| Báo chí và Võ Long Triều
Nguoi Viet - Sunday, May 08, 2005 |
|
Tùy bút Nguyễn Hữu Nhật Lẽ ra tôi phải dùng tiếng “ông”
hay “anh” để nói về Võ Long Triều, nhưng
về mặt nào đó kỹ sư họ Võ là người
bạn cùng-một-nghiệp với tôi, nghiệp
“viết báo và làm báo”, nghiệp được
hiểu theo nghĩa của chữ Karma; nên trong tùy bút văn
nghệ này, tôi muốn dùng tiếng “Võ” để nói
về văn-tinh, văn-báo, của “Long Triều”, trước
và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đầy những nỗi riêng
báo chí và tình chung đất nước của ổng,
của ảnh từ thời trai trẻ nơi quê nhà, cho
tới nay ở quê người tuổi đã chớm già.
Song tâm hồn của Võ mà tôi biết một cách chắc
chắn rằng: Võ chỉ già dặn, không già nua, trên
đường nối tiếp lịch sử báo chí
Việt Nam, 140 năm rồi, kể từ ngày 15 tháng 4 năm
1865, tờ Gia Ðịnh Báo ra đời, bằng chữ
Quốc Ngữ, khổ 32cm x 25 cm. Văn chính luận
của Võ, qua tờ Ðại Dân Tộc trước năm
1975 ở Sài Gòn và Tiếng Gọi Dân Tộc ở Paris
sau năm 1975, ngắn, gọn và bén. Tôi không nói tới
cảnh nhà của Võ, một thanh niên miền Nam có
học thức, dễ trở thành “công tử”, sống
một đời ăn chơi, nhàn nhã và yên ổn; tôi
thích kể vì sao Võ “làm chính trị” và “làm báo” làm
chi cho khổ một đời? Khổ tâm. Làm chính
trị, thì Võ đối lập, từ bỏ cả
chức bộ trưởng; làm báo, Võ trân trọng
những cây bút tầm cỡ như Vương Hữu
Bột tức nhà thơ Ðỗ Quý Toàn và chấp nhận
được cả “Người Nói Thật”, là
kẻ đang viết tùy bút này. Tháng 2 năm nay, mùa Xuân
ở Thung Lũng Hoa Vàng San José, Bắc Cali, gặp lại
Võ, tôi muốn bắt tay thật chặt và bày tỏ
lời cảm ơn Võ về cái tinh thần làm báo
của Võ suốt gần nửa thế kỷ. Võ lại
đang loay hoay với một tờ báo của Tập
thể Chiến sĩ VNCH. Tôi nghĩ, nhà văn giáo sư
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh “có mắt xanh”, đã nhìn ra
Võ. Võ không phải là người làm báo... chợ. Những Gia Ðịnh báo, Phụ Nữ Tân
Văn, Ðông Dương, Nam Phong tạp chí cũng như
Phong Hóa, Ngày Nay... và Ðại Dân Tộc là báo... bán. Bán
rất chạy. Nhưng tôi biết, báo của Tập
thể Chiến sĩ, rồi ra, sẽ không là báo
chợ... Chiến sĩ không buôn với bán gì cả. Võ làm
báo không lương. Thế, có nghề nào như vậy
không, chẳng là nghiệp thì là gì? Dường như,
“thời” nào cũng vậy, Võ hay đi ngược dòng,
hỏi làm sao mà có “thế”. Ôi thời thế! Báo chợ, chuyên thông
tin về Kinh tế Thương mại, mà người ta
hay nói trắng ra là báo... quảng cáo, chẳng những không
tệ mà còn rất cần cho việc làm ăn buôn bán
của người mình. Nhưng khi làng báo Việt ngữ
hải ngoại có tời 99% báo... chợ, hẳn Võ đã
cảm nhận được sự cô đơn và kinh hãi
cho Lịch sử Báo chí Việt Nam? Nếu làm báo vì...
tiền, Võ chỉ lo chạy quảng cáo giỏi, chẳng
mấy chốc sẽ giàu. Nhưng Võ muốn làm báo vì...
tình. Tình yêu đất nước. Ai mua? Khi mà 25 năm
qua, phần đông người đọc quen “lượm”
báo... chợ? Không tốn một xu. Võ muốn đi
tiếp con đường Tiến sĩ Nguyễn An Ninh,
học xong ở Pháp, về Sài gòn viết báo, làm báo và
đứng bán báo “Tiếng Chuông Rè” (La Cloche Fêlé) năm
1924, ở Chợ Bến Thành? Võ muốn đi theo Nhà báo
Việt ngữ đầu tiên ở nước ta, Trương
Vĩnh Ký, tự Sỹ Tải, một học giả người
Vĩnh Long, biết 26 ngoại ngữ và viết trên trăm
cuốn sách, đã làm tờ tuần báo đầu tiên
ở Nam Kỳ” và sau đó mới có tờ nhật báo
đầu tiên, ở “Bắc Kỳ”: Tờ Trung Bắc
Tân Văn, ra từ tháng 1 năm 1919. Trước đó, tạp chí Trung
Bắc Tân Văn, nơi mà bà Huỳnh Thị Bảo Hòa
[1896-1982] viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên
ở nước ta, bằng chữ Quốc ngữ, mang tên
Tây Phương Mỹ Nhân in năm 1927. Hay bà Ðạm Phương
[1881-1947], tức Công Tôn Nữ Ðồng Canh, tự Quý Lương,
với tác phẩm Kim Tú Cầu mới là cuốn sách
đầu đời của dòng tiểu thuyết Quốc
Ngữ? Tôi biết Võ ốm o, tóc hoa râm cằn cỗi, nét
đau khổ hiện ra cả trong ánh mắt cười,
vì Võ nhớ tới thập niên 1930 mà bà Nguyễn Ðức
Nhuận khi làm tờ Phụ Nữ Tân Văn, còn muốn:
“Phấn son tô điểm sơn hà. Làm cho rõ mặt
đàn bà nước Nam.” Báo, trước hết là báo
tin, thông tin, truyền thông, nhưng bên cạnh đó
gồm những bài viết về quan điểm, lập
trường, đường lối, hướng đi. Nhật báo Ðại Dân tộc của Võ,
trước năm 1975, có đường lối chống
bất công xã hội. Theo Võ, công bằng xã hội, đầu
tiên và cuối cùng vẫn là Tự do và Dân chủ, mà
tiền đề của Tự do và Dân chủ lại là
Nhân Quyền. Nên tờ Tiếng Gọi Dân Tộc, của
Võ, ở Paris thập niên 1990, người đọc thì
nhiều, người mua thì ít, bởi giữa một Paris
“Kinh đô Ánh sáng”, nhưng rất tối tăm cho
vận mệnh làng báo Việt ngữ ở đây.
Tiếng Gọi Dân Tộc tắt tiếng. Dân tộc mình,
ở Paris, phần đông giới giàu có, chỉ thích sách
hoặc báo biếu. Võ bỏ Pháp sang Mỹ. “Im hơi và
lặng tiếng”. Khá lâu. Võ chưa có dịp kể
với tôi về “diện bích cửu niên”, 9 năm nhìn
vách, nhưng tôi biết những năm tháng này Võ
buồn lắm. Chẳng vì “tuổi già thêm bệnh
mới” mà buồn vì “bạn cũ lại ít đi”.
Ít đi không vì nơi cư ngụ xa cách nhau. Ít đi không
vì chết đi. Ít đi vì mất nhiều người
đứng về phía Dân Tộc. Một dân tộc
khốn cùng vì một nhóm người lập bè, kết
đảng, chúng sinh ra từ sự bất công cũ,
của phong kiến với thực dân, và củng cố
thế lực bằng sự... bất công mới của
cộng sản. Tất nhiên, Võ chống lại, mất
nhiều bạn lắm. Võ ao ước nước ta, nước
Ðại Việt, thì Dân Tộc ta, phải là Ðại Dân
Tộc. Rồi sau thời mất nước, nước
Việt Nam Cộng Hòa, Võ nghĩ gì, làm gì, nói và viết
gì? Không! Với 11 năm tù dài đằng đẵng.
Bạn tù ở Chí Hòa cũng chẳng thể biết Võ
nghĩ gì. Võ không im lặng, vì sợ, để giữ cái
Thân. Võ nuôi nấng, ấp ủ ngọn Lửa Trong Tim,
giữ cái Tâm. Tạm thời im lặng để sau này
thoát cũi, sổ lồng sẽ nói và viết nhiều hơn. Nhà xuất bản Anh Em của tôi,
tệ thật, cho tới giờ này vẫn chưa in
nổi cho Võ một toàn tập những bài báo Võ đã
viết. Xa gần viết về thân phận người
Việt mình trong và sau thời chiến. Viết về
kẻ sĩ Nam, Bắc Hà ở quê người. Viết
về Ngày Quốc Hận 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi
đất nước; viết về Ngày Quốc Hận
30 tháng 4 năm 1975, mà theo Võ “chúng làm mất đi cái
hồn, là văn hiến, văn hóa của đất nước”. Năm 1984, khi bị giam ở Gác 3, Phòng
6, Khu ED khám Chí Hòa, mỗi lần đám tù chúng tôi
được xuống dưới sân để tắm.
Vừa múc nước ở bể nước, tôi vừa
nhìn vào chắn song song sắt một phòng giam đối
diện với bể nước. Tôi tìm Võ. Ðôi khi Võ ra
đứng bám song cửa, gương mặt như đanh
lại sau bao đau khổ chồng chất. Lạ lùng
thay, tôi vẫn bắt gặp nét bình thản, toát ra
vẻ tự tin nơi gương mặt Võ. Võ, hãy nói cho
tôi biết vì sao bạn lại vững vàng như vậy. Khi ở tù, thời gian năm năm
đầu, tôi gần như hóa điên. Nhất là hàng năm
cứ đến ngày 30 tháng Tư. Người ở tù
trong một đất nước ổn định,
chỉ khổ vì mất Tự Do, “nhất nhật
tại tù, thiên thu tại ngoại”, tù ở đâu và
thời nào chẳng khổ theo nghĩa trên. Nhưng tù dưới
chế độ cộng sản, nhất là cộng
sản Việt Nam, hừng hực lửa thù hận
bởi họ “mang theo tình yêu giai cấp trong tim”. Giai
cấp Ðấu tranh. Nói một cách dễ hiểu: Khi một
người cộng sản Ðông Ðức, bị người
cộng hòa Tây Ðức cầm tù, sẽ không khổ
bằng một người cộng hòa Tây Ðức bị
người cộng sản Ðông Ðức giam giữ. Nhưng
người cộng sản Ðông Ðức vẫn còn văn
minh hơn người cộng sản Việt Nam. Vì sao
ư? Khó mà cắt nghĩa được. Tựa hồ
như quý bạn đọc nào chưa hề đau răng,
khó mà cảm nhận được được sự
nhức nhối, tới bủn rủn chân tay. Chất “lưu
manh” của cộng sản Âu châu chỉ đáng xách dép
cho cộng sản Á châu. Mười một năm,
phần đời đẹp nhất trong đời Võ,
tuổi vừa chín tới, bao việc lớn đang làm
đành bỏ dở dang, cùng với những ước mơ
cho mình và cho đất nước. Tất cả phải cùng lúc ngưng
lại. Cả ánh sáng và không khí, theo nghĩa
đen, cũng do người ban phúc, tác họa, thay
Trời, quyết định. Người ta đóng
cửa gió xà-lim lại, Võ sẽ ngộp thở trong
tối cảnh tối tăm, bong bít. Nhưng không ai bít
được Ánh Sáng của Chân Lý và Không khí của
Tự do trong lòng Võ. Tôi nhớ tới một nhà báo
Miền Nam: Tiến sĩ Nguyễn An Ninh, tốt
nghiệp đại học Sorbonne Pháp, có thể ra làm quan
với Nam Triều nhà Nguyễn hoặc với Tây, hay
mở công ty buôn bán làm giàu, hoặc đi dạy học.
Ai có thể bắt ông đi tù Côn Sơn được
nếu như ông không làm báo chống Tây? Trong “Mấy
Lời Giã Biệt” khi báo Tiếng Chuông Rè bị đóng
cửa ngày 19 tháng 5 năm 1924, nhà cách mạng Giải phóng
Dân tộc thứ thiệt này đã viết: “Nếu tôi
không còn sử dụng được nghề làm báo để
giải phóng giống nòi tôi, thì lòng tin nơi tương
lai dân tộc không vì thế mà suy giảm, hoạt động
của tôi sẽ không hề bị tê liệt mảy
may.” Giờ thì tôi hiểu vì sao Võ sống,
chết với việc “sử dụng được
nghề làm báo để giải phóng giống nòi”.
Giống nòi mà ngay lúc này đây, tại đồng
bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Ðông Dương;
phần lớn con trai thì mơ ước đi làm cu-ly, dưới
dạng “xuất khẩu lao động”; phần đông
con gái ước mơ đi làm đĩ cho người nước
ngoài, dưới dạng hôn nhân, sex tour; Võ buồn vì
“thời của bọn con buôn”, chúng buôn thần, bán thánh;
buôn xương, bán máu giống nòi; bán buôn cả
những từ vốn đẹp đẽ và thiêng liêng,
như: cách mạng, giải phóng, dân chủ, độc
lập, tự do, hạnh phúc,... Bà Nguyễn Ðức Nhuận, với
Phụ Nữ Tân Văn, muốn “Làm cho rõ mặt đàn
bà Việt Nam”, những người đàn bà như Bà
Trưng, Bà Triệu... Những người đàn bà như
Nguyễn Thị Kiêm, tức thi sĩ Manh Manh của phong trào
Thơ Mới, theo tinh thần Khai phóng, Tự do và Nhân
bản. Ông Nguyễn An Ninh, với Tiếng Chuông Rè,
lại nhấn mạnh: “Vận mạng đất nước
đang trong thời kỳ mà không một ai trong chúng ta có
quyền thờ ơ trước những đau khổ
của nòi giống, bất cứ ai muốn xứng danh là
người An Nam, đều phải phấn đấu
tới hơi thở cuối cùng, mang hết sức
lực của mình làm tươi đẹp cho số
phận dân tộc An Nam.” [Tiếng Chuông Rè, Sài Gòn, ngày
19 tháng 5 năm 1924.] Nhưng vì sao cả một thế
hệ Nguyễn An Ninh và bao thế hệ sau đó,
từng “phấn đấu tới hơi thở cuối
cùng, mang hết sức lực của mình” mà ngày nay
“số phận dân tộc An Nam” vẫn chưa “tươi
đẹp”. Tại sao? Thế hệ của Võ, trong
đó có tôi, cho tới nay không thiếu người cũng
“phấn đấu tới hơi thở cuối cùng, mang
hết sức lực của mình” mà sao ước mơ:
“Dân tộc Ðộc lập, Dân quyền Tự do và Dân
sinh Hạnh Phúc” vẫn chưa thành hiện thực sau hơn
trăm năm máu đổ, mất bao nhiêu máu các thiên tài,
nhân tài, kể từ tiếng súng thần công của Pháp
vang lên năm Kỷ Mùi 1859 ở Ðà Nẵng? Ðộc
lập và Tự do chỉ là phương tiện cho
một một cứu cánh Hạnh Phúc. Khi Dân tộc
vẫn chưa Hạnh Phúc, Võ bắt đầu nghi
ngờ về Tự do và Ðộc lập sau 1975? Ngay như
đời Võ, chỉ mới 30 năm qua, kể từ ngày
30 tháng Tư năm 1975, sống dở, chết dở vì
“nạn văn tự” báo chí, mà đã thấy đâu
hạnh phúc cho dân tộc mình. Người cộng sản Việt cũng
treo đầu dê chủ nghĩa Tam Dân, nên mới có
“Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ðộc Lập -
Tự Do - Hạnh Phúc.” Và “Cộng hòa XHCN Việt Nam,
Ðộc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc.” để bán
thịt chó “bạo lực cách mạng, chuyên chính vô
sản”? Hạnh phúc có thật không? Có! Chỉ cho đảng,
đoàn cộng sản và những kẻ “ăn theo”. Dân
tộc thì không! Sự thật là như thế. Hạnh phúc!
Hạnh phúc! Hạnh phúc! Sao ngươi lại trở thành
niềm khao khát, cháy bỏng của Dân Tộc Việt,
một Ðại Dân Tộc ở phương Ðông? Chẳng
có chuyện chi mà lại vô cớ. Nhân ngày 30 tháng Tư năm
2005, 30 năm, kể từ ngày 30 tháng năm 1975, thử nhìn
lại “Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc,” một
thứ vận mạng của đất nước, mà
theo câu nói của chí sĩ Nguyễn An Ninh: “Vận
mạng đất nước đang trong thời kỳ mà
không một ai trong chúng ta có quyền thờ ơ trước
những đau khổ của nòi giống.” Ðấy là “thời kỳ” 1924, và bây
giờ tạm gọi là “thời kỳ” 2004, 80 mươi
năm sau, Võ thấy gì nơi nền độc lập
của nước ta? Một thứ độc lập và
thống nhất tựa hồ thời vua Gia Long, nhờ
ngoại bang mà có thống nhất độc lập thì
nền độc lập đó sẽ dẫn tới
việc trăm năm lệ thuộc Pháp? Tôi gọi ông
Nguyễn An Ninh là nhà chí sĩ, hơn là một nhà cách
mạng, vì từ sau cuộc cách mạng 1789 ở Pháp và
cách mạng Tháng Mười năm 1917 ở Nga, thì
nền “độc lập” và “thống nhất”
của Việt Nam không do “tự lập” mà có. Ông
Nguyễn, cùng nhóm cộng sản đệ tứ Quốc
tế, không nhờ vả Nga với Tàu, tới nỗi
đệ tứ và cả chính ông cũng bị tiêu
diệt. Ðệ tam, của Hồ, nhờ có Stalin
và Mao yểm trợ nên chẳng những tồn tại mà
còn lớn mạnh. Nếu năm 1949 Mao không chiến
thắng ở Trung Hoa lục địa, hẳn cộng
sản Việt cũng chỉ như Mã cộng hoặc Thái
cộng mà thôi, dần mòn bị diệt. Nhưng cộng
sản Việt nhờ Nga với Tàu để tới nay
nền độc lập đó đang chìm trong quỹ
đạo đế quốc Trung Hoa. Bắc Kinh, Hồng Kông,
Ðài Loan, Singapore... đều là Tàu cả. Nạn Bắc
thuộc lần thứ hai, bằng chính trị, kinh tế
và văn hóa đang gây nguy khốn cho vận mạng nước
ta. Các tô giới kinh tế Trung Hoa, Nam Hàn, Nhật Bản,
Pháp,... đang ra sức bóc lột Chủ nghĩa Stalin và
Mao chỉ để bành trướng đế quốc Nga
La Tư và đế quốc Trung Hoa. Xưa liệt cường
xâu xé Trung Hoa, đời nhà Thanh như thế nào, nay cũng
đang xâu xé Việt Nam như thế. Ngoài việc
cắt đất dâng biển cho Tàu, cộng sản
Việt còn bán từng phần đất nước cho
nhiều công ty thương nghiệp của Bắc Kinh,
Hồng Kông, Ðài Loan, Tân Gia Ba. Nghĩa là bán nước
từng phần. Như da beo. Võ biết ngày nay không
một quốc gia nào ’độc lập tuyệt đối,’
nhưng giữa độc lập và nô lệ, thời nào
cũng vậy, phải khác nhau. Nước ta đang trong vòng nô lệ
nhiều thứ ngoại bang. Nên nhiều con dân của nó,
từ 6 tuổi tới 20 tuổi, mới trở thành các
nạn nhân của guồng máy “nô lệ tình dục”. Tôi
biết Võ loay hoay với nền độc lập cho
Việt Nam khởi từ định nghĩa đến cách
thực hành. Muốn thế, Võ chỉ còn cách làm báo, nhưng
báo ở hải ngoại tràn ngập quảng cáo. Tiền
các nhà buôn quảng cáo đủ để điều hành,
ấn loát tờ báo và nuôi sống người làm báo. Nhưng
Võ không làm báo vì Cuộc Sống, mà vì Lẽ Sống? Về Tự Do? Sau ngày 30 tháng Tư Năm
1975, chỉ ở mặt báo chí, Võ thấy nó thua cả
thời Pháp thuộc. Chế độ kiểm duyệt báo
chí, sách vở của thực dân dù hà khắc vẫn
dễ chịu hơn chế độ cộng sản, nơi
mà mọi tờ báo tư nhân đều bị đóng
cửa. Tất cả các báo của nhà nước
cộng sản đều là những tờ truyền
đơn chính trị lớn, nhỏ. Ðại dân tộc
chết, Võ đi tù, tòa soạn báo bị tịch thu. Võ
trắng tay. Tôi nhớ mãi năm 1973, tại tòa soạn báo
Ðại Dân Tộc ở đường Gia Long Sài Gòn, khi
được hỏi cảm nghĩ về Hiệp định
Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, Võ bảo: “Mỹ sẽ
bỏ Sài gòn!” Tôi không tin. Nhưng Võ có lý. Biết trước,
vậy mà sao Võ không chạy loạn sớm. Lúc ấy, tôi nghi Võ thuộc “lực lượng
thứ 3” với Dương Văn Minh, Vũ Văn
Mẫu, Kiều Mộng Thu... Cho tới nay, mọi
chuyện ngày càng sáng tỏ, Võ chẳng phe phái nào
hết, dù Nhóm Caravelle “Nam Kỳ Quốc” hay “Phủ Ðầu
Rồng” Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ... Võ,
một người lẽ ra dễ thân Tây, nhưng Võ
chống cả Tây lẫn Mỹ. Võ không chống văn hóa
Tây, Mỹ. Không chống tinh thần khoa học thực
nghiệm của họ. Võ chỉ dị ứng với chính
sách ngoại giao - kể cả thiếu vắng sự thông
minh - của họ đối với nạn cộng
sản tại Việt Nam. Với Võ, dẫu một vấn
đề phức tạp nhất, cũng được cô
đọng bằng thứ ngôn ngữ trong sáng, dễ
hiểu, đại để như: Khi báo chí không
được tự do, có nghĩa là tiếng nói của
người dân không được tôn trọng, thế là
ngu dân, thế là nô lệ. Vâng, đúng, con người nô
lệ khi báo chí mất tự do. Càng nô lệ hơn
nữa khi đất nước không có một tờ báo
nào của dân chúng. Thời Tây, trong Nam, ngoài Bắc biết
bao nhiêu báo chí tư nhân, do đó đất nước
tạm thời bị nô lệ mà Tinh thần Dân tộc
vẫn được Tự Do. Ngày nay, người mình làm
chủ nước mình, tình trạng báo chí thảm thương
quá đỗi. Ngay các báo của nhà nước cũng
bị đàn áp. Bằng chứng: “Hội Phóng Viên Không
Biên Giới (Reporters Sans Frontiers) vừa phổ biến
bản phúc trình thường niên, kiểm điểm tình
hình chung về lãnh vực ngôn luận, thông tin trong năm
2002, với những lời lẽ bi quan. Trong đó họ
vẫn nêu tên ông Nông Ðức Mạnh, tổng bí thư
đảng CSVN, là một trong 42 “con ác thú (predator)
giết báo chí” ác độc nhất ở trong số 156
nước được tổ chức này điều
tra. RSF dành trọn một chương trong bản phúc trình
để mô tả tình trạng báo chí tại Việt Nam
như thế nào. Hệ thống báo đài trong nước
hoàn toàn nằm trong sự thao túng của đảng CSVN.
Tư nhân không được ra báo. Người nào
muốn phổ biến tin tức, quan điểm trái
với đường lối tuyên truyền bịp
bợp của chế độ Hà Nội đều
phải lén lút chuyển ra ngoại quốc qua Internet. Chính
vì vậy, họ phải nhận chịu các biện pháp
trả thù tàn ác của CSVN, nhẹ thì quản chế,
canh giữ tại nhà, cắt điện thoại, Internet,
bao vây kinh tế. Nặng thì bị tống giam không có
bản án, hoặc nặng hơn nữa bị vu cáo
tội “gián điệp” dù chẳng có gì có thể
cấu thành tội trạng “gián điệp”. Trước
đó, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (Committee for the
Protection of Journalists) cũng đã lên tiếng tố cáo
CSVN là nước vi phạm tự do thông tin rất
trầm trọng trên thế giới. Tổ chức này
xếp CSVN hạng thứ ba, sau có Iraq và Cuba, về
mặt khủng bố, đàn áp giới cầm bút để
khống chế hoàn toàn vấn đề thông tin trong nước.” Nghị định 31/ CP còn cho phép công
an được quyền bắt giam người trong 2 năm
để điều tra, không cần xét xử. Chính là lưỡi
gươm kề cổ cho ’ký giả nô lệ’ nào
muốn viết tự do hay viết về tự do. Hô hào
hay đòi hỏi Tự do Báo chí ở Việt Nam đầu
thế kỷ 21, đồng nghĩa với việc làm
đơn xin vào nhà thương điên hoặc ra nghĩa
địa. Vậy mà đầu thế kỷ 20, cách nay trăm
năm, làng báo đất Việt nở rộ những nhân
tài báo chí. Thực dân quả có ngu hơn cộng sản. Thực dân Pháp chỉ kiểm duyệt
Tư tưởng Chính trị của người Việt.
Cộng sản Việt kiểm duyệt cả tin này: “Ngày
10 tháng 10, đài BBC cho biết khi tờ VnExpress loan tin
tức liên quan đến việc Hà Nội nhập về
78 chiếc Mercedes cực sang để sử dụng sau
hội nghị ASEM, Thủ tướng Phan văn Khải
đã không hài lòng và thậm chí còn muốn đóng
cửa tờ báo, nhưng cuối cùng nhờ một
số quan chức ngành văn hóa can thiệp nên chỉ
dừng ở mức độ khiển trách mà thôi. Tuy nhiên
không giới chức nào, kể cả ông Khải, cho
biết là tờ VnExpress loan tin sai sự thật ở
chỗ nào. Báo VnExpress chỉ có khác những tờ báo kia
ở chỗ nói về cuộc “chạy đua sở
hữu ô tô cao cấp phục vụ ASEM 5”, mà cuộc
đua chưa bắt đầu, lại đã kết thúc.
Lý do là toàn bộ số xe đã được đặt
mua hết, kể cả ba chiếc “siêu xe” S600 giá 279 ngàn
đô la một chiếc, và hai chiếc “siêu thể
thao” S55 AMG giá 269 ngàn đô la một chiếc. Ðài BBC cho biết là kèm với những
tin tức đó, tờ VnExpress còn mở một diễn
đàn cho độc giả nêu lên nhận xét của
họ và có những ý kiến không làm giới lãnh đạo
hài lòng. Chúng tôi xin đơn cử ý kiến của
độc giả Văn Công Ngọc đăng trên
VnExpress ngày 23 tháng Chín vừa qua. Bức thư có phần
kết thúc rằng : “như vậy đâu còn kỷ cương
phép nước nữa? Muốn đi xe xịn, xin mời,
nhưng phải nộp thuế. Ðó là chưa kể người
dân bình thường có khả năng mua những chiếc
xe đó không? Hay chỉ giải quyết nội bộ cho
một số người nhất định, quen biết
nhất định? Có lẽ chính phủ bận quan tâm
tới các vụ tham nhũng ở Bưu điện,
Dầu khí, Ðiện lực rồi, còn cái vụ này xem ra
quá nhỏ so với các vụ xảy ra ở các tổng công
ty độc quyền của nhà nước”. Ðộc giả này đoán nhầm, vì chính
Thủ tướng Việt Nam đã quan tâm đến
vụ này, nhưng thay vì đưa toàn bộ số xe ra
đấu giá và bắt nộp thuế đúng mức, thì
ông tổng biên tập tờ VnExpress bị mất
chức. Ông Khải còn ra lệnh cho bộ Khoa học và Công
nghệ chỉ đạo công ty cổ phần Ðầu tư
và Phát triển Công nghệ FTP, chủ quản báo điện
tử VnExpress, phải kiểm điểm lãnh đạo và
có kỷ luật thích đáng đối với các cá nhân
khác của báo điện tử VnExpress có liên quan đến
những điều mà ông gọi là “sai phạm”
vừa kể. Sự can thiệp mạnh mẽ của
Thủ tướng Phan văn Khải đã làm cho hầu
hết mọi nhà báo khác phải có thái độ hết
sức dè dặt, không ai dám hó hé điều gì. Khi chúng
tôi tìm hiểu, phần lớn chỉ dám nói thoáng qua mà
thôi”... các ông ấy chỉ bị một cái khuyết
điểm gì đó nên bị khiển trách vậy mà.
VnExpress đấy, thì tôi chỉ nghe như thế thôi...” Hễ ai nói tới việc cộng
sản ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp tài
sản quốc gia, đều bị coi là “sai phạm”. Giữa một “thời của
quỷ” như vậy, Võ làm sao mà trở về Việt
Nam để làm báo, nói lên Tiếng Gọi Dân Tộc
được? Cho dù Võ nhớ quê hương tới cháy
bỏng trong lòng. Làm báo, cho đúng nghĩa tờ báo,
ở ngoài này Võ gặp trăm điều vây khốn. Tôi
có thể nói thẳng ra rằng Võ, một trong những người
tài hoa của làng báo Miền Nam. Nhưng làm báo theo
kiểu “truyền thông là truyền thống”, của Võ,
ở hải ngoại lúc này sẽ đầy gian nan,
thử thách. Thời nước ta mở cửa đón
luồng gió mới phương Tây, đầu thế
kỷ 20, Ðông kinh Nghĩa thục đã có nhà giáo
Nguyễn Quyền lên tiếng: “Mở tân giới xoay nghề tân
học Ðón tân trào, dựng cuộc tân dân Tân thư, tân báo, tân văn...” Tôi nghĩ khi trông coi tờ KBC, có
lẽ Võ phải nhìn lại cách đi, theo con đường
Trung Ðạo của nhà Phật, nghĩa là tờ báo
phải có bài hay và nên có quảng cáo trình bày sao cho đẹp.
Các tờ báo lớn trên thế giới cũng phải
đi theo lối trên. Tờ báo, như con người,
cần phải sống trước đã, cùng lúc chuyên
chở Lẽ Sống. Võ mong muốn KBC, tiếng nói chính
thức của Tập thể Chiến sĩ VNHC tại
hải ngoại, vì Việt Cộng, không phải Chuyện
Tư của Võ. Nó, tâm huyết ấy, lộ ra Tấm Lòng
của Võ về việc ”mở vòng tay lớn” giữa
những con người bi tráng cùng một chí hướng.
Tiếng nói của Kết Thân và Cảm Thông sẽ
dẫn tới Ðoàn kết Thật sự, với sự
kết đoàn hàng ngang, không phải thứ đoàn
kết hàng dọc, theo lối đảng đoàn cộng
sản. Võ cất tiếng nói rõ ràng trong sáng: ... Lập
trường của tôi là phục vụ quốc gia dân
tộc, mục tiêu tranh đấu của tôi là Tự do,
Dân chủ, Nhân quyền và phát triển Việt Nam...
Với Võ, cuộc chiến Việt Nam chưa tàn, còn
tiếp và bừng dậy mạnh mẽ, không súng đạn,
bằng bút mực; một cuộc chiến giữa
Thiện và Ác, giữa Dân Tộc Việt với đảng
cộng sản. Mọi sự, theo Võ, phải bắt đầu
bằng Tấm lòng Chân thật. Biết bao đoàn thể
lớn mạnh, mà nói dối như Vẹm, cũng đang
chịu chung số phận như Vẹm. Mất lòng dân là
mất hết. Họ vẫn là một Tập Thể. Nhưng
không còn là Thực Thể Trong lòng Dân tộc nữa. Võ đặt Tự Do lên hàng đầu
và cuối cùng: Sự Phát Triển. Không có tự do, ngay
nhân cách cũng chẳng còn, nói chi phát triển đất
nước. Quyền làm người, nhân quyền,
phải được bảo đảm, bảo hiểm
bằng dân chủ. Thước đo quyền Làm Người
là Hạnh phúc Con người. Về Hạnh phúc Dân
tộc, từ gày 30 tháng Tư năm 1975 tới nay ở
trong nước, điều làm Võ đau khổ nhất.
Không vì Võ bị cầm tù. Nhà tan, cửa nát. Như đã
nói, người tù miền Nam, dưới chế độ
cộng sản hai lần đau khổ hơn, vì khổ thân
trong tù đâu bằng khổ tâm khi không biết vợ con
ngoài đời sống bằng gì. Mọi vốn
liếng, kể cả sự quen biết xã hội, cũng
bị tước đoạt? Người đọc sách
như Võ, nghìn lần khổ hơn, khi suốt mấy năm
trời không được đọc một trang. Người
viết báo và làm báo như Võ, mười năm không
được đọc một tờ báo tử tế.
Trong xà-lim, chẳng biết Võ có như tôi, ngồi làm báo
bằng trí tưởng tưởng; hình thành một
tờ báo trong đầu với đủ các mục
cần thiết, từ xã luận tới nhắn tin
bạn đọc...? Nên tôi hiểu vì sao Võ, nhờ bạn bè
giúp đỡ, đón nhận tờ KBC để cúc cung
phục vụ Việt Cộng, thay vì giữ riêng hòng
“kiếm chác” qua khối lớn độc giả
cựu quân nhân. Võ là như thế! Như thế là Võ. Tôi
không thích cái lối mà phần đông thiên hạ thường
mắc phải: Giết chết những người
sống và làm sống lại những người
chết. Viết về ai? Tôi muốn viết lúc người
ta còn sống, để sai đúng gì người ta còn giúp
mình sửa lại được. Ðó, lý do vì sao tôi
viết bài này, với tinh thần tự nguyện, như
với một số trí thức, văn nghệ sĩ, nhà
báo khác vốn có Tấm Lòng với văn học và báo
chí Việt Nam thân yêu. Tôi không ngại điều
tiếng gì hết, nếu có, chỉ sợ lòng mình
’trẻ đeo hoa, già đeo tật’, mà cái tật
lớn nhất là không dám ngợi khen những con người
tốt ngay họ lúc sinh thời. Tất cả cũng
chỉ như Võ, nhắm tới Hạnh phúc Dân tộc;
hạnh phúc không phải là chỉ được ăn no
mặc ấm hay ăn ngon mặc đẹp, nếu như
con người mất hết tự do. Khác chi con vật
được may mắn sống trong nhà giàu. Huống chi
dân ta phần đông còn bữa đói, bữa no,
thiếu ăn nghiêm trọng; con người không bằng
con chó nhà giàu cộng sản. Hạnh phúc lớn lao
lắm. Không chỉ tự do, dân chủ, mà còn cả
hệ sinh thái, từ cánh đồng cỏ xanh non, đồi
hoa, tiếng chim hót, dòng sông nước trong, và nhìn
ngắm những món đồ cổ người xưa
đã làm; để sống lại ngược dòng
lịch sử, nơi ông cha đã bao đời hiển hách,
khôn khéo. Hạnh phúc với những ai như chúng
tôi, cùng toàn dân, được Tự do Tư tưởng,
Tự do Báo chí, để thông tin, học hỏi lẫn
nhau những gì tốt đẹp từ tâm hồn đến
thể chất con người. Trước hết là tránh
được những mối Quốc Hận, Quốc
Nhục không đáng xảy ra cho cả một Ðại Dân
Tộc. Như dâng biển, biếu đất cho ngoại
bang. Như nhiều phụ nữ Việt bị làm
nhục trong các “cửa hàng bán người” trên
khắp thế giới. Như trẻ em Việt, nam cũng
như nữ, nhiều đứa mới lên 5, lên 6 đã
phải đã phải giao hợp cùng với những thân
xác bệnh hoạn, khổng lồ. Ai không lấy
những điều trên làm nhục, tôi như Võ, giành
lấy quyền được nghi ngờ Việt tính nơi
họ. Như Võ đã nhận ra, xác Hồ là người
Việt, nhưng hồn Hồ là con cháu của Stalin và
Mao. Nên một người Mác xít, như Hồ vốn vô
thần, mà lại ghi trong di chúc sẽ “đi gặp ông
Mác, ông Lê”. Rõ. Thuyết linh hồn bất biến.
Hồ, như đảng cộng sản Việt, không duy tâm,
chẳng duy vật, tất cả chỉ là quái thai. Không
cộng sản, không dân tộc. Nếu dân tộc, sao ngày
nay dân tộc vẫn bị đau khổ; nếu cộng
sản, sao bây giờ dân vô sản vẫn không hạnh phúc?
Chỉ là quái thai. Bất thành nhân dạng. Nhất là nhân
dạng và nhân cách Việt Nam. Viết ngàn pho sách cũng
không tả hết cái tính quái thai của đảng
cộng sản Việt. Thứ quái thai này được
kết tinh bằng hai tố chất: Công quyền, tư
lợi. Ba mươi năm qua, 1975-2005, Võ như đông
đảo người trong, ngoài nước thoát chết,
sống khổ tâm là chuyện đương nhiên. Con người,
vốn bao gồm hai điều ác, thiện; nên phải
nhờ tới đạo học, văn học nghệ
thuật, nói chung là văn hóa, để chế ngự tính
ác, căm thù, cho phần đức thiện, yêu thương
nâng cao. Cộng sản cổ võ và nuôi dưỡng lòng căm
thù; được thể: Bản năng sinh vật
của con người trỗi dậy, thành ra “cá lớn
nuốt cá bé”, “mạnh được yếu thua”,
“Sự sống sung sướng của kẻ này là cái
chết đau đớn của bao người khác”. Võ
không chủ trương tàn sát nhân thân cộng sản,
chỉ tiêu diệt tư tưởng quái thai cộng
sản, nguồn gốc của mọi cái đại ác mà
thôi. Quái thai giờ đang biến dạng thành
“Ðịnh hướng Xã hội Chủ nghĩa” với
“Tư tưởng HCM”. Nó, quai thai lớn ấy, còn
đẻ ra trăm ngàn quái thai nhỏ của khoảng 2
triệu rưỡi đảng viên; tính sơ sơ
mỗi đảng viên có 5 người thân, cũng đã
12 triệu rưỡi kẻ cắp, kẻ trộm, kẻ
cướp tài sản quốc gia. Trước một khối đối tượng
như thế, báo chí chỉ chuyên phô bày kiến thức
kinh viện, lý thuyết của các tác giả tỏ ra
thấu hiểu về chủ nghĩa cộng sản,
tựa như “ném bùn sang ao”. Chẳng đi tới đâu
hết. Quai thai vẫn sống. Bằng chính cái nhìn “duy
vật sử quan” của học thuyết Mác, kiểu
“gậy ông đập lưng ông”, ngày 30 tháng Tư năm
nay, 2005, tôi thử nhìn lại lịch sử cận đại
chống Pháp từ đầu thế kỷ 20 để
thấy đại cương do đâu mà quái thai ra đời
và lớn mạnh tới ngày nay: 1- Ý chí bất khuất cộng với lòng
căm thù thực dân Pháp , nhiều tổ chức tựa
như các sứ quân tự nổi dậy. Trong đó, có
Việt Minh cộng sản thuộc đệ tam quốc
tế, theo Stalin. 2- Không một “sứ quân” nào nhìn ra
bản chất cộng sản của Việt Minh. Và cũng
không một sứ quân nào được giáo dục
về kinh nghiệm cướp chính quyền như
cộng sản Việt phe đệ tam: Dùng nông dân nghèo, tuổi trẻ làm nòng
cốt, cho việc độc đảng cướp chính
quyền. Càng không biết dùng rừng núi để bao vây
đồng bằng, dùng nông thôn bao vây thành thị. 3- Không một
sứ quân nào (tức các đảng phái Quốc gia Dân
tộc) dám dùng phương thức “cứu cánh bện
minh cho phương tiện” như cộng sản đệ
tam. 4- Không một sứ quân nào, trừ
Việt Minh, chủ trương “liên hiệp, hòa hợp
hòa giải với các lượng để tiêu diệt
mọi lực lượng.” Hồ còn tiêu diệt cả
những nhà ái quốc, những đồng chí để
Hồ chiếm địa vị độc tôn trong Phong trào
Ðông phương cộng sản. 5- Không một
sứ quân nào lưu manh, thâm độc và tàn bạo như
cộng sản Việt đệ tam. Ba mươi năm
qua, 1975-2005, nhìn lại vì sao có ngày 30 tháng Tư, ngày
chiến thắng của đảng cộng sản, đồng
thời là ngày Quốc Hận của dân tộc Việt: 1- Việt Nam Cộng Hòa không ký một
hiệp ước kiểu Mỹ bảo vệ an ninh cho Nam
triều Tiên hay Ðài Loan. Ông Ngô Ðình Nhu, lý thuyết gia
của nền đệ nhất Cộng Hòa chỉ lo xây lâu
đài trên cát. Lâu đài đẹp và uy nghi nhưng không
có nền móng là Hiệp ước Tương trợ An
ninh. Nên Quốc Hội Mỹ, năm 1975, cắt viện
trợ thì ngày 30 tháng Tư 1975 phải xảy ra cho
Miền Nam dù Miền Nam có chính nghĩa. Nhưng tôi
biết ơn ông Nhu về mô hình “Cấu trúc Quốc
gia” đầu tiên ở Việt Nam. 2- Tính chất của quân đội
viễn chinh, dù xâm lăng hay đồng minh, là phải
đánh mạnh, rút mau. Nửa triệu quân Mỹ và các nước
khác đã bị vũ khí “thời gian” làm vô hiệu hóa
khả năng thắng trận. 3- Nếu Mỹ, “chủ nghĩa
thực dân mới”, thì Tàu và Nga là “chủ nghĩa siêu
thực dân”. Nên các phong trào phản chiến trên thế
giới chỉ chống Mỹ, không chống Nga và Tàu. Vì
Nga, Tàu chỉ viện trợ “học thuyết và súng
đạn”, sau đó thì giấu mặt. Mỹ còn chường
mặt ra tại Hội Nghị Paris. 4- Việt Nam Cộng Hòa không đề
cao tình báo, phản gián, đặc biệt là “tình báo nhân
dân”. Tình báo cộng sản còn chui vào được
cả Dinh Ðộc Lập. Mọi ngành, các cấp đều
có cộng sản nằm vùng. 5- Nếu Ðông dương được
ví như miếng bánh, thì ba phần (Bắc Việt, lào,
Cao Miên) đã thuộc hay thân cộng sản. Còn lại
chiếc bánh, thời đệ nhị VNCH, đã ruỗng
nát vì “tình báo chiến lược” C.S. 6- VNCH thuộc “cơ
chế” mở, không đóng như Bắc Việt; báo chí
quốc tế đổ xô tới Sài Gòn, tha hồ
viết bài, chiếu ống kính vào những góc cạnh
thuận lợi cho phong trào phản chiến ở Hoa
Thịnh Ðốn. 7- Về binh thư, VNCH chỉ tự
vệ, trong khi tấn công qua bên kia vĩ tuyến 17
mới là cách phòng thủ hay nhất cho VNCH. Ðể cho
địch biến đất nước thành bãi
chiến trường nên VNCH luôn luôn ở thế bất
lợi. 8- Nền văn học nghệ thuật
của VNH, phần lớn chuyên chở tính lãng mạn,
phản chiến. Không phải là một nền văn
nghệ thời chiến. 9- Lính Mỹ chỉ được
huấn luyện về kỹ thuật quân sự. Họ không
biết gì về Chiến tranh Chính trị. Nhiều
việc làm của họ gây bất mãn cả cho chính
những người chống Cộng. 10- VNCH quá tôn trọng cả các “tu sĩ
cộng sản”. Lực lượng “nội tuyến”
này cực kỳ nguy hiểm ngang với nạn tham nhũng,
mua quan, bán chức, lính ma. 11- Chính sách hộ
khẩu (nắm nơi ở) và tem phiếu lương
thực, thực phẩm (nắm miếng ăn) cùng
chế độ công an trị (quản lý chặt chẽ)
giúp chính quyền cộng sản mạnh hơn chính
quyền cộng hòa. 12- Tư nhân ở miền Nam được
ra báo riêng. Nhiều tờ của cộng sản hoặc
thân cộng. Như hiện nay, sách báo cộng sản
được ở hải ngoại. Còn trong nước
toàn báo của đảng cộng sản. Cách đây 80 năm mà tiến sĩ
Nguyễn An Ninh còn thấy ra vai trò quan trọng của
truyền thông, “sử dụng được nghề làm
báo”, và như nhiều trí thức, văn nghệ sĩ,
nhà báo: Võ cũng thấy điều đó. Thấy
bằng tuổi trẻ và nước mắt một
thời sau 30 tháng 4 1975. Gần đây nhất, Võ tham
dự tờ “báo nói”, tức đài RFI ban tiếng
Việt ở Pháp, những 6 năm; rồi Võ cũng
phải rút lui vì các bài viết của mình, nêu cao vấn
đề tự do, dân chủ cho Việt Nam. Hà Nội
phản đối Paris. Võ đi. Qua Mỹ để nay
lại làm tờ “báo in” KBC. Khu Bưu Chính, như
một biểu huy của Quân đội VNCH. Như trường
Bộ Binh Thủ Ðức, nơi Võ theo học khóa 26, KBC
4100. Võ còn nhớ không, khẩu garant ở Ðại đội
3, Tiểu đoàn 1, KBC 4100 nặng và dài quá. Khóa 26,
giữa mùa xuân mậu Thân 1968, chỉ là sinh viên sĩ
quan nhưng chúng ta cũng chiến đấu bảo
vệ trường và thành phố Chợ lớn, Gia Ðịnh.
Ngày nay chúng ta vẫn chiến đấu. Chiến đấu
quyết liệt, thật sự bằng báo chí và các tác
phẩm văn học. Võ, như dân tộc mình, thấy trước
cái sai của đảng cộng sản, điều mà chính
Tổng bí thư đảng, cũng như cựu thủ
tướng cộng sản phải sau 30 năm mới hé
lộ đôi điều sai lầm của cái đảng
ấy. Và, Võ tin đi, rất có thể 30 năm nữa,
cộng sản mới thú nhận cái sai lầm của ngày
hôm nay. Không, tờ KBC cùng với toàn dân đâu
cho phép đảng cộng sản tàn phá con người và
đất nước dù chỉ thêm 3 năm nữa.
Việc thành hay không, còn nhờ vào sự tiếp tay
của Tập thể chiến Sĩ, mà KBC là nhịp
cầu cảm thông, nơi trân trọng Sự Thật: Người
chiến sĩ VNCH là ân nhân của đám đông. Bởi
Bắc Hàn, Trung cộng cũng đỏ rực cộng
sản, mà dân chúng nếu có dong thuyền ra biển,
thế giới cũng không đón nhận. Chỉ riêng
Việt Nam, mới có chuyện người tỵ nạn
cộng sản được bao dung. Nên, tôi trộm nghĩ:
KBC không là tờ báo của “đám tàn quân”, mà KBC là
tờ báo của Tâm Linh, nơi tưởng niệm
những vị Anh hùng, Anh Thư đã vì Nước mà
bỏ Mình; tờ báo của Tâm cảm, nơi gặp
gỡ của những ai một đời chiến đấu,
cách này hay cách khác, cho một Việt Nam thật sự “Ðộc
lập, Tự do, Hạnh phúc.” KBC, tờ báo, tiếng nói
Tâm hồn Việt Nam, một mặt giữ vững
truyền thống cao đẹp; mặt khác, anh chị em
quây quần lại, để dần dà bàn giao cho thế
hệ Trẻ Việt Nam, con em các chiến sĩ, về Ý
thức Công dân đánh giặc ngoài cũng giỏi mà
trừ thù trong cũng hay. Giặc ngoài ngày nay xâm lăng nước
ta, bằng văn hóa, bằng kinh tế; thù trong của nước
ta ngày nay là bọn “ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp”
sức lực và của cải của nhân dân. Nên nhà văn,
giáo sư Nguyễn Xuân Vinh từng nói: “Cuộc chiến
chưa tàn. Chúng ta chỉ lùi một bước, nhưng
rồi sẽ chỉnh quân để hùng dũng tiến lên.”
Quân? Không nhất thiết phải cầm súng. Mà là
những người lính từ “ý nghĩ, lời nói,
việc làm” mang Tinh thần Chiến đấu, không vì
đồng minh hay đồng chí nào hết, tất cả
chỉ vì: Ðồng Bào. Chúng ta sẽ thắng. Ðảng
cộng sản ngày nay chỉ còn những... đồng
tiền. Ðồng Bào của chúng ta phải được
Hạnh Phúc. Nếu tôi nhớ không lầm, Raymond Cartier, tác
giả bộ sách “La seconde guerre mondiale, Thế chiến
thứ 2, 1939-1945”, cũng là nhà báo của tờ Paris
Match đã nhận xét: “Cộng sản sinh ra từ
bất công, trưởng thành trong đấu tranh và
chết đi trong sự ngu dốt.” Với võ, có thể
giản dị hơn, như : ”Cộng sản ra đời
từ sự bất công của thực dân và sẽ
chết đi do sự bất công của chính nó.” Vì chính
người cộng sản Việt từng rêu rao: Ở
đâu có bất công, ở đó có đấu tranh.
Ở Việt Nam hiện đang có sự bất công.
Bất công lớn! Tập thể Chiến sĩ, theo Võ,
chớ để bọn lưu manh cộng sản lung
lạc bằng những ve vuốt, như ’Phục hồi
Nghĩa trang Quân đội’. Chỉ là thế giới
ảo. Không gian Nghĩa trang Quân đội xưa: Giờ
còn bao nhiêu mộ phần tử sĩ Quân lực VNCH?
Phục hồi ư? Cộng sản có cho dựng lại tượng
người lính VNCH, của điêu khắc gia Nguyễn
Thanh Thu? Cổng vào có được gắn bảng ’Nghĩa
trang Quân đội Việt Nam Cộng hòa’ và sau cùng:
Trong nghĩa trang có được treo Cờ Vàng, Ba
Sọc Ðỏ? Cảm ơn Võ Long Triều. Nguyễn Hữu Nhật |