Báo chí và Võ Long Triều

Nguoi Viet - Sunday, May 08, 2005

Tùy bút Nguyễn Hữu Nhật

Lẽ ra tôi phải dùng tiếng “ông” hay “anh” để nói về Võ Long Triều, nhưng về mặt nào đó kỹ sư họ Võ là người bạn cùng-một-nghiệp với tôi, nghiệp “viết báo và làm báo”, nghiệp được hiểu theo nghĩa của chữ Karma; nên trong tùy bút văn nghệ này, tôi muốn dùng tiếng “Võ” để nói về văn-tinh, văn-báo, của “Long Triều”, trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đầy những nỗi riêng báo chí và tình chung đất nước của ổng, của ảnh từ thời trai trẻ nơi quê nhà, cho tới nay ở quê người tuổi đã chớm già. Song tâm hồn của Võ mà tôi biết một cách chắc chắn rằng:

Võ chỉ già dặn, không già nua, trên đường nối tiếp lịch sử báo chí Việt Nam, 140 năm rồi, kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1865, tờ Gia Ðịnh Báo ra đời, bằng chữ Quốc Ngữ, khổ 32cm x 25 cm. Văn chính luận của Võ, qua tờ Ðại Dân Tộc trước năm 1975 ở Sài Gòn và Tiếng Gọi Dân Tộc ở Paris sau năm 1975, ngắn, gọn và bén. Tôi không nói tới cảnh nhà của Võ, một thanh niên miền Nam có học thức, dễ trở thành “công tử”, sống một đời ăn chơi, nhàn nhã và yên ổn; tôi thích kể vì sao Võ “làm chính trị” và “làm báo” làm chi cho khổ một đời? Khổ tâm. Làm chính trị, thì Võ đối lập, từ bỏ cả chức bộ trưởng; làm báo, Võ trân trọng những cây bút tầm cỡ như Vương Hữu Bột tức nhà thơ Ðỗ Quý Toàn và chấp nhận được cả “Người Nói Thật”, là kẻ đang viết tùy bút này. Tháng 2 năm nay, mùa Xuân ở Thung Lũng Hoa Vàng San José, Bắc Cali, gặp lại Võ, tôi muốn bắt tay thật chặt và bày tỏ lời cảm ơn Võ về cái tinh thần làm báo của Võ suốt gần nửa thế kỷ. Võ lại đang loay hoay với một tờ báo của Tập thể Chiến sĩ VNCH. Tôi nghĩ, nhà văn giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh “có mắt xanh”, đã nhìn ra Võ. Võ không phải là người làm báo... chợ.

Những Gia Ðịnh báo, Phụ Nữ Tân Văn, Ðông Dương, Nam Phong tạp chí cũng như Phong Hóa, Ngày Nay... và Ðại Dân Tộc là báo... bán. Bán rất chạy. Nhưng tôi biết, báo của Tập thể Chiến sĩ, rồi ra, sẽ không là báo chợ... Chiến sĩ không buôn với bán gì cả. Võ làm báo không lương. Thế, có nghề nào như vậy không, chẳng là nghiệp thì là gì? Dường như, “thời” nào cũng vậy, Võ hay đi ngược dòng, hỏi làm sao mà có “thế”.

Ôi thời thế! Báo chợ, chuyên thông tin về Kinh tế Thương mại, mà người ta hay nói trắng ra là báo... quảng cáo, chẳng những không tệ mà còn rất cần cho việc làm ăn buôn bán của người mình. Nhưng khi làng báo Việt ngữ hải ngoại có tời 99% báo... chợ, hẳn Võ đã cảm nhận được sự cô đơn và kinh hãi cho Lịch sử Báo chí Việt Nam? Nếu làm báo vì... tiền, Võ chỉ lo chạy quảng cáo giỏi, chẳng mấy chốc sẽ giàu. Nhưng Võ muốn làm báo vì... tình. Tình yêu đất nước. Ai mua? Khi mà 25 năm qua, phần đông người đọc quen “lượm” báo... chợ? Không tốn một xu. Võ muốn đi tiếp con đường Tiến sĩ Nguyễn An Ninh, học xong ở Pháp, về Sài gòn viết báo, làm báo và đứng bán báo “Tiếng Chuông Rè” (La Cloche Fêlé) năm 1924, ở Chợ Bến Thành? Võ muốn đi theo Nhà báo Việt ngữ đầu tiên ở nước ta, Trương Vĩnh Ký, tự Sỹ Tải, một học giả người Vĩnh Long, biết 26 ngoại ngữ và viết trên trăm cuốn sách, đã làm tờ tuần báo đầu tiên ở Nam Kỳ” và sau đó mới có tờ nhật báo đầu tiên, ở “Bắc Kỳ”: Tờ Trung Bắc Tân Văn, ra từ tháng 1 năm 1919.

Trước đó, tạp chí Trung Bắc Tân Văn, nơi mà bà Huỳnh Thị Bảo Hòa [1896-1982] viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở nước ta, bằng chữ Quốc ngữ, mang tên Tây Phương Mỹ Nhân in năm 1927. Hay bà Ðạm Phương [1881-1947], tức Công Tôn Nữ Ðồng Canh, tự Quý Lương, với tác phẩm Kim Tú Cầu mới là cuốn sách đầu đời của dòng tiểu thuyết Quốc Ngữ? Tôi biết Võ ốm o, tóc hoa râm cằn cỗi, nét đau khổ hiện ra cả trong ánh mắt cười, vì Võ nhớ tới thập niên 1930 mà bà Nguyễn Ðức Nhuận khi làm tờ Phụ Nữ Tân Văn, còn muốn: “Phấn son tô điểm sơn hà. Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.” Báo, trước hết là báo tin, thông tin, truyền thông, nhưng bên cạnh đó gồm những bài viết về quan điểm, lập trường, đường lối, hướng đi.

Nhật báo Ðại Dân tộc của Võ, trước năm 1975, có đường lối chống bất công xã hội. Theo Võ, công bằng xã hội, đầu tiên và cuối cùng vẫn là Tự do và Dân chủ, mà tiền đề của Tự do và Dân chủ lại là Nhân Quyền. Nên tờ Tiếng Gọi Dân Tộc, của Võ, ở Paris thập niên 1990, người đọc thì nhiều, người mua thì ít, bởi giữa một Paris “Kinh đô Ánh sáng”, nhưng rất tối tăm cho vận mệnh làng báo Việt ngữ ở đây. Tiếng Gọi Dân Tộc tắt tiếng. Dân tộc mình, ở Paris, phần đông giới giàu có, chỉ thích sách hoặc báo biếu.

Võ bỏ Pháp sang Mỹ. “Im hơi và lặng tiếng”. Khá lâu. Võ chưa có dịp kể với tôi về “diện bích cửu niên”, 9 năm nhìn vách, nhưng tôi biết những năm tháng này Võ buồn lắm. Chẳng vì “tuổi già thêm bệnh mới” mà buồn vì “bạn cũ lại ít đi”. Ít đi không vì nơi cư ngụ xa cách nhau. Ít đi không vì chết đi. Ít đi vì mất nhiều người đứng về phía Dân Tộc. Một dân tộc khốn cùng vì một nhóm người lập bè, kết đảng, chúng sinh ra từ sự bất công cũ, của phong kiến với thực dân, và củng cố thế lực bằng sự... bất công mới của cộng sản. Tất nhiên, Võ chống lại, mất nhiều bạn lắm. Võ ao ước nước ta, nước Ðại Việt, thì Dân Tộc ta, phải là Ðại Dân Tộc. Rồi sau thời mất nước, nước Việt Nam Cộng Hòa, Võ nghĩ gì, làm gì, nói và viết gì? Không! Với 11 năm tù dài đằng đẵng. Bạn tù ở Chí Hòa cũng chẳng thể biết Võ nghĩ gì. Võ không im lặng, vì sợ, để giữ cái Thân. Võ nuôi nấng, ấp ủ ngọn Lửa Trong Tim, giữ cái Tâm. Tạm thời im lặng để sau này thoát cũi, sổ lồng sẽ nói và viết nhiều hơn.

Nhà xuất bản Anh Em của tôi, tệ thật, cho tới giờ này vẫn chưa in nổi cho Võ một toàn tập những bài báo Võ đã viết. Xa gần viết về thân phận người Việt mình trong và sau thời chiến. Viết về kẻ sĩ Nam, Bắc Hà ở quê người. Viết về Ngày Quốc Hận 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước; viết về Ngày Quốc Hận 30 tháng 4 năm 1975, mà theo Võ “chúng làm mất đi cái hồn, là văn hiến, văn hóa của đất nước”.

Năm 1984, khi bị giam ở Gác 3, Phòng 6, Khu ED khám Chí Hòa, mỗi lần đám tù chúng tôi được xuống dưới sân để tắm. Vừa múc nước ở bể nước, tôi vừa nhìn vào chắn song song sắt một phòng giam đối diện với bể nước. Tôi tìm Võ. Ðôi khi Võ ra đứng bám song cửa, gương mặt như đanh lại sau bao đau khổ chồng chất. Lạ lùng thay, tôi vẫn bắt gặp nét bình thản, toát ra vẻ tự tin nơi gương mặt Võ. Võ, hãy nói cho tôi biết vì sao bạn lại vững vàng như vậy.

Khi ở tù, thời gian năm năm đầu, tôi gần như hóa điên. Nhất là hàng năm cứ đến ngày 30 tháng Tư. Người ở tù trong một đất nước ổn định, chỉ khổ vì mất Tự Do, “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”, tù ở đâu và thời nào chẳng khổ theo nghĩa trên. Nhưng tù dưới chế độ cộng sản, nhất là cộng sản Việt Nam, hừng hực lửa thù hận bởi họ “mang theo tình yêu giai cấp trong tim”. Giai cấp Ðấu tranh.

Nói một cách dễ hiểu: Khi một người cộng sản Ðông Ðức, bị người cộng hòa Tây Ðức cầm tù, sẽ không khổ bằng một người cộng hòa Tây Ðức bị người cộng sản Ðông Ðức giam giữ. Nhưng người cộng sản Ðông Ðức vẫn còn văn minh hơn người cộng sản Việt Nam. Vì sao ư? Khó mà cắt nghĩa được. Tựa hồ như quý bạn đọc nào chưa hề đau răng, khó mà cảm nhận được được sự nhức nhối, tới bủn rủn chân tay. Chất “lưu manh” của cộng sản Âu châu chỉ đáng xách dép cho cộng sản Á châu. Mười một năm, phần đời đẹp nhất trong đời Võ, tuổi vừa chín tới, bao việc lớn đang làm đành bỏ dở dang, cùng với những ước mơ cho mình và cho đất nước.

Tất cả phải cùng lúc ngưng lại.

Cả ánh sáng và không khí, theo nghĩa đen, cũng do người ban phúc, tác họa, thay Trời, quyết định. Người ta đóng cửa gió xà-lim lại, Võ sẽ ngộp thở trong tối cảnh tối tăm, bong bít. Nhưng không ai bít được Ánh Sáng của Chân Lý và Không khí của Tự do trong lòng Võ. Tôi nhớ tới một nhà báo Miền Nam:

Tiến sĩ Nguyễn An Ninh, tốt nghiệp đại học Sorbonne Pháp, có thể ra làm quan với Nam Triều nhà Nguyễn hoặc với Tây, hay mở công ty buôn bán làm giàu, hoặc đi dạy học. Ai có thể bắt ông đi tù Côn Sơn được nếu như ông không làm báo chống Tây? Trong “Mấy Lời Giã Biệt” khi báo Tiếng Chuông Rè bị đóng cửa ngày 19 tháng 5 năm 1924, nhà cách mạng Giải phóng Dân tộc thứ thiệt này đã viết: “Nếu tôi không còn sử dụng được nghề làm báo để giải phóng giống nòi tôi, thì lòng tin nơi tương lai dân tộc không vì thế mà suy giảm, hoạt động của tôi sẽ không hề bị tê liệt mảy may.”

Giờ thì tôi hiểu vì sao Võ sống, chết với việc “sử dụng được nghề làm báo để giải phóng giống nòi”. Giống nòi mà ngay lúc này đây, tại đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Ðông Dương; phần lớn con trai thì mơ ước đi làm cu-ly, dưới dạng “xuất khẩu lao động”; phần đông con gái ước mơ đi làm đĩ cho người nước ngoài, dưới dạng hôn nhân, sex tour; Võ buồn vì “thời của bọn con buôn”, chúng buôn thần, bán thánh; buôn xương, bán máu giống nòi; bán buôn cả những từ vốn đẹp đẽ và thiêng liêng, như: cách mạng, giải phóng, dân chủ, độc lập, tự do, hạnh phúc,...

Bà Nguyễn Ðức Nhuận, với Phụ Nữ Tân Văn, muốn “Làm cho rõ mặt đàn bà Việt Nam”, những người đàn bà như Bà Trưng, Bà Triệu... Những người đàn bà như Nguyễn Thị Kiêm, tức thi sĩ Manh Manh của phong trào Thơ Mới, theo tinh thần Khai phóng, Tự do và Nhân bản. Ông Nguyễn An Ninh, với Tiếng Chuông Rè, lại nhấn mạnh: “Vận mạng đất nước đang trong thời kỳ mà không một ai trong chúng ta có quyền thờ ơ trước những đau khổ của nòi giống, bất cứ ai muốn xứng danh là người An Nam, đều phải phấn đấu tới hơi thở cuối cùng, mang hết sức lực của mình làm tươi đẹp cho số phận dân tộc An Nam.” [Tiếng Chuông Rè, Sài Gòn, ngày 19 tháng 5 năm 1924.] Nhưng vì sao cả một thế hệ Nguyễn An Ninh và bao thế hệ sau đó, từng “phấn đấu tới hơi thở cuối cùng, mang hết sức lực của mình” mà ngày nay “số phận dân tộc An Nam” vẫn chưa “tươi đẹp”.

Tại sao? Thế hệ của Võ, trong đó có tôi, cho tới nay không thiếu người cũng “phấn đấu tới hơi thở cuối cùng, mang hết sức lực của mình” mà sao ước mơ: “Dân tộc Ðộc lập, Dân quyền Tự do và Dân sinh Hạnh Phúc” vẫn chưa thành hiện thực sau hơn trăm năm máu đổ, mất bao nhiêu máu các thiên tài, nhân tài, kể từ tiếng súng thần công của Pháp vang lên năm Kỷ Mùi 1859 ở Ðà Nẵng? Ðộc lập và Tự do chỉ là phương tiện cho một một cứu cánh Hạnh Phúc. Khi Dân tộc vẫn chưa Hạnh Phúc, Võ bắt đầu nghi ngờ về Tự do và Ðộc lập sau 1975? Ngay như đời Võ, chỉ mới 30 năm qua, kể từ ngày 30 tháng Tư năm 1975, sống dở, chết dở vì “nạn văn tự” báo chí, mà đã thấy đâu hạnh phúc cho dân tộc mình.

Người cộng sản Việt cũng treo đầu dê chủ nghĩa Tam Dân, nên mới có “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ðộc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc.” Và “Cộng hòa XHCN Việt Nam, Ðộc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc.” để bán thịt chó “bạo lực cách mạng, chuyên chính vô sản”? Hạnh phúc có thật không? Có! Chỉ cho đảng, đoàn cộng sản và những kẻ “ăn theo”. Dân tộc thì không! Sự thật là như thế. Hạnh phúc! Hạnh phúc! Hạnh phúc! Sao ngươi lại trở thành niềm khao khát, cháy bỏng của Dân Tộc Việt, một Ðại Dân Tộc ở phương Ðông? Chẳng có chuyện chi mà lại vô cớ. Nhân ngày 30 tháng Tư năm 2005, 30 năm, kể từ ngày 30 tháng năm 1975, thử nhìn lại “Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc,” một thứ vận mạng của đất nước, mà theo câu nói của chí sĩ Nguyễn An Ninh: “Vận mạng đất nước đang trong thời kỳ mà không một ai trong chúng ta có quyền thờ ơ trước những đau khổ của nòi giống.”

Ðấy là “thời kỳ” 1924, và bây giờ tạm gọi là “thời kỳ” 2004, 80 mươi năm sau, Võ thấy gì nơi nền độc lập của nước ta? Một thứ độc lập và thống nhất tựa hồ thời vua Gia Long, nhờ ngoại bang mà có thống nhất độc lập thì nền độc lập đó sẽ dẫn tới việc trăm năm lệ thuộc Pháp? Tôi gọi ông Nguyễn An Ninh là nhà chí sĩ, hơn là một nhà cách mạng, vì từ sau cuộc cách mạng 1789 ở Pháp và cách mạng Tháng Mười năm 1917 ở Nga, thì nền “độc lập” và “thống nhất” của Việt Nam không do “tự lập” mà có. Ông Nguyễn, cùng nhóm cộng sản đệ tứ Quốc tế, không nhờ vả Nga với Tàu, tới nỗi đệ tứ và cả chính ông cũng bị tiêu diệt.

Ðệ tam, của Hồ, nhờ có Stalin và Mao yểm trợ nên chẳng những tồn tại mà còn lớn mạnh. Nếu năm 1949 Mao không chiến thắng ở Trung Hoa lục địa, hẳn cộng sản Việt cũng chỉ như Mã cộng hoặc Thái cộng mà thôi, dần mòn bị diệt. Nhưng cộng sản Việt nhờ Nga với Tàu để tới nay nền độc lập đó đang chìm trong quỹ đạo đế quốc Trung Hoa. Bắc Kinh, Hồng Kông, Ðài Loan, Singapore... đều là Tàu cả. Nạn Bắc thuộc lần thứ hai, bằng chính trị, kinh tế và văn hóa đang gây nguy khốn cho vận mạng nước ta. Các tô giới kinh tế Trung Hoa, Nam Hàn, Nhật Bản, Pháp,... đang ra sức bóc lột Chủ nghĩa Stalin và Mao chỉ để bành trướng đế quốc Nga La Tư và đế quốc Trung Hoa. Xưa liệt cường xâu xé Trung Hoa, đời nhà Thanh như thế nào, nay cũng đang xâu xé Việt Nam như thế. Ngoài việc cắt đất dâng biển cho Tàu, cộng sản Việt còn bán từng phần đất nước cho nhiều công ty thương nghiệp của Bắc Kinh, Hồng Kông, Ðài Loan, Tân Gia Ba. Nghĩa là bán nước từng phần. Như da beo. Võ biết ngày nay không một quốc gia nào ’độc lập tuyệt đối,’ nhưng giữa độc lập và nô lệ, thời nào cũng vậy, phải khác nhau.

Nước ta đang trong vòng nô lệ nhiều thứ ngoại bang. Nên nhiều con dân của nó, từ 6 tuổi tới 20 tuổi, mới trở thành các nạn nhân của guồng máy “nô lệ tình dục”. Tôi biết Võ loay hoay với nền độc lập cho Việt Nam khởi từ định nghĩa đến cách thực hành. Muốn thế, Võ chỉ còn cách làm báo, nhưng báo ở hải ngoại tràn ngập quảng cáo. Tiền các nhà buôn quảng cáo đủ để điều hành, ấn loát tờ báo và nuôi sống người làm báo. Nhưng Võ không làm báo vì Cuộc Sống, mà vì Lẽ Sống?

Về Tự Do? Sau ngày 30 tháng Tư Năm 1975, chỉ ở mặt báo chí, Võ thấy nó thua cả thời Pháp thuộc. Chế độ kiểm duyệt báo chí, sách vở của thực dân dù hà khắc vẫn dễ chịu hơn chế độ cộng sản, nơi mà mọi tờ báo tư nhân đều bị đóng cửa. Tất cả các báo của nhà nước cộng sản đều là những tờ truyền đơn chính trị lớn, nhỏ. Ðại dân tộc chết, Võ đi tù, tòa soạn báo bị tịch thu. Võ trắng tay. Tôi nhớ mãi năm 1973, tại tòa soạn báo Ðại Dân Tộc ở đường Gia Long Sài Gòn, khi được hỏi cảm nghĩ về Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, Võ bảo: “Mỹ sẽ bỏ Sài gòn!” Tôi không tin. Nhưng Võ có lý. Biết trước, vậy mà sao Võ không chạy loạn sớm.

Lúc ấy, tôi nghi Võ thuộc “lực lượng thứ 3” với Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Kiều Mộng Thu... Cho tới nay, mọi chuyện ngày càng sáng tỏ, Võ chẳng phe phái nào hết, dù Nhóm Caravelle “Nam Kỳ Quốc” hay “Phủ Ðầu Rồng” Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ... Võ, một người lẽ ra dễ thân Tây, nhưng Võ chống cả Tây lẫn Mỹ. Võ không chống văn hóa Tây, Mỹ. Không chống tinh thần khoa học thực nghiệm của họ. Võ chỉ dị ứng với chính sách ngoại giao - kể cả thiếu vắng sự thông minh - của họ đối với nạn cộng sản tại Việt Nam. Với Võ, dẫu một vấn đề phức tạp nhất, cũng được cô đọng bằng thứ ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, đại để như: Khi báo chí không được tự do, có nghĩa là tiếng nói của người dân không được tôn trọng, thế là ngu dân, thế là nô lệ. Vâng, đúng, con người nô lệ khi báo chí mất tự do. Càng nô lệ hơn nữa khi đất nước không có một tờ báo nào của dân chúng.

Thời Tây, trong Nam, ngoài Bắc biết bao nhiêu báo chí tư nhân, do đó đất nước tạm thời bị nô lệ mà Tinh thần Dân tộc vẫn được Tự Do. Ngày nay, người mình làm chủ nước mình, tình trạng báo chí thảm thương quá đỗi. Ngay các báo của nhà nước cũng bị đàn áp. Bằng chứng: “Hội Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontiers) vừa phổ biến bản phúc trình thường niên, kiểm điểm tình hình chung về lãnh vực ngôn luận, thông tin trong năm 2002, với những lời lẽ bi quan. Trong đó họ vẫn nêu tên ông Nông Ðức Mạnh, tổng bí thư đảng CSVN, là một trong 42 “con ác thú (predator) giết báo chí” ác độc nhất ở trong số 156 nước được tổ chức này điều tra. RSF dành trọn một chương trong bản phúc trình để mô tả tình trạng báo chí tại Việt Nam như thế nào. Hệ thống báo đài trong nước hoàn toàn nằm trong sự thao túng của đảng CSVN. Tư nhân không được ra báo. Người nào muốn phổ biến tin tức, quan điểm trái với đường lối tuyên truyền bịp bợp của chế độ Hà Nội đều phải lén lút chuyển ra ngoại quốc qua Internet. Chính vì vậy, họ phải nhận chịu các biện pháp trả thù tàn ác của CSVN, nhẹ thì quản chế, canh giữ tại nhà, cắt điện thoại, Internet, bao vây kinh tế. Nặng thì bị tống giam không có bản án, hoặc nặng hơn nữa bị vu cáo tội “gián điệp” dù chẳng có gì có thể cấu thành tội trạng “gián điệp”. Trước đó, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (Committee for the Protection of Journalists) cũng đã lên tiếng tố cáo CSVN là nước vi phạm tự do thông tin rất trầm trọng trên thế giới. Tổ chức này xếp CSVN hạng thứ ba, sau có Iraq và Cuba, về mặt khủng bố, đàn áp giới cầm bút để khống chế hoàn toàn vấn đề thông tin trong nước.”

Nghị định 31/ CP còn cho phép công an được quyền bắt giam người trong 2 năm để điều tra, không cần xét xử. Chính là lưỡi gươm kề cổ cho ’ký giả nô lệ’ nào muốn viết tự do hay viết về tự do. Hô hào hay đòi hỏi Tự do Báo chí ở Việt Nam đầu thế kỷ 21, đồng nghĩa với việc làm đơn xin vào nhà thương điên hoặc ra nghĩa địa. Vậy mà đầu thế kỷ 20, cách nay trăm năm, làng báo đất Việt nở rộ những nhân tài báo chí. Thực dân quả có ngu hơn cộng sản.

Thực dân Pháp chỉ kiểm duyệt Tư tưởng Chính trị của người Việt. Cộng sản Việt kiểm duyệt cả tin này: “Ngày 10 tháng 10, đài BBC cho biết khi tờ VnExpress loan tin tức liên quan đến việc Hà Nội nhập về 78 chiếc Mercedes cực sang để sử dụng sau hội nghị ASEM, Thủ tướng Phan văn Khải đã không hài lòng và thậm chí còn muốn đóng cửa tờ báo, nhưng cuối cùng nhờ một số quan chức ngành văn hóa can thiệp nên chỉ dừng ở mức độ khiển trách mà thôi. Tuy nhiên không giới chức nào, kể cả ông Khải, cho biết là tờ VnExpress loan tin sai sự thật ở chỗ nào. Báo VnExpress chỉ có khác những tờ báo kia ở chỗ nói về cuộc “chạy đua sở hữu ô tô cao cấp phục vụ ASEM 5”, mà cuộc đua chưa bắt đầu, lại đã kết thúc. Lý do là toàn bộ số xe đã được đặt mua hết, kể cả ba chiếc “siêu xe” S600 giá 279 ngàn đô la một chiếc, và hai chiếc “siêu thể thao” S55 AMG giá 269 ngàn đô la một chiếc.

Ðài BBC cho biết là kèm với những tin tức đó, tờ VnExpress còn mở một diễn đàn cho độc giả nêu lên nhận xét của họ và có những ý kiến không làm giới lãnh đạo hài lòng. Chúng tôi xin đơn cử ý kiến của độc giả Văn Công Ngọc đăng trên VnExpress ngày 23 tháng Chín vừa qua. Bức thư có phần kết thúc rằng : “như vậy đâu còn kỷ cương phép nước nữa? Muốn đi xe xịn, xin mời, nhưng phải nộp thuế. Ðó là chưa kể người dân bình thường có khả năng mua những chiếc xe đó không? Hay chỉ giải quyết nội bộ cho một số người nhất định, quen biết nhất định? Có lẽ chính phủ bận quan tâm tới các vụ tham nhũng ở Bưu điện, Dầu khí, Ðiện lực rồi, còn cái vụ này xem ra quá nhỏ so với các vụ xảy ra ở các tổng công ty độc quyền của nhà nước”.

Ðộc giả này đoán nhầm, vì chính Thủ tướng Việt Nam đã quan tâm đến vụ này, nhưng thay vì đưa toàn bộ số xe ra đấu giá và bắt nộp thuế đúng mức, thì ông tổng biên tập tờ VnExpress bị mất chức. Ông Khải còn ra lệnh cho bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo công ty cổ phần Ðầu tư và Phát triển Công nghệ FTP, chủ quản báo điện tử VnExpress, phải kiểm điểm lãnh đạo và có kỷ luật thích đáng đối với các cá nhân khác của báo điện tử VnExpress có liên quan đến những điều mà ông gọi là “sai phạm” vừa kể. Sự can thiệp mạnh mẽ của Thủ tướng Phan văn Khải đã làm cho hầu hết mọi nhà báo khác phải có thái độ hết sức dè dặt, không ai dám hó hé điều gì. Khi chúng tôi tìm hiểu, phần lớn chỉ dám nói thoáng qua mà thôi”... các ông ấy chỉ bị một cái khuyết điểm gì đó nên bị khiển trách vậy mà. VnExpress đấy, thì tôi chỉ nghe như thế thôi...”

Hễ ai nói tới việc cộng sản ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp tài sản quốc gia, đều bị coi là “sai phạm”.

Giữa một “thời của quỷ” như vậy, Võ làm sao mà trở về Việt Nam để làm báo, nói lên Tiếng Gọi Dân Tộc được? Cho dù Võ nhớ quê hương tới cháy bỏng trong lòng. Làm báo, cho đúng nghĩa tờ báo, ở ngoài này Võ gặp trăm điều vây khốn. Tôi có thể nói thẳng ra rằng Võ, một trong những người tài hoa của làng báo Miền Nam. Nhưng làm báo theo kiểu “truyền thông là truyền thống”, của Võ, ở hải ngoại lúc này sẽ đầy gian nan, thử thách. Thời nước ta mở cửa đón luồng gió mới phương Tây, đầu thế kỷ 20, Ðông kinh Nghĩa thục đã có nhà giáo Nguyễn Quyền lên tiếng:

“Mở tân giới xoay nghề tân học

Ðón tân trào, dựng cuộc tân dân

Tân thư, tân báo, tân văn...”

Tôi nghĩ khi trông coi tờ KBC, có lẽ Võ phải nhìn lại cách đi, theo con đường Trung Ðạo của nhà Phật, nghĩa là tờ báo phải có bài hay và nên có quảng cáo trình bày sao cho đẹp. Các tờ báo lớn trên thế giới cũng phải đi theo lối trên. Tờ báo, như con người, cần phải sống trước đã, cùng lúc chuyên chở Lẽ Sống. Võ mong muốn KBC, tiếng nói chính thức của Tập thể Chiến sĩ VNHC tại hải ngoại, vì Việt Cộng, không phải Chuyện Tư của Võ. Nó, tâm huyết ấy, lộ ra Tấm Lòng của Võ về việc ”mở vòng tay lớn” giữa những con người bi tráng cùng một chí hướng. Tiếng nói của Kết Thân và Cảm Thông sẽ dẫn tới Ðoàn kết Thật sự, với sự kết đoàn hàng ngang, không phải thứ đoàn kết hàng dọc, theo lối đảng đoàn cộng sản. Võ cất tiếng nói rõ ràng trong sáng: ... Lập trường của tôi là phục vụ quốc gia dân tộc, mục tiêu tranh đấu của tôi là Tự do, Dân chủ, Nhân quyền và phát triển Việt Nam... Với Võ, cuộc chiến Việt Nam chưa tàn, còn tiếp và bừng dậy mạnh mẽ, không súng đạn, bằng bút mực; một cuộc chiến giữa Thiện và Ác, giữa Dân Tộc Việt với đảng cộng sản. Mọi sự, theo Võ, phải bắt đầu bằng Tấm lòng Chân thật. Biết bao đoàn thể lớn mạnh, mà nói dối như Vẹm, cũng đang chịu chung số phận như Vẹm. Mất lòng dân là mất hết. Họ vẫn là một Tập Thể. Nhưng không còn là Thực Thể Trong lòng Dân tộc nữa.

Võ đặt Tự Do lên hàng đầu và cuối cùng: Sự Phát Triển. Không có tự do, ngay nhân cách cũng chẳng còn, nói chi phát triển đất nước. Quyền làm người, nhân quyền, phải được bảo đảm, bảo hiểm bằng dân chủ. Thước đo quyền Làm Người là Hạnh phúc Con người. Về Hạnh phúc Dân tộc, từ gày 30 tháng Tư năm 1975 tới nay ở trong nước, điều làm Võ đau khổ nhất. Không vì Võ bị cầm tù. Nhà tan, cửa nát. Như đã nói, người tù miền Nam, dưới chế độ cộng sản hai lần đau khổ hơn, vì khổ thân trong tù đâu bằng khổ tâm khi không biết vợ con ngoài đời sống bằng gì. Mọi vốn liếng, kể cả sự quen biết xã hội, cũng bị tước đoạt? Người đọc sách như Võ, nghìn lần khổ hơn, khi suốt mấy năm trời không được đọc một trang. Người viết báo và làm báo như Võ, mười năm không được đọc một tờ báo tử tế. Trong xà-lim, chẳng biết Võ có như tôi, ngồi làm báo bằng trí tưởng tưởng; hình thành một tờ báo trong đầu với đủ các mục cần thiết, từ xã luận tới nhắn tin bạn đọc...?

Nên tôi hiểu vì sao Võ, nhờ bạn bè giúp đỡ, đón nhận tờ KBC để cúc cung phục vụ Việt Cộng, thay vì giữ riêng hòng “kiếm chác” qua khối lớn độc giả cựu quân nhân. Võ là như thế! Như thế là Võ. Tôi không thích cái lối mà phần đông thiên hạ thường mắc phải: Giết chết những người sống và làm sống lại những người chết. Viết về ai? Tôi muốn viết lúc người ta còn sống, để sai đúng gì người ta còn giúp mình sửa lại được. Ðó, lý do vì sao tôi viết bài này, với tinh thần tự nguyện, như với một số trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo khác vốn có Tấm Lòng với văn học và báo chí Việt Nam thân yêu. Tôi không ngại điều tiếng gì hết, nếu có, chỉ sợ lòng mình ’trẻ đeo hoa, già đeo tật’, mà cái tật lớn nhất là không dám ngợi khen những con người tốt ngay họ lúc sinh thời. Tất cả cũng chỉ như Võ, nhắm tới Hạnh phúc Dân tộc; hạnh phúc không phải là chỉ được ăn no mặc ấm hay ăn ngon mặc đẹp, nếu như con người mất hết tự do. Khác chi con vật được may mắn sống trong nhà giàu. Huống chi dân ta phần đông còn bữa đói, bữa no, thiếu ăn nghiêm trọng; con người không bằng con chó nhà giàu cộng sản. Hạnh phúc lớn lao lắm. Không chỉ tự do, dân chủ, mà còn cả hệ sinh thái, từ cánh đồng cỏ xanh non, đồi hoa, tiếng chim hót, dòng sông nước trong, và nhìn ngắm những món đồ cổ người xưa đã làm; để sống lại ngược dòng lịch sử, nơi ông cha đã bao đời hiển hách, khôn khéo.

Hạnh phúc với những ai như chúng tôi, cùng toàn dân, được Tự do Tư tưởng, Tự do Báo chí, để thông tin, học hỏi lẫn nhau những gì tốt đẹp từ tâm hồn đến thể chất con người. Trước hết là tránh được những mối Quốc Hận, Quốc Nhục không đáng xảy ra cho cả một Ðại Dân Tộc. Như dâng biển, biếu đất cho ngoại bang. Như nhiều phụ nữ Việt bị làm nhục trong các “cửa hàng bán người” trên khắp thế giới. Như trẻ em Việt, nam cũng như nữ, nhiều đứa mới lên 5, lên 6 đã phải đã phải giao hợp cùng với những thân xác bệnh hoạn, khổng lồ. Ai không lấy những điều trên làm nhục, tôi như Võ, giành lấy quyền được nghi ngờ Việt tính nơi họ. Như Võ đã nhận ra, xác Hồ là người Việt, nhưng hồn Hồ là con cháu của Stalin và Mao. Nên một người Mác xít, như Hồ vốn vô thần, mà lại ghi trong di chúc sẽ “đi gặp ông Mác, ông Lê”. Rõ. Thuyết linh hồn bất biến. Hồ, như đảng cộng sản Việt, không duy tâm, chẳng duy vật, tất cả chỉ là quái thai. Không cộng sản, không dân tộc. Nếu dân tộc, sao ngày nay dân tộc vẫn bị đau khổ; nếu cộng sản, sao bây giờ dân vô sản vẫn không hạnh phúc? Chỉ là quái thai. Bất thành nhân dạng. Nhất là nhân dạng và nhân cách Việt Nam. Viết ngàn pho sách cũng không tả hết cái tính quái thai của đảng cộng sản Việt. Thứ quái thai này được kết tinh bằng hai tố chất: Công quyền, tư lợi. Ba mươi năm qua, 1975-2005, Võ như đông đảo người trong, ngoài nước thoát chết, sống khổ tâm là chuyện đương nhiên. Con người, vốn bao gồm hai điều ác, thiện; nên phải nhờ tới đạo học, văn học nghệ thuật, nói chung là văn hóa, để chế ngự tính ác, căm thù, cho phần đức thiện, yêu thương nâng cao. Cộng sản cổ võ và nuôi dưỡng lòng căm thù; được thể: Bản năng sinh vật của con người trỗi dậy, thành ra “cá lớn nuốt cá bé”, “mạnh được yếu thua”, “Sự sống sung sướng của kẻ này là cái chết đau đớn của bao người khác”. Võ không chủ trương tàn sát nhân thân cộng sản, chỉ tiêu diệt tư tưởng quái thai cộng sản, nguồn gốc của mọi cái đại ác mà thôi.

Quái thai giờ đang biến dạng thành “Ðịnh hướng Xã hội Chủ nghĩa” với “Tư tưởng HCM”. Nó, quai thai lớn ấy, còn đẻ ra trăm ngàn quái thai nhỏ của khoảng 2 triệu rưỡi đảng viên; tính sơ sơ mỗi đảng viên có 5 người thân, cũng đã 12 triệu rưỡi kẻ cắp, kẻ trộm, kẻ cướp tài sản quốc gia.

Trước một khối đối tượng như thế, báo chí chỉ chuyên phô bày kiến thức kinh viện, lý thuyết của các tác giả tỏ ra thấu hiểu về chủ nghĩa cộng sản, tựa như “ném bùn sang ao”. Chẳng đi tới đâu hết. Quai thai vẫn sống. Bằng chính cái nhìn “duy vật sử quan” của học thuyết Mác, kiểu “gậy ông đập lưng ông”, ngày 30 tháng Tư năm nay, 2005, tôi thử nhìn lại lịch sử cận đại chống Pháp từ đầu thế kỷ 20 để thấy đại cương do đâu mà quái thai ra đời và lớn mạnh tới ngày nay:

1- Ý chí bất khuất cộng với lòng căm thù thực dân Pháp , nhiều tổ chức tựa như các sứ quân tự nổi dậy. Trong đó, có Việt Minh cộng sản thuộc đệ tam quốc tế, theo Stalin.

2- Không một “sứ quân” nào nhìn ra bản chất cộng sản của Việt Minh. Và cũng không một sứ quân nào được giáo dục về kinh nghiệm cướp chính quyền như cộng sản Việt phe đệ tam:

Dùng nông dân nghèo, tuổi trẻ làm nòng cốt, cho việc độc đảng cướp chính quyền. Càng không biết dùng rừng núi để bao vây đồng bằng, dùng nông thôn bao vây thành thị.

3- Không một sứ quân nào (tức các đảng phái Quốc gia Dân tộc) dám dùng phương thức “cứu cánh bện minh cho phương tiện” như cộng sản đệ tam.

4- Không một sứ quân nào, trừ Việt Minh, chủ trương “liên hiệp, hòa hợp hòa giải với các lượng để tiêu diệt mọi lực lượng.” Hồ còn tiêu diệt cả những nhà ái quốc, những đồng chí để Hồ chiếm địa vị độc tôn trong Phong trào Ðông phương cộng sản.

5- Không một sứ quân nào lưu manh, thâm độc và tàn bạo như cộng sản Việt đệ tam.

Ba mươi năm qua, 1975-2005, nhìn lại vì sao có ngày 30 tháng Tư, ngày chiến thắng của đảng cộng sản, đồng thời là ngày Quốc Hận của dân tộc Việt:

1- Việt Nam Cộng Hòa không ký một hiệp ước kiểu Mỹ bảo vệ an ninh cho Nam triều Tiên hay Ðài Loan. Ông Ngô Ðình Nhu, lý thuyết gia của nền đệ nhất Cộng Hòa chỉ lo xây lâu đài trên cát. Lâu đài đẹp và uy nghi nhưng không có nền móng là Hiệp ước Tương trợ An ninh. Nên Quốc Hội Mỹ, năm 1975, cắt viện trợ thì ngày 30 tháng Tư 1975 phải xảy ra cho Miền Nam dù Miền Nam có chính nghĩa. Nhưng tôi biết ơn ông Nhu về mô hình “Cấu trúc Quốc gia” đầu tiên ở Việt Nam.

2- Tính chất của quân đội viễn chinh, dù xâm lăng hay đồng minh, là phải đánh mạnh, rút mau. Nửa triệu quân Mỹ và các nước khác đã bị vũ khí “thời gian” làm vô hiệu hóa khả năng thắng trận.

3- Nếu Mỹ, “chủ nghĩa thực dân mới”, thì Tàu và Nga là “chủ nghĩa siêu thực dân”. Nên các phong trào phản chiến trên thế giới chỉ chống Mỹ, không chống Nga và Tàu. Vì Nga, Tàu chỉ viện trợ “học thuyết và súng đạn”, sau đó thì giấu mặt. Mỹ còn chường mặt ra tại Hội Nghị Paris.

4- Việt Nam Cộng Hòa không đề cao tình báo, phản gián, đặc biệt là “tình báo nhân dân”. Tình báo cộng sản còn chui vào được cả Dinh Ðộc Lập. Mọi ngành, các cấp đều có cộng sản nằm vùng.

5- Nếu Ðông dương được ví như miếng bánh, thì ba phần (Bắc Việt, lào, Cao Miên) đã thuộc hay thân cộng sản. Còn lại chiếc bánh, thời đệ nhị VNCH, đã ruỗng nát vì “tình báo chiến lược” C.S.

6- VNCH thuộc “cơ chế” mở, không đóng như Bắc Việt; báo chí quốc tế đổ xô tới Sài Gòn, tha hồ viết bài, chiếu ống kính vào những góc cạnh thuận lợi cho phong trào phản chiến ở Hoa Thịnh Ðốn.

7- Về binh thư, VNCH chỉ tự vệ, trong khi tấn công qua bên kia vĩ tuyến 17 mới là cách phòng thủ hay nhất cho VNCH. Ðể cho địch biến đất nước thành bãi chiến trường nên VNCH luôn luôn ở thế bất lợi.

8- Nền văn học nghệ thuật của VNH, phần lớn chuyên chở tính lãng mạn, phản chiến. Không phải là một nền văn nghệ thời chiến.

9- Lính Mỹ chỉ được huấn luyện về kỹ thuật quân sự. Họ không biết gì về Chiến tranh Chính trị. Nhiều việc làm của họ gây bất mãn cả cho chính những người chống Cộng.

10- VNCH quá tôn trọng cả các “tu sĩ cộng sản”. Lực lượng “nội tuyến” này cực kỳ nguy hiểm ngang với nạn tham nhũng, mua quan, bán chức, lính ma.

11- Chính sách hộ khẩu (nắm nơi ở) và tem phiếu lương thực, thực phẩm (nắm miếng ăn) cùng chế độ công an trị (quản lý chặt chẽ) giúp chính quyền cộng sản mạnh hơn chính quyền cộng hòa.

12- Tư nhân ở miền Nam được ra báo riêng. Nhiều tờ của cộng sản hoặc thân cộng. Như hiện nay, sách báo cộng sản được ở hải ngoại. Còn trong nước toàn báo của đảng cộng sản.

Cách đây 80 năm mà tiến sĩ Nguyễn An Ninh còn thấy ra vai trò quan trọng của truyền thông, “sử dụng được nghề làm báo”, và như nhiều trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo: Võ cũng thấy điều đó. Thấy bằng tuổi trẻ và nước mắt một thời sau 30 tháng 4 1975. Gần đây nhất, Võ tham dự tờ “báo nói”, tức đài RFI ban tiếng Việt ở Pháp, những 6 năm; rồi Võ cũng phải rút lui vì các bài viết của mình, nêu cao vấn đề tự do, dân chủ cho Việt Nam. Hà Nội phản đối Paris. Võ đi. Qua Mỹ để nay lại làm tờ “báo in” KBC. Khu Bưu Chính, như một biểu huy của Quân đội VNCH. Như trường Bộ Binh Thủ Ðức, nơi Võ theo học khóa 26, KBC 4100. Võ còn nhớ không, khẩu garant ở Ðại đội 3, Tiểu đoàn 1, KBC 4100 nặng và dài quá. Khóa 26, giữa mùa xuân mậu Thân 1968, chỉ là sinh viên sĩ quan nhưng chúng ta cũng chiến đấu bảo vệ trường và thành phố Chợ lớn, Gia Ðịnh. Ngày nay chúng ta vẫn chiến đấu. Chiến đấu quyết liệt, thật sự bằng báo chí và các tác phẩm văn học. Võ, như dân tộc mình, thấy trước cái sai của đảng cộng sản, điều mà chính Tổng bí thư đảng, cũng như cựu thủ tướng cộng sản phải sau 30 năm mới hé lộ đôi điều sai lầm của cái đảng ấy. Và, Võ tin đi, rất có thể 30 năm nữa, cộng sản mới thú nhận cái sai lầm của ngày hôm nay.

Không, tờ KBC cùng với toàn dân đâu cho phép đảng cộng sản tàn phá con người và đất nước dù chỉ thêm 3 năm nữa. Việc thành hay không, còn nhờ vào sự tiếp tay của Tập thể chiến Sĩ, mà KBC là nhịp cầu cảm thông, nơi trân trọng Sự Thật: Người chiến sĩ VNCH là ân nhân của đám đông. Bởi Bắc Hàn, Trung cộng cũng đỏ rực cộng sản, mà dân chúng nếu có dong thuyền ra biển, thế giới cũng không đón nhận. Chỉ riêng Việt Nam, mới có chuyện người tỵ nạn cộng sản được bao dung. Nên, tôi trộm nghĩ: KBC không là tờ báo của “đám tàn quân”, mà KBC là tờ báo của Tâm Linh, nơi tưởng niệm những vị Anh hùng, Anh Thư đã vì Nước mà bỏ Mình; tờ báo của Tâm cảm, nơi gặp gỡ của những ai một đời chiến đấu, cách này hay cách khác, cho một Việt Nam thật sự “Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc.” KBC, tờ báo, tiếng nói Tâm hồn Việt Nam, một mặt giữ vững truyền thống cao đẹp; mặt khác, anh chị em quây quần lại, để dần dà bàn giao cho thế hệ Trẻ Việt Nam, con em các chiến sĩ, về Ý thức Công dân đánh giặc ngoài cũng giỏi mà trừ thù trong cũng hay.

Giặc ngoài ngày nay xâm lăng nước ta, bằng văn hóa, bằng kinh tế; thù trong của nước ta ngày nay là bọn “ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp” sức lực và của cải của nhân dân. Nên nhà văn, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh từng nói: “Cuộc chiến chưa tàn. Chúng ta chỉ lùi một bước, nhưng rồi sẽ chỉnh quân để hùng dũng tiến lên.” Quân? Không nhất thiết phải cầm súng. Mà là những người lính từ “ý nghĩ, lời nói, việc làm” mang Tinh thần Chiến đấu, không vì đồng minh hay đồng chí nào hết, tất cả chỉ vì: Ðồng Bào. Chúng ta sẽ thắng. Ðảng cộng sản ngày nay chỉ còn những... đồng tiền. Ðồng Bào của chúng ta phải được Hạnh Phúc. Nếu tôi nhớ không lầm, Raymond Cartier, tác giả bộ sách “La seconde guerre mondiale, Thế chiến thứ 2, 1939-1945”, cũng là nhà báo của tờ Paris Match đã nhận xét: “Cộng sản sinh ra từ bất công, trưởng thành trong đấu tranh và chết đi trong sự ngu dốt.” Với võ, có thể giản dị hơn, như : ”Cộng sản ra đời từ sự bất công của thực dân và sẽ chết đi do sự bất công của chính nó.” Vì chính người cộng sản Việt từng rêu rao: Ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Ở Việt Nam hiện đang có sự bất công. Bất công lớn! Tập thể Chiến sĩ, theo Võ, chớ để bọn lưu manh cộng sản lung lạc bằng những ve vuốt, như ’Phục hồi Nghĩa trang Quân đội’. Chỉ là thế giới ảo. Không gian Nghĩa trang Quân đội xưa: Giờ còn bao nhiêu mộ phần tử sĩ Quân lực VNCH? Phục hồi ư? Cộng sản có cho dựng lại tượng người lính VNCH, của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu? Cổng vào có được gắn bảng ’Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hòa’ và sau cùng: Trong nghĩa trang có được treo Cờ Vàng, Ba Sọc Ðỏ? Cảm ơn Võ Long Triều.

Nguyễn Hữu Nhật