng kết kết quả của hai DANLNT I và II, và nếu
DANLNT II hoàn tất đúng như kế hoạch, mạng lưới điện ở nông thôn sẽ
được hoàn thiện, làm tăng khả năng phục vụ người dân, giảm thiểu tổn
thất điện qua các mạng trung thế và hạ thế, do đó làm hạ gía thành điện
và nâng cao hiệu quả kinh tế về kinh doanh điện ở nông thôn. Quan trọng
hơn cả là hệ thống chuyển tải điện năng toàn quốc được đi vào nề nếp và
đồng bộ hơn trước, mang lại nhiều thuận lợi cho việc quản lý toàn diện.
-
Hỏi: Câu hỏi sau cùng cho TS là, một khi mạng lưới điện được mang về
tận nông thôn, nông dân sẽ là người tiếp nhận lợi ích nầy. Xin TS cho
biết ý kiến là làm thế nào để có thể ngăn ngừa hay hạn chế những mặt
tiêu cực trong khi hành những dự án lớn ảnh hưởng đến nhiều triệu cư
dân?
- Đáp: Cám ơn anh đã nêu ra câu hỏi trên. Về lợi ích, tất
cả chúng ta đều thấy rõ ràng là một khi người dân được cung cấp điện
năng, đời sống của họ sẽ thay đổi tức khắc như đi từ bóng tối ra ánh
sáng. Có điện, việc cải thiện đời sống trong mọi ý nghĩa về kinh tế -
xã hội - văn hóa đều thay đổi và thay đổi theo chiều hướng tích cực.
Điều nầy chắc chắn sẽ đẩy mạnh việc xóa đói giảm nghèo đúng theo tinh
thần và mục tiêu của NHTG đề ra.
Tuy nhiên qua kinh nghiệm ở VN,
có thể nói một cách rốt ráo là tất cả những dự án lớn trong quá khứ đều
có sự thất thoát trầm trọng trong quá trình thực hiện. Hệ thống quản lý
phức tạp là môi trường thuận lợi nhất cho các: thủ tục đầu tiên". Đặc
biệt là DANLNT II có liên quan trực tiếp đến việc di dời và bồi thường
thiệt hại cho người dân. Những thủ tục trên đây rất nhạy cãm và là điều
kiện dễ dàng cho cán bộ quản lý đi vào con đường thoái hóa và tiêu cực
như ăn chận, tham nhũng v.v...
Thêm nữa đây là một công trình có
ảnh hưởng lớn đến môi trường và ảnh hưởng lên nhiều vùng có hệ sinh
thái khác nhau. Do đó, cần phải điều nghiên tường tận nghiên cứu tác
động môi trường từng nơi trước khi đi vào xây dựng.
Hy vọng
những người có trách nhiệm với DANLNT II tiếp thu những ý kiến trên ngõ
hầu có thể mang ánh sáng đến tận những vùng sâu vùng xa, giúp nông dân
có cơ hội tự xóa đói giảm nghèo.