Trần Khuê & Trương Nhân Tuấn
Phạm Đỉnh: Lịch
sử nước nhà có nhiều vấn đề mà nay rất cần xem xét lại. Sở dĩ như vậy
là vì suốt dọc dài thời phong kiến và phong kiến biến tướng, các sử
quan cuả nhà nước thường không tránh được những thiên lệch khi viết sử
về triều đại trước, mà trong nhiều trường hợp là những triều đại bị
triều đại đương thời lật đổ. Để có thể nhận diện lịch sử một cách đúng
đắn, thế hệ trí thức hôm nay tỉnh táo nhìn lại sử sách thì mới mong có
được một cái nhìn công bằng đối với tiền nhân.
Hôm nay Thông Luận mời bạn đọc cùng xem lại một nghi án:
Mạc Đăng Dung có dâng đất cho Tàu như các sử gia đời trước kết tội hay
không. Trước nay quan điểm phổ biến là quy tội cho vua nhà Mạc. Gần
đây, các nhà nghiên cứu lại đặt lại vấn đề, và hiện vẫn đang còn cần
tìm hiểu thêm. Nhưng nhìn chung thì trả lời cho câu hỏi: "Mạc Đăng Dung
có dân đất cho Tàu hay không?" vẫn có hai câu trả lời đối lập nhau.
Chúng tôi giới thiệu hai quan điểm đại biểu dưới đây: Ông Trần Khuê đại
biểu cho quan điểm KHÔNG. Ông Trương Nhân Tuấn là đại biểu mới nhất cuả
quan điểm ngược lại: CÓ.
Hẳn nhiên là vấn đề Mạc Đăng Dung hay nhiều vấn đề lịch sử khác chưa có
thể giải quyết dứt khoát, vì không khí học thuật cuả nước nhà hãy còn
rất cần được chỉnh đốn. Mong được đón nhận thêm những ý kiến khác cuả
các nhà nghiên cứu, nhất là những người ở thế hệ trẻ, được tiếp cận học
phong tây phương: suy nghĩ độc lập, phương pháp tiếp cận một vấn đề
(bao gồm thái độ khách quan không thiên kiến, phân tích và phê phán tài
liệu...).
CẦN HIỂU ĐÚNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ VƯƠNG TRIỀU MẠC
Trần Khuê
(Tham luận hội thảo khoa học “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử
phát triển văn hóa dân tộc” do Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm tổ chức,
Viện KHXH Tp.HCM tháng 10-1991)
Thú vị biết bao khi nghe ông Okakura Kakuzo, một triết nhân Nhật Bản
nói rằng: “Chúng ta hãy kính mộ cổ nhân nhiều hơn nữa nhưng hãy bắt
chước cổ nhân ít hơn”. Và quan sát tình hình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong những năm qua, tôi xin phép được thêm rằng: chúng ta cần
biết kính trọng người cùng thời, nhưng cần suy tư độc lập để tránh sao
chép những suy tư của họ”.
Suy tư và nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời đại của ông, tôi thấy
cần định rõ chuẩn mực và hệ thống hóa mọi chứng cứ lịch sử một cách
trung thực, khoa học. Như thế mới hy vọng đánh giá đúng về ông và về
cái gọi là “Ngụy triều Mạc” mà ông đã hết lòng phụng sự, từ đó có thể
hiểu những gì là tinh hoa của Nguyễn Bỉnh Khiêm để kế thừa và phát huy;
những gì là hạn chế của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời đại Nguyễn Bỉnh Khiêm
cũng như những danh nhân và những thời đại kế tiếp chưa tập thành để
xác định rõ nhiệm vụ của chúng ta hiện nay.
CÓ HAI NGUYỄN BỈNH KHIÊM...
Theo tôi hiểu, ít nhất chúng ta đã có tới hai Nguyễn Bỉnh Khiêm: một
Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường và một Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại.
Huyền thoại hoặc là không thật hoặc là cái thật đã được huyền hóa nghĩa
là được cường điệu, tô đậm, phóng đại theo ý chí, ước vọng của người
đời. Với huyền thoại, cái mơ ước cao hơn cái thật, niềm hy vọng và lòng
sùng tín trùm lên nhân vật và sự kiện; tất cả trở thành thần tượng,
tuyệt vời, thiêng liêng, khả kính. Ở đó chỉ còn là sùng tín và hy vọng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại và một Nguyễn Bỉnh Khiêm đạo cao đức
trọng, giỏi thi ca và có tài tiên tri, một con người siêu việt vượt cao
hơn cả mọi thứ vua chúa đương thời, sống vĩnh hằng trong tâm thức của
muôn người, muôn đời. Bàn về Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại là chuyện
cực khó, vì đó là một hiện tượng đã định hình được khẳng nhận và nhất
thành bất biến, không thể thêm bớt nữa.
Tôi thành kính nghiêng mình trước Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại, một
hiện tượng thuộc về tâm thức dân tộc và với một ý nghĩa nào dó, đây
cũng là một hiện tượng văn hóa dân tộc. Nhưng đứng trên giác độ nghiên
cứu khoa học, tôi chú ý nhiều hơn, có thể là chủ yếu, đối với một
Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường.
Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường, tôi muốn khảo sát (cho dù tư
liệu còn chưa đầy đủ), tôi muốn đánh giá (cho dù chuẩn mực, tiêu chí
chưa dễ được số đông chấp nhận) và tôi muốn rút ra những bài học thích
đáng, bổ ích cho hôm nay (cho dù những khái niệm này chưa phải đã có
chung một thức nhận). Nhưng có lẽ, điều cần thiết và quan trọng là tôi
muốn duyệt lại mấy vấn đề không được quyền tranh cãi nữa vì nó đã nằm
trong tâm thức của nhiều thế hệ và đặc biệt là giới khoa học quyền uy
đã khẳng định trên mặt sử sách, báo chí không chỉ dăm ba thập kỷ mà dăm
ba thế kỷ. Sở dĩ tôi dám liều mạng và sẵn sàng đón mọi búa rìu thị phi
vì tôi ý thức được rằng mình đang nghiên cứu một Nguyễn Bỉnh Khiêm -
đời thường, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc vì lợi ích của
sự nghiệp bảo vệ văn hóa dân tộc, vì lợi ích của một cuộc cách mạng và
một chế độ mà vài ba thế hệ chúng ta đã đổ mồ hôi và xương máu ra xây
dựng nó và hiện tại giữa một thời đại đầy biến cố phi thường, chúng ta
lại đang ra sức bảo vệ nó như bảo vệ chính mạng sống của mình. Mấy vấn
đề đó là:
1. Vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại bỏ ra một nửa sau của đời mình để phụng sự nhà Mạc vốn bị coi là “ngụy triều”?
2. Phải chăng nhà Mạc đã có những mặt tích cực mà hầu hết các sử gia cổ
xưa và hiện đại không nhìn thấy hoặc nhìn thấy mà không chấp nhận, còn
Nguyễn Bỉnh Khiêm thì lại nhìn thấy và chấp nhận?
3. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người chán đời hay yêu đời? Là người của nhàn dật hay của hành động?
4. Về mặt thi pháp, Nguyễn Bỉnh Khiêm có gì hay, có gì dở, có gì hơn, có gì kém so với người đương thời?
5. Trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có
những thành tựu gì đóng góp vào sự phát triển và cả vào sự ngưng trệ
của ý thức hệ dân tộc?
Nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi thấy có mấy điểm hết sức lý thú:
1. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn nhà Mạc để phụng sự và đã toàn tâm, toàn ý phụng sự nhà Mạc.
Khi nhà Mạc giành ngôi nhà Lê thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ở tuổi 37
(1491-l527). Và khi vua cha Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho vua con là
Mạc Đăng Doanh thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa tròn 40 tuổi, nghĩa là đúng
vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”. Quan sát và ngẫm nghĩ về thời cuộc
8 năm liền (từ l527-l534), ông quyết định vác lều chõng đi thi và sau
khi đã đỗ rất cao (Trạng nguyên), ông làm quan với triều Mạc Đăng
Doanh, rồi tiếp theo là các triều Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên và Mạc
Mậu Hợp. Ngoài những đợt nghỉ ngắn hạn, ông chỉ chính thức “huyền xa”
(về trí sĩ) vào năm đã ở tuổi 73:
Điểm kiểm hành niên thất thập tam
Huyền xa sai vãn đã ưng tàm.
(Đếm tuổi mình đã bảy mươi ba.
Treo xe hơi muộn, cũng nên thẹn).
Ông còn ân hận vì sức yếu rồi nên không giúp rập nhà vua được nữa:
Trì khu tự hứa ta vô lực
Vinh tiện hà cầu khởi thị tham.
(Vốn tự thẹn đua bay với người, than ôi không đủ sức
Không cầu sang hèn đâu phải là tham).
("Về hưu gửi quan Thượng thư bộ Lại Kế Khê bá Giáp Hải")
Trong khoảng 30 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hết lòng phò 4 triều vua Mạc
- hành trạng của ông, thơ văn của ông và các bạn đồng liêu của ông đã
minh định điều đó. Và phải lý giải sao cho thỏa đáng khi ông được phong
tặng rất nhanh những chức tước quan trọng dưới triều các vua Mạc?
Lý giải sao cho thấu tình đạt lý về hơn hai chục bài thơ nói về việc hộ
giá nhà vua đi đánh giặc và không phải chỉ đi một lần? Chỉ cần đọc kỹ 4
bài viết về chuyện “hộ giá...” và sáu bài “Qua sông.. Hữu” cũng đủ hiểu
cảm hứng và lòng chân thực của ông. Và tôi nhất trí hoàn toàn với Ngô
Đăng Lợi rằng không thể coi lời thơ khen tặng của Lại bộ thượng thư
Giáp Hải đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là “lời nói vu vơ không căn cứ”:
Danh quán Nho gia lôi phấn địa
Lực phù nhật cốc trụ kình thiên;
Tứ triều huân nghiệp nhân trung kiệt
Cửu lão quang nghi thế thượng tiên.
(Tiếng tăm ông lừng lẫy làng nho như sấm rền mặt đất
Năng lực của ông phò vua như cột chống đỡ trời
Huân nghiệp trải bốn triều, ông là tài năng kiệt xuất giữa cõi người
Dung nghi rực rỡ của tuổi chín mươi, ông khác gì vị tiên nơi trần thế).
Điểm qua vài nét như vậy đủ thấy, thật đáng nghi ngờ những ý kiến đoán định, suy diễn (mà hầu hết đều sao chép từ Công dư tiệp ký
của Vũ Phương Đề) rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm nghe lời khuyên của bạn hữu
hoặc ông ở cái thế không ra không được” (Bùi Duy Tân). Rõ ràng tuổi
tác, hành trạng và tác phẩm của ông đã chứng minh rằng ông đi thi ở
tuổi 44 và làm quan với nhà Mạc cho đến tận năm 73 là hoàn toàn tự
nguyện, chẳng có chứng cứ nào nói lên rằng ông miễn cưỡng hay bị bó
buộc.
Việc ông không sớm ra thi để làm quan với nhà Mạc cũng là điều dễ hiểu:
ông không thể đem tài năng ra phụng sự cái loại “vua quỷ Lê Uy Mục” và
“vua lợn Lê Tương Dực”. Ngay sau khi nhà Mạc đã giành ngôi vua của nhà
Lê, ông cũng chẳng vội vã gì: quan sát và suy ngẫm 8 năm ròng, ông mới
quyết định ra thi và làm quan với nhà Mạc. Cân nhắc tính toán thận
trọng nhường đó mà các vị nghiên cứu vẫn không chấp nhận. Trong khi đó
các vị vẫn không ngớt lời ca tụng ông là tài giỏi, có bản lĩnh vững
chắc, có tài tiên tri, tiên giác. Đặc biệt, Vũ Phương Đề lại khẳng định
một cách võ đoán và cực kỳ mâu thuẫn: “Sở dĩ có bài thơ trên vì ông
biết rõ nhà Lê sẽ được trung hưng (...). Quả nhiên về sau nhà Lê trung
hưng, bốn phương trở lại yên tĩnh, bấy giờ bạn hữu đều khuyên ông ra
làm quan, đến năm bốn mươi tư tuổi ông mới chịu ra ứng thí. Khoa Hương
thí ấy ông được đỗ đầu, rồi năm sau, tức là năm thứ sáu đời nhà Mạc
(1535), lại ra tỉnh thi được đỗ thứ nhất, khi vào thi Đình đối lại đỗ
Tiến sĩ đệ nhất danh, được bổ chức Đông các hiệu thư trong thời Thái
Tông nhà Mạc, ông có làm hai bài thơ “Xuân thiện ngự tửu”, “Đều dự hạng
ưu”, rồi thăng chức Hữu thị lang bộ Hình, sau thời gian ngắn lại thăng
chức Tả thị lang kiêm chức Đông các đại học sĩ” (Công dư tiệp ký, tr. 400).
Tiên tri rằng nhà Lê sẽ trung hưng mà lại ra làm quan với nhà Mạc, làm
một cách tận tụy để được thăng hết chức này đến tước khác và đến cực
phẩm triều đình: Lại bộ thượng thư Thái phó Trình Quốc công. Quả thật
là không thể hiểu nổi!
Càng khó hiểu hơn khi thấy rất nhiều người đều cả tin Vũ Phương Đề. Tôi
không ngạc nhiên và phàn nàn gì nhiều lắm về các nhà nghiên cứu hiện
đại của ta về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đáng ngạc nhiên là một trí tuệ lớn như
Phan Huy Chú mà vẫn nhẹ dạ sao chép lại Vũ Phương Đề. Nếu tôi không
nhầm thì người thận trọng nhất là Lê Quý Đôn - Trong Lê triều thông sử,
ông không chép Nguyễn Bỉnh Khiêm vào chư thần truyện, cũng chẳng chép
vào nghịch thần truyện. Ông lờ đi, thật rất tiếc! Do đó mọi điều hiểu
sai, hiểu nhầm về Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu như đều phát xuất từ bản phả ký
của Vũ Phương Đề.
Về tinh thần tự nguyện phục vụ nhà Mạc của Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn có
hàng loạt chứng cứ để xác minh. Chính Vũ Phương Đề đã ghi nhận Nguyễn
Bỉnh Khiêm - đời thường của chúng ta có tất cả ba bà vợ. Ba bà này đã
sinh hạ 12 người con gồm 7 trai, 5 gái. Trong số 7 trai thì có tới 6
người thành đạt và đều làm quan với nhà Mạc, lập được quân công và được
thụ phong những chức tước quan trọng. Nghĩa là không phải riêng ông mà
cả nhà ông đã phục vụ nhà Mạc.
Đáng chú ý hơn nữa là Nguyễn Bỉnh Khiêm có một loạt bạn thân trước kia
từng làm quan với nhà Lê sau lại ra làm quan với nhà Mạc như: Lễ Độ bá
Vũ Cẩn, Văn Đạt bá Nguyễn Mậu, v.v... sau này ông vẫn thân thiết và
cùng xướng họa với những người bạn này. Ngay cha con Trạng nguyên
Nguyễn Thiến, trọng thần nhà Mạc, sau bỏ theo Lê - Trịnh, ông cũng vẫn
chẳng hề cắt đứt tình cảm.
Theo tôi, phải chăng sau này các sử gia và các nhà nghiên cứu cứ nhìn
theo con mắt của Tống Nho Hậu Lê triều hoặc Nguyễn triều nên mới trở
nên khắt khe. Còn vào thế kỷ 16-17, việc chạy sang phía bên này hay bên
kia cũng chẳng có gì lấy làm điều. Chẳng có gì đến nổi day dứt quá
đáng. Cứ xem như danh tướng Nguyễn Quyện chức đến Thái bảo, tước đến
Thạch quận công mấy lần chạy qua chạy lại giữa Mạc và Lê -Trịnh là đủ
biết. Hồi Lê Thái tổ lại càng rộng rãi: “Những bậc hào kiệt có tài văn
võ, mà còn bỏ sót chưa có tiến cử, hoặc bị thù hằn, kìm hãm, hãy tới
ngay Sở thiếu phó Lê Văn Linh, tại đây sẽ xét thực tài đức sẽ tâu trình
bổ dụng. Chỉ cốt được người tài đức, chứ không câu nệ về sự đã ra làm
quan với nhà Minh, hoặc kẻ sĩ thường”. (Đại Việt thông sử
- tr. 82). Sau này Quang Trung cũng rộng rãi như thế. Có lẽ đây là một
vấn đề khá thú vị đáng cho các nhà sử học và các nhà tâm lý học quan
tâm nghiên cứu.
2. Nguyễn Bỉnh Khiêm coi việc đánh giặc để giúp các vua Mạc và cứu dân là đại nghĩa.
Mấy nhà nghiên cứu của ta hay gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm những tư tưởng
mà ông không có. Ông Bùi Duy tân viết: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có
thái độ gay gắt trong phê phán chiến tranh phong kiến cát cứ (...)
trong hoàn cảnh ấy, có lẽ trong thâm tâm ông nghĩ rằng: nếu cách ly các
tập đoàn phong kiến ra xa nhau, để mỗi tập đoàn ổn định ở một nơi thì
chiến tranh tuy chưa thể dập tắt ngay, cũng có thể hy vọng giảm thiểu
được phần nào”. (Văn học Việt Nam tr. l31).
Ông Đinh Gia Khánh cũng diễn một ý tương tự: “Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm
trước sau vẫn phê phán nạn cát cứ và chiến tranh phong kiến kia mà! Vậy
có lẽ cần giải thích bằng lý do khác! Rất có thể là Nguyễn Bỉnh Khiêm
thấy rằng các tập đoàn phong kiến đánh nhau mãi mà chưa tập đoàn nào
chịu tập đoàn nào, cho nên để giảm nhẹ sự đối địch, giảm nhẹ xung đột
bằng cách tạm thời tách các tập đoàn ra, mỗi tập đoàn ở một góc và ở xa
nhau như thế, thì chúng đỡ đánh nhau”. (Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tr. 11).
Thế là cả hai ông đều mang huyền thoại trộn lẫn với hiện thực rồi đặt
giả thiết và giả thiết theo kiểu đó thực vô cùng tai hại cho Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Rồi các ông lại cố vớt vát bênh vực bào chữa cho Nguyễn
Bỉnh Khiêm: “Thế là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm một việc với động cơ lối,
nhưng biện pháp thì tiêu cực và hậu quả thì lại nghiêm trọng. Việc làm
của ông chứa đầy mâu thuẫn nan giải, mâu thuẫn có nguồn gốc từ sự lẩn
quẩn, bế tắc của chế độ phong kiến mà ông không thể vượt qua được”.
(Bùi Duy Tân). Còn ông Đinh Gia Khánh thì coi: “Đó là mâu thuẫn trong
việc làm của Nguyễn Bỉnh Khiêm”.
Thực ra đó không phải là mâu thuẫn của Nguyễn Bỉnh khiêm, đó chính là
mâu thuẫn trong tư duy nghiên cứu của các ông. Chỉ khi nào người nghiên
cứu dựa trên chứng cứ xác thực, chú ý đến quá trình phát triển biện
chứng của sự vật và tránh được lối tư duy định kiến, tiên nghiệm thì
mới hy vọng khỏi mắc sai lầm.
Một hệ thống luận cứ hiện thực và lịch sử chứng minh rằng Nguyễn Bỉnh
Khiêm không hề có những mâu thuẫn kiểu đó. Ông không hề đứng trên các
tập đoàn phong kiến mà dứt khoát đứng về một phía: tập đoàn nhà Mạc.
Ông không hề phản đối chiến tranh chung chung mà phản đối những kẻ gây
ra chiến tranh chống vua Mạc.
Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh
Chủ ưu thần nhục trọng thương tình
(Lũ giặc ngang ngược điên khùng phạm cả vào kinh đô
Chúa lo thì tôi nhục, đáng thương tình biết bao)
("Cảm hứng thi") (tam)
Thiên tâm như bất dung gian ngụy
Ứng vị vương sư trợ nhấtn kỳ.
(Lòng trời nếu chẳng dung tha kẻ gian ngụy
Thì hãy một phen trợ sức cho quân nhà vua).
("Quá Hữu Giang") (nhị).
Rõ ràng “nghịch tặc”, “gian ngụy” và tất cả những chữ “tặc” khác trong
thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chỉ tập đoàn Lê-Trịnh; còn các từ “chủ”,
“vương sư” hoặc “cửu trùng”, “thánh chủ”, “quân vương”, “đại giá”,
v.v... là dùng để chỉ vua nhà Mạc.
Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những kẻ chống lại vua nhà Mạc là “gian” là
“ngụy”; Nguyễn Bỉnh Khiêm theo vua Mạc đánh dẹp bọn gian ngụy để cứu
nhân dân thoát cảnh bị “treo ngược”:
Đại giá tây tuần trú thử sơn.
Nhất phương sĩ nữ vọng an toàn
Đảo huyền dân cửu ly hung đạo:
Trắc đát thùy vô xúc thiện đoan.
(Tây hộ quá Lục Yên châu).
(Xa giá lớn đi miền Tây, đóng quân ở núi này,
Khắp vùng trai gái đều trông mong được sống yên ổn.
Lâu nay dân sa vào tay bọn trộm cướp hung dữ như kẻ bị treo ngược;
Không ai là không động lòng từ thiện, tỏ tình thương xót).
("Hộ giá đi miền Tây qua châu Lục Yên").
Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân và một số vị nghiên cứu khác cứ cho rằng
Nguyễn Bỉnh Khiêm mấy lần đi “tòng nhung” là do “bị vua Mạc ép đi thco
quân”. Có lẽ một phần do các vị hiểu nhầm nghĩa từ “cưỡng” trong “cưỡng
tòng nhung”, “cưỡng trí tòng nhung”, “cưỡng truy tù”...
Từ “cưỡng” có ba nghĩa: 1. Không chịu khuất (resister, contrarier); 2.
Ép buộc (foreer, obliger, contraindre); 3. Gắng sức (s’efforeer). Vì
hiểu nhầm nên ông Đinh Gia Khánh và ông Hữu Thế mới dịch thành “gắng
gượng”:
Tuổi quá sáu chục, gắng gượng theo quân.
(Niên du lục thập cưỡng tòng nhung).
Gượng dấn mình dự cuộc viễn chinh.
(Cưỡng trí tòng nhung tán viễn chinh).
Chỉ có ông Lỗ Công hiểu đúng và dịch đúng:
Tuổi già gắng gỏi việc binh nhung
Giết giặc mong vì nước dốc trung.
(Lão lai tương dữ cưỡng tòng nhung
Diệt tặc do hoài báo quốc trung).
Và ông Hữu Thế cũng có một lần dịch đúng:
Già si đần, gặp thời loạn lạc
Gắng theo quân bàn bạc mưu cơ.
(Lão độn trùng phùng thư loạn ly
Dự tham nhung mạc cường truy tùy).
(Cũng nên lưu ý “cưỡng” có thể dùng làm ngoại động từ (verbe transitif)
cũng có thể dùng làm nội động lừ (verbe intransitif). Trong các bài thơ
chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu hết từ “cưõng” được dùng làm nội động
từ. Do đó chủ ngữ ẩn trong các dòng thơ này không thể là vua Mạc mà
chính là một đại từ phản thân (pronom réfléchi) chỉ tác giả Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Dịch là “gắng sức” hay “gắng gỏi” mới chính xác và mới bảo đảm
được sự nhất quán của nội dung tác phẩm vì thực tế Nguyễn Bỉnh Khiêm
chưa bao giờ bị ép buộc và ông cũng chưa bao giờ nói rằng mình bị ép
buộc. Ông cho việc “tòng nhung” giết giặc là trách nhiệm của mình đối
với vua, với dân.
Ông hành động vì muốn báo dân ơn nước:
Diệt tặc do hoài báo quốc trung.
Vì muốn cho nhân dân sống yên vui:
Đồ thán dân giai nhẩm tịch tê
(Dân lầm than khổ cực đều được nằm trên nệm chiếu yên ổn).
Ông hành động vì nghĩa:
Trì khu mị đạn hiệu vi cung
Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết
(Ruổi rong chẳng quản thân hèn.
Tấm lòng chí nghĩa vững bền sắt son).
Hơn nữa, vì muốn làm sáng đại nghĩa:
Vị quốc tồn cô minh đại nghĩa
Chỉ kỳ diệt tặc phục thần châu
(Vì nước bảo toàn ấu chúa, nêu rõ nghĩa lớn
Định thời hạn giết giặc, khôi phục kinh đô).
3. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài thao lược:
Theo Đinh Gia Khánh thì Nguyễn Bỉnh Khiêm “bị vua Mạc ép đi theo quân.
Có lẽ vì vua Mạc muốn dùng uy vọng của ông để tăng thanh thế cho mình,
chứ chưa có chứng cớ gì về tài thao lược điều binh khiển tướng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm cả” (tr. 15). Ông cũng nhấn mạnh cái ý “cũng vì các
vua Mạc kế tiếp nhau tìm cách sử dụng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho nên lại có
cớ để luôn luôn thăng chức cho ông (...). Vua Mạc trọng thị Nguyễn Bỉnh
Khiêm thì mộl phần có thể thực lòng (tôi gạch dưới – T.K) mà cũng vì
muốn lợi dụng uy vọng của ông (tôi gạch dưới – T.K)”.
Cái chuyện “ép đi theo quân” rõ ràng không hề có đối với Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Còn chuyện “lợi dụng uy vọng của ông” cũng cần được xem lại.
Nhưng cái chuyện “có lẽ”, “có thể là” mà cứ được nhấn đi nhấn lại dưới
những ngòi bút có uy vọng như ngòi bút của ông Đinh Gia Khánh quả thật
là điều khá gay cấn cho những lớp đến sau.
Theo những chứng cứ mà tôi thu lượm được trong thư tịch xưa trên những
văn bản đáng tin cậy thì không hề có chuyện vua Mạc mang theo đi trong
hàng quân của mình một ông già đầy uy vọng nhưng lại thiếu tài thao
lược. Trước hết phải nói rõ rằng nhà Mạc không hề thiếu những người có
tài thao lược, chuyện này tôi sẽ đưa đủ chứng cứ trong phần bàn về nhà
Mạc. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thiếu tài thao lược hoặc không lập nên công
trạng gì đáng kể hẳn vua Mạc không cần phong tặng ông những chức tước
quan trọng như thế. Cũng không nên quá tin vào lối nói khiêm nhượng của
ông mà tưởng thật rằng ông thiếu tài cán hoặc sự đóng góp mưu kế của
ông là không đáng kể:
Đã hai dạo, già yếu theo quân đến phía sông miền Tây
...
Bỗng nghe đồn lũy giặc bị quét sạch không.
Mưu kế vạn toàn ở chốn miếu đường là tài lực của chư tướng.
Thư sinh này sao dám nói đến công lao.
(Qua sông Hữu) (sáu bài).
Có một lần, Mạc Phúc Nguyên ở vào tình thế nguy cấp. Ông đã hiến kế và
làm chuyển biến được tình hình. Chiến công lừng lẫy này, tác giả Đại Việt sử ký toàn thư
ghi chép rất sơ sài, không hề nói rõ tại sao quân Lê-Trịnh đang thắng
lớn ở vùng Kinh Bắc và trên nhiều vùng khác, thế mà đột nhiên Trịnh
Kiểm hốt hoảng vội vã rút quân về Thanh Hoa. Đây là một kế sách rất lớn
giúp vua Mạc chuyển bại thành thắng, bảo toàn được đất đai và kinh đô.
Trong Công dư tiệp ký, Vũ Phương Đề ghi rất sơ lược. Sau khi thuật khá
chi tiết về công lao và mưu trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm giúp vua Mạc dụ
hàng được Nguyễn Quyện, Vũ Phương Đề viết: “Trong thời gian ấy, đức Thế
tổ đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang khắp xa gần, đánh nhau mấy trận ở
cửa Thần Phù, Khiêm vương Mạc Kính Điển đại bại, Thế tổ thừa cơ tiến
binh theo đường núi phía tây ra đánh Kinh Bắc, khiến cho trong ngoài
nơm nớp lo sợ, ông hiến kế hư thực, họ Mạc theo đó thi hành, bấy giờ
trong cõi mới tạm ổn định” (tr. 403).
Chỉ có Lê Quý Đôn là ghi khá cụ thể, tỉ mỉ:
“Tháng 3 năm Chỉnh Trị thứ 4 (1561), có người hiến kế với Phúc Nguyên
rằng: Quân nhà Lê xâm lấn ta rất gay gắt! Ta sở dĩ kiên thành cố thủ để
cầm cự lâu dài, là có ý muốn chờ họ thiếu lương sẽ bị bại. Nhưng hiện
nay đường vận tải của họ rất thuận tiện, tịch tế lương thảo liên tiếp
đầy đủ, họ hoành hành đã hai năm nay, thanh thế rất mạnh. Thì còn chờ
đến lúc nào mới thừa cơ đánh phá? Chi bằng dùng cách xuất kỳ bất ý,
ngầm dẫn quân tiến thẳng vào Thanh Hoa, đánh ngay vào nơi tâm phúc, thì
đạo quân đang vây ở Kinh Bắc và Hải Dương ta không cần đánh cũng sẽ tự
giải. Đó là cái kế “đánh nước Ngụy để cứu nước Hàn” của Tôn Tử vậy”.
Phúc Nguyên nghe theo lời tren, bèn sai viên tướng khác thay Kính Điển trấn thủ Kinh Bắc rồi ngầm vời Kính Điển về Kinh sư.
Tháng 7, Kính Điển dùng thuyền vào cướp Thanh Hoa, đánh vào các cửa
biển. Các tướng trấn thủ cửa biển là Vũ Sư Thước và Lại Thế Khanh không
phòng bị, trong khi hoảng hốt, vội lui quân về giữ Vạn lại. Thái sư
được tin trên, bèn gấp rút truyền lệnh cho Hoàng Đình Ái dẫn quân về
trấn thủ Thanh Hoa (...). Thái sư cũng trệit hết quân ở các doanh lui
về Thanh Hoa” (Đại Việt thông sử tr. 310).
Ghi chép cụ thể, tỉ mỉ và tương đối khách quan là tác phong rất đáng quý của Lê Quý Đôn khi viết Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục
cũng như nhiều sách khác của ông. Nhưng ở đoạn văn trên lại có một chi
tiết không cụ thể (có thể nói đây là hiện tượng hiếm thấy vào loại số 1
của Lê Quý Đôn), đó là chi tiết “có người hiến kế với Phúc Nguyên”.
“Người hiến kế” này là ai? Hiến kế với vua và lại được nhà vua “nghe
theo” hẳn không thể là người ít danh vọng và uy tín. Đọc suốt Đại Việt thông sử cũng như Kiến văn tiểu lục,
người ta dễ nhận thấy dưới các triều Mạc, nhất là Mạc Phúc Nguyên và
Mạc Mậu Hợp, có rất nhiều triều thần hiến kế sách trị nước và giữ nước
cho nhà vua. Nhưng dù người hiến kế có nhiều hay ít uy vọng, dù được
nhà vua nghe theo hay không nghe theo; Lê Quý Đôn cũng ghi chép rất cụ
thể nội dung kế sách và họ tên kèm theo chức tước của người hiến kế. Có
thể nói trường hợp này là rất ngoại lệ, rất đặc biệt. Cũng như việc Lê
Quý Đôn ghi đủ loại chư thần và nghịch thần, và trong Kiến văn tiểu lục,
mục "Tài phẩm" (tài năng và phẩm hạnh), ông ghi mấy chục danh nhân kể
cả một số người đã làm quan với “ngụy Mạc” như Lễ bộ thượng thu Hà Nhậm
Đại, nhưng tài năng, phẩm hạnh, hành trạng... của Lại bộ thượng thư
Thái phó Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông không ghi chép. (Có
những nhân vật ít nổi tiếng như Lê Bá Ly mà Lê Quý Đôn ghi về tài năng
phẩm hạnh 2 trang giấy đặc tới hơn 500 chữ, một số nhân vật khác cũng
còn được một vài trăm chữ. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm thì không được ghi
tiểu truyện).
Lê Quý Đôn chỉ ghi về Nguyễn Bỉnh Khiêm rất sơ sài: Một lần ghi về thi
đỗ, một lần ghi về “trí sĩ”, một lần ghi về “tên tác phẩm”. Thế thôi?
À, có thêm một lần ông ghi ý kiến của Chu Xán về Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước
ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683). Xán có tiếng hay
thơ. Ông ta chép những thơ đề vịnh núi sông và bè bạn tặng đáp vừa thất
ngôn vừa tứ tuyệt 48 bài, nhan đề là Sứ giao ngâm. Khi về dâng lên
triều đình. Trong các bài thơ ấy có câu rằng: “Y quan văn vật trọng Nam
cương”, lại tự chua rằng: “Nhân vật nước này, về phần lý học, có Trình
Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế có Mạc
Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi và Lương Thế Vinh; còn về phần
văn học có khá nhiểu”. Như thế thì tiếng tăm tiền bối nước ta vang đến
tận Trung Quốc đã lâu. Lại lúc ấy, triều thần có Nguyễn Đình Trụ, Trần
Thọ, Tống Nho và Vũ Duy Khương phụng mệnh đón tiếp; Nguyễn Công Vọng,
Lê Hy, Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Điền tiếp đãi ở sứ quán, Nguyễn
Trạc Dụng và Nguyễn Công Nho sung vào việc hộ tống; đều có thơ tặng,
vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt gồm 34 bài. Chu Xán đdều chép thành tập nhan
đề là Nam giao hảo âm, phụ vào với tập trước, đều khắc vào ván gỗ phát
hành. Như thế cũng đủ rõ Văn hiến nước ta được Trung Quốc quý trọng” (Kiến văn tiểu lục - tr. 284-285).
Các nhận vật tiền bối có tiếng tăm mà Chu Xán đã kể đến, Lê Quý Đôn đều
có ghi chép tiểu sử và bình luận, riêng Trình Tuyền thì không! Tôi ghi
nhận mấy hiện tượng rất lạ này để các nhà nghiên cứu của ta xem xét
thêm và cho ý kiến.
Nhân đây, tôi cũng xin phép đính chính vài điều đã được truyền ngoa quá
lâu quanh huyền thoại và truyền thuyết về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cái câu
“An Nam lý học hữu Trình Tuyền!” trong Công dư tiệp ký rõ ràng không
phải nguyên văn của Chu Xán, mà là lời của Vũ Phương Đề. Vũ Phương Đề
đã cắt xén lời chua của Chu Xán và gây ra sự hiểu lầm không nhỏ. Còn
câu “Giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản” mà ông Bùi Duy Tân và một số
nhà nghiên cứu khác ghi là lời của Trạng Trình cũng không phải. Đó là
lời văn suy đoán của Vũ Phương Đề ghi trong Công dư tiệp ký:
“Năm Thuận Bình thứ 8 (1556), Lê Trung Tông mất, không có hoàng nam nối
ngôi. Thế tổ do dự không biết lập ai, hỏi Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan
cũng không quyết định nổi, nên mới phải sai gia thần ngầm đem lễ vật về
tận Hải Dương để hỏi. Ông không trả lời mà chỉ quay lại bảo các gia
nhân rằng: “Vụ lúa này không được mấy, chỉ tạ thóc giống không tốt, vậy
các người phải đi tìm giống cũ mà gieo mạ!”. Nói xong, ông quay lên xe
ra chùa, sai các chú tiểu quét dọn, đốt hương, ngoài ra không hề đá
động gì đến chuyện khác, bởi ông đã hơi tỏ cho biết cái thâm ý là “cứ
việc thờ Phật thì được ăn oản” (tr. 405).
Lại còn cái câu vẫn truyền miệng là lời của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói bóng
gió với sứ giả của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng cũng cứ được phiên âm
sai đi. Chỉ có ông Nguyễn Quân phiên đúng: “Hoành sơn nhất đái, khả dĩ
dung thân”. Vũ Phương Đề chép là “khả dĩ”, sau sang sách khác thì thành
“vạn đại”. Theo tôi, truyền khẩu thì thế nào cũng được nhưng đã chép
vào sách giáo khoa, giáo trình để dạy các cháu học sinh trung học hay
đại học thì phải hết sức thận trọng, chính xác. Cổ nhân rất kỵ cái lối
“dĩ ngoa truyền ngoa”.
Nhà nghiên cứu văn học Hoài Thanh đã nhầm khi nhận định rằng “Nguyễn Du
thật thà đi theo nhà Nguyễn” . Còn tôi, sau khi khảo sát, nghiên cứu
thân thế và sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm với những chứng cứ hiện có
trong tay, với tất cả sự dè dặt thận trọng, tôi cứ xin phép được khẳng
định không nhầm lẫn rằng:
Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề miễn cưỡng đi theo nhà Mạc!
Có thể bàn về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều bình diện khác nhau vì ông là
một nhân vật lịch sử quá phong phú. Trong phạm vi bản tham luận này,
tôi chỉ xin nêu ra một vài nhận xét khái quát, mong sẽ đi sâu vào một
dịp khác.
Trong vài trăm năm qua, người ta truyền tụng và giảng dạy trong nhà
trường phong kiến, thực dân quá nhiều thơ nhàn dật của ông. Một số nhà
nghiên cứu lại đi thống kê số lượng từ nhàn trong thơ ông rồi yên chí
rằng cái gam-chủ trong thơ ông và trong đời ông là thứ gam
mineur-nhàn-dật. Họ quên rằng chính ông đã nói rõ: “Tôi lúc nhỏ chịu sự
dạy dỗ của gia dình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chỉ thích
nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui... ”. Rõ ràng không thể
lấy cái âm hưởng thơ ông lúc chờ thời hay cái âm hưởng hoàng hôn cuối
đời để định giá toàn bộ thơ ông và đời ông. Ba mươi năm phò nhà Mạc và
hàng trăm bài thơ chữ Hán chứng minh rằng ông sống hào hùng và tung
hoành khí phách. Hiển nhiên gam chủ của thơ ông và đời ông là thứ gam
majeur-hành động.
Ông cũng có những mâu thuẫn nội tâm rất lạ. Chính ông đã thông gia với
Phạm Quỳnh, một người xuất thân là lái buôn chè, sau làm đến Tiết chế
Đông đạo, đại diện cho tập đoàn doanh thương tại triều Mạc Phúc Nguyên
(con trai Phạm Quỳnh là Phạm Dao làm trấn thủ xứ Sơn Nam tức con rể
ông, trở thành một lộng thần trong triều đình). Cũng chính ông lại
khinh ghét giới thương nhân và miệt thị đồng tiền, tìm cách xa lánh đời
sống đô thị.
Tất nhiên, không thể đòi hỏi một người xuất thân từ cửa Khổng như ông
lại phải chấp nhận mặt tích cực của đồng tiền và giới thương nhân. Ngay
những người thông tuệ đến sau ông hàng mấy thế kỷ như Nguyễn Du, Nguyễn
Công Trứ, Trần Tế Xương... và ngay cả những tác gia hiện đại mà gần kề
chúng ta nhất như Lưu Quang Vũ còn chẳng thấy rõ huống chi ông? Giới
trí thức dù xuất thân từ quý tộc hay bình dân mà nằm trong vòng vây của
ý thức hệ tiểu nông thì không thể tránh khỏi thái độ thù ghét đồng tiền
và sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Họ không sao chịu nổi sức
san phẳng tàn nhẫn của đồng tiền và sự đảo lộn bảng giá trị xã hội; họ
càng không chịu dựng nổi thói nhố nhăng hãnh tiến của giới thương nhân
ít học hoặc vô học nhưng lại có quá nhiều tiền bạc, thường biểu lộ thái
độ thô bạo đối với những giá trị cổ truyền.
Điều thú vị là Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân từ cửa Khổng, ông đi ngang
qua sân nhà Lão tử, rồi dừng lại trước cửa Thiền, suy ngẫm về giáo lý
và đạo lý, cuối cùng ông đã trở về với đồng ruộng và lũy tre xanh của
làng quê Việt Nam, hay nói khác đi, ông đã trở về với dân tộc. Suốt đời
ông, ông đã sống như mình cần sống và đã hành động như mình cần hành
động. Ông tự rèn luyện và trang bị cho mình một học vấn uyên bác, một
tài năng kiệt xuất. Chưa gặp thời, ông ẩn mình chờ đợi. Gặp thời, ông
dốc lòng, dốc sức phò vua, giúp nước, cứu dân. Ông nhìn ngắm cảnh đẹp
của đất nước, suy tư về nhân tình thế thái và đạo lý làm người rồi diễn
đạt thành thơ ca bằng một ngôn từ tươi đẹp, trong sáng, giản dị, bằng
một nhịp điệu khi hào hùng, khi êm ái của một tâm hồn Việt Nam thanh
thảnh yêu con người, yêu đất trời và yêu tự do. Cảm xúc của ông lúc
lâng lâng phấn chấn, lúc chua chát u buồn nhưng bao giờ cũng trĩu nặng
tình người; tư duy của ông sâu sắc nhưng có phần khép kín và bế tắc.
Tất cả ở ông đều đạt tới đỉnh cao của thời đại và tỏa rạng vào tương
lai. Nhưng dầu sao, như nhiều danh nhân khác của dân tộc, ông cũng bị
mắc nghẽn trong vòng vây của phạm trù tư duy tiểu nông, luôn luôn sống
bằng kinh nghiệm và không ngừng nuối tiếc quá khứ một đi không bao giờ
trở lại. Ông thấu tình nhưng chưa đạt lý, cái lý của một thời kỳ lộn
xộn điên đảo ắt phải xảy ra để chuẩn bị cho sự kiến lập một trật tự
mới, ổn định và phát triển. Ông đau buồn chứng kiến một cách không tự
giác, một thời kỳ trở mình và thất bại của dân tộc. Thêm một lần nữa,
sau nhà Hồ, tập đoàn quý tộc quan liêu lại đánh bại tập đoàn doanh
thương. Không thể đòi hỏi ở ông nhiều hơn nữa, vì rất nhiều người trong
chúng ta sống sau ông gần 5 thế kỷ vẫn chưa thức nhận một cách đầy đủ
rằng: “Phàm đã đạt tới đỉnh thì tất nhiên phải xuống dốc, xuống cấp”.
Nếu không biết bước qua, nhảy sang được phạm trù tư duy công nghiệp và
xây dựng một xã hội công nghiệp với một nền kinh tế hàng hóa phát triển
thì phải rơi vào cái vòng xoáy trôn ốc đi xuống. Đó là quy luật khắc
nghiệt về kinh tế, cũng là quy luật khắc nghiệt về mặt văn hóa, xã hội.
Điều đáng mừng là, trừ đi những phần hạn chế mà không một ai tránh
khỏi, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là một nhân cách lớn, tiêu biểu cho tinh
hoa văn hóa truyền thống Việt Nam. Tâm hồn Nguyễn Bỉnh Khiêm tươi đẹp
và trong sáng như đất nước và ngôn từ Việt Nam luôn luôn trong sáng,
tươi dẹp. Chúng ta biết ơn ông vì ông đã để lại cho đời một bài học
lớn: Người trí thức chân chính dẫu gặp khó khăn nguy khốn vẫn phải giữ
vững khí tiết và niềm tin, và không quên hành động hết lòng vì đại
nghĩa của dân tộc. Đó chính là một trong những nhân tố cơ bản tạo nên
từng nhân cách văn hóa.
Đối với giới nghiên cứu sử học và giới nghiên cứu văn học, dẫu sao một
vấn đề quan trọng vẫn còn treo đó, đáng được thảo luận, tranh luận:
- Phải chăng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhầm lẫn hoặc hèn nhát khi bỏ ra 30
năm đời mình và cả sáu con trai của mình toàn tâm tòan ý phục vụ vương
triều Mạc?
- Hay phải chăng nhà Mạc là một vương triều tốt xứng đáng được những
người có tài năng và đức dộ như cha con Nguyễn Bỉnh Khiêm phụng sự?
... VÀ CÓ HAI NHÀ MẠC!
Tác giả Đại Việt sử ký toàn thư coi nhà Mạc là “ngụy
triều” nên không thèm chép riêng thành một kỷ và gọi một cách khinh bỉ
là “Mạc thị”. Lê Quý Đôn thì xếp tất cả các vua Mạc vào loại “nghịch
thần”. Sử quán triều Nguyễn thì càng khe khắt, khỏi bàn. Sử gia Trần
Trọng Kim thì mạt sát hết lời:
“Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp ngôi, ấy là
một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại
đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc; làm ông vua
mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần rồi
trói mình lại, đến quỳ lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch
để cầu lấy cái phú quý cho một thân một mình và một nhà mình, ấy là một
người không biết liêm sỉ.
Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn
của loài người là không có nhân phẩm: một người như thế ai mà kính
phục” . Tất nhiên khi chép về sự kiện vua quan nhà Nguyễn lần lượt cắt
đất ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, rồi đầu hàng và
dâng cả đất nước Đại Nam cho xâm lược Pháp, thì sử gia Trần Trọng Kim
lại chuyển giọng khác. Sử gia coi đó không phải là chuyện “phản quốc”
và “vô liêm sỉ”... mà là chuyện có thể thông cảm được. Vua Tự Đức vẫn
là một đấng anh quân đáng kính phục vì dẫu sao ngài vẫn là một ông vua
hay chữ và lại rất có hiếu với mẹ ngài.
Khen, chê là thẩm quyền của các sử gia. Điều tôi muốn bàn ở đây là vấn
đề sự thật lịch sử. Không cần thiết phải bênh vực cho vua Mạc hay bất
cứ thứ vua chúa nào. Nhưng khi thấy sự thật lịch sử bị bóp méo hoặc
xuyên tạc thì cần đính chính.
Về chuyện cắt đất cho nhà Minh, tác giả Đại Việt sử ký toàn thư có ghi hai lần.
Lần thứ nhất vào năm 1582 (???): “Đăng Dung sợ nhà Minh đem quân sang
hỏi tội, bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy Thuận (...)”.
Lần thứ hai vào năm Canh Tý (1540), (Mạc Đại Chính năm thứ 11- Minh Gia
Tĩnh năm thứ 19): “Mùa đông tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là
Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Thế Khanh, Đặng Văn Trị,
Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi
Trí Vĩnh qua trấn Nam quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây vào cổ,
đi chân không đến bò rạp ở Mạc phủ nước Minh, giập đầu quỳ dâng tờ biểu
xin hàng, biên hết đất đai quân dân trong nước để xin xử phân, nộp các
động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh
An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc, lệ vào Khâm Châu, lại xin ban cho
chính sóc, cho ấn chương và cẩn thận che chở, giữ gìn để đợi đổi định.
Lại sai Văn Minh và bọn Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu
hàng đến Yên Kinh” .
Như thế là tác giả Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rằng
Mạc Đăng Dung nộp cho nhà Minh 6 động của châu Vĩnh An. Còn Trần Trọng
Kim thì chép là Mạc Đăng Dung “xin dâng đất 5 động: là động Tê Phù,
động Kim Lạc, động Cổ Xung, động Liễu Cát, động La Phù và đất Khâm
Châu” .
Không rõ căn cứ vào tư liệu, văn bản nào mà sử gia Trần Trọng Kim bớt
đi một động (An Lương) chép sai tên một động (Cổ Sâm thành Cổ Xung) và
đặc biệt là thêm ra một châu (châu Khâm). Chưa cần phải kiểm tra, khảo
cứu gì cũng lập lức thấy ngay sử gia Trần Trọng Kim đã bịa thêm ra cái
gọi là “Khâm Châu”. Khâm Châu là đất thuộc Trung Quốc từ trước đời nhà
Tống và đến đời Minh, và đến tận ngày nay nó vẫn là đất của Trung Quốc;
làm sao Mạc Đăng Dung lại có thể cắt đất dâng nộp phần dất không phải
của nước mình?
Về hai châu Quy Thuận cũng thế, học giả Đào Duy Anh đã chứng minh rằng tác giả Đại Việt sử ký toàn thư nhầm. Đó là hai châu của Trung Quốc.
Đào Duy Anh đã khảo chứng và chú giải như sau: “Minh sử quyển 321 chỉ
chép: (Cướp ngôi rồi) qua một năm thì (Mạc Đăng Dung) sai sứ sang cống,
đến thành Lạng Sơn bị đánh mà trở về chứ không chép việc Đăng Dung dâng
đất hai châu Quy Thuận để tạ tội. Vả chăng hai châu Quy Thuận thì nhà
Tống đã chiếm từ thời Lý nước ta rồi. Hai châu Quy Thuận là châu Quy
Hóa và châu Thuận An. Trung Quốc địa danh đại từ điển nói rằng châu Quy
Hóa đời Tống trị sở ở tại huyện Nghi Sơn tỉnh Quảng Tây. Nhà Tống đặt
châu ấy với đất Vật Dương do Nùng Trí Hội nộp. Châu Thuận An thì nhà
Tống đặt ở đất Vật Ác do Nùng Tôn Đản nộp, và các đất Lôi Hỏa, Kế
Thành, Ôn Nhuận. Hai châu ấy về sau trở thành châu Quy Thuận tỉnh Quảng
Tây” .
Về chuyện nộp 6 động, học giả Đào Duy Anh cũng nêu rõ: “Minh sử quyển
321 chép: Năm (Gia Tĩnh) thứ l9, bấy giờ Phương Doanh (tức Đăng Doanh)
đã chết, Đăng Dung sai ngay sứ đi xin hàng. Tháng 11 đem cháu là Văn
Minh cùng đầu mục bộ hạ 42 người, vào trấn Nam Quan, đầu tù chân đất,
bò rạp dập đầu ở trước đàn để dâng biểu xin hàng. Bá Ôn thay lời chiếu
xá cho. Lại đến quân môn bò rạp lạy lần nữa, để dâng sổ sách về thổ địa
quân dân và xin ban chính sóc để làm phiên thần mãi mãi” .
Cũng về sự kiện này, Lê Quý Đôn lại chép như sau: “Sợ nhà Minh đem quân
đánh, Đăng Dung mật sai người hối lộ viên tướng giữ châu Liêm là Trương
Nhạc. Trương Nhạc yêu cầu xin cắt đất nộp nhà Minh và bỏ đế hiệu. Viên
tham chính nhà Minh là Vạn Đạt sai bọn Vương Lương Phục đem tờ sức đòi
Đăng Dung phải đích thân đến cửa quân, nộp đất dựng mốc; bỏ đế hiệu đã
tiếm xưng, và vâng lĩnh lịch, theo đúng ngày tháng của Trung Quốc” .
Rồi cũng chính tác giả Đại Việt sử ký toàn thư
lại chép trong tác phẩm của mình như sau: “Tháng 10 ngày 20 (l540), bọn
Mao Bá Ôn về Yên Kinh tâu nói rằng: Mạc Đăng Dung tự trói mình dâng lễ
hàng ở cửa ải, xin tuân theo chính sóc, tước bỏ tiếm hiệu, trả tại đất
4 động đã xâm chiếm, xin nội phụ, xưng thần (...)” (tôi gạch dưới -
T.K).
Như vậy là cần phải khảo chứng cho thật rõ ràng chính xác vấn đề: Mạc
Đăng Dung đã nộp bao nhiêu đất: 6 động, 5 động hay 4 động? Và việc “trả
lại đất 4 động đã xâm chiếm” cụ thể là đất nào? Đã xâm chiếm hồi nào?
Và ai xâm chiếm?
Khi khảo đến sách Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn
Siêu, tôi càng vô cùng kinh ngạc. Vì theo Nguyễn Văn Siêu thì “Vĩnh An
châu chí niên hiệu Hồng Đức triều Lê chỉ có 3 xã, không có động”(?)
Phần này tác giả Phương Đình dư địa chí khảo cứu khá kỹ và cũng
nêu lên một mối ngờ rất lớn. Ông viết: “Trong Tiền Lê bản kỷ chép: “Mạc
Đăng Dung đã cướp ngôi nhà Lê năm thứ 19 niên hiệu Gia Tĩnh triều Minh,
đem bản tịch 13 đạo Thừa chính tư xin hàng, lại nộp 6 động Tư Phù, Kim
Lạc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù ở châu Vĩnh An (An Bang thừa
chính tư) thuộc vào châu Khâm”. Trong Lê Đại Hành kỷ chép: “dân Triều
Dương muốn làm loạn trốn sang trấn Như Tích thuộc châu Khâm nhà Tống” -
đến đời Lý Thái tổ đổi Triều Dương là Vĩnh An châu - Vĩnh An châu chí
niên hiệu Hồng Đức triều Lê chỉ có 3 xã, không có động. Khâm châu chí
nhà Minh chép phía Tây có 2 tuần kiểm tư là trấn Như Tích và Phật Đào
tiếp giáp với nước Giao Chỉ. Năm thứ hai niên hiệu Tuyên Đức bị mất vào
nước An Nam. Năm thứ 20 niên hiệu Gia Tĩnh lại lấy lại. Thế thì 6 động
họ Mạc đem nộp, ngờ là đất Như Tích, Phật Đào ở Khâm châu. Chỉ vì tên
gọi thay đổi khác nhau mà thôi”.
Tiếp theo ông lại trình bày rất tỉ mỉ về địa giới châu Vĩnh An (An Bang
thừa chính tư) cũng như địa giới châu Khâm biến động theo các triều đại
Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, và ông đã đặt giả thiết như sau:
“Sách Nhất thống chí nhà Thanh lại chép: Mấy động Tê Lẫm,
Liễu Cát, Cổ Sâm, An Lương, đời Tông mới đặt động trưởng thuộc châu
Khâm. Năm thứ 2 niên hiệu Tuyên Đức thuộc về nước Giao Chỉ. Năm thứ 19
niên hiệu Gia Tĩnh lại lấy lại. Thế thì hợp với việc nhà Mạc nộp đất.
Nhưng niên hiệu Tuyên Đức nếu đã theo về Giao Chỉ thì Vĩnh An châu chí
lúc đầu nhà Lê vì sao không chép, có lẽ nhà Mạc lúc xâm lấn kịp khi
mang bản tịch xin hàng lại đem đất đã lấn được giả lại vậy” (tôi gạch
dưới – T.K).
Tôi xin nêu ra những chứng cứ trên và xin được chất chính với các sử
gia hiện nay đang nghiên cứu thời kỳ lịch sử này. Về sự kiện này, tôi
cũng xin phép có ý kiến như sau: qua khảo chứng tôi thấy tác giả Đại Việt sử ký toàn thư
chép sự kiện lịch sử này có phần thiếu chính xác, có phần chưa đầy đủ.
Nhưng dù sao ông cũng có phần thận trọng và không đưa ra lời bàn (ông
chỉ đưa lời bàn về sự kiện “cướp ngôi”). Còn sử gia Trần Trọng Kim thì
vừa xuyên tạc, vừa buông lời mạt sát nhà Mạc một cách thiếu thận trọng.
Căn cứ vào lời chép lại của Đại Việt sử ký toàn thư theo Minh sử
thì nhà Minh bắt Mạc Đăng Dung “trả lại đất 4 động đã xâm chiếm” và căn
cứ vào khảo chứng của Nguyễn Văn Siêu với kết luận dè dặt của ông rằng
“có lẽ nhà Mạc lúc mới xâm lấn kịp thời mang bản tịch xin hàng lại đem
đất đã lấn được giả lại vậy”, thiết nghĩ có thể tạm kết luận:
Nếu Mạc Đăng Dung có mắc tội thì không phải là cái tội “cắt đất mà dâng
cho người” mà “tội” của Mạc Đăng Dung là đã xâm lấn đất của người rồi
không giữ nổi lại phải đem nộp trả lại đất dã lấn. Điều đáng buồn là
những điều chép sai ngoa trong sử sách như vậy cứ được truyền thấm vào
tim óc hết thế hệ này đến thế hệ khác và đáng sợ hơn nữa nó lại thấm cả
vào ngòi bút của mấy nhà biên soạn sử của ta dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của Ủy ban KHXH Việt Nam. Tập thể các sử gia đó đã viết như sau:
“(...) Họ Mạc đã tỏ ra hèn hạ, không kế thừa được truyền thống giữ nước
vô cùng oanh liệt của dân tộc. Trước sự đe dọa của nhà Minh, Mạc Đăng
Dung đã đầu hàng và đem dâng một phần đất của Tổ quốc cho kẻ thù để
mong được rảnh tay đàn áp nhân dân và đối phó với phe phái đối lập
trong nước.
Độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và thanh danh của đất nước đó là
những điều thiêng liêng đối với người Việt Nam từ ngàn xưa, nay bị xúc
phạm vì sự bất lực và hèn nhát của tập đoàn thống trị họ Mạc” .
Hiển nhiên là trong khi viết và xét duyệt thông qua những dòng phê phán
đầy nhiệt tình yêu nước và đầy sự phẫn nộ của lý trí như thế, mấy sử
gia hiện đại trong biên chế của ta lãng quên mất rằng trong cái “tập
đoàn thống trị bất lực và hèn nhát” ấy có mặt cả những người như Tả thị
lang Hình bộ kiêm Đông các đại học sĩ Trình Tuyền hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm
vĩ đại và đáng kính của dân tộc ta. Mà Trình Tuyền hầu, sau này là Thái
phó Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm, thủy chung không hề coi nhà Mạc
là “ngụy triều”, không một lời phê phán cái hành động “đem đất đã lấn
được trả lại” nhà Minh, cũng không một lời chê trách cái “khổ nhục kế”
trá hàng tự buộc dây vào cổ, dập dầu quỳ lạy ở Mạc phủ nước Minh mà
dâng biểu xin hàng của vua tôi nhà Mạc.
Chắc chắn rằng lịch sử được nhìn theo quan điểm thực tiễn của dân tộc
kết hợp với quan điểm duy vật khoa học của thời đại chúng ta, nếu chưa
kịp khen thì cũng không hề chê những hành động ngoại giao nhún nhường,
khôn khéo hạ mình trước một đối phương quá mạnh, cốt sao giữ yên được
bờ cõi và chủ quyền.
Chẳng phải chính vua Quang Trung sau chiến thắng Đống Đa lừng lẫy vẫn
phải vờ vịt thần phục thiên triều và cử giả vương sang làm lễ ôm gối
Càn Long nhà Thanh chiến bại để tỏ tình phụ tử?
Chẳng phải chính Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ dại của chúng ta vẫn thấy cần
hạ mình đến thăm tên tướng Tàu phù Tiêu Văn để đưa dân tộc thoát cảnh
hiểm nghèo vào lúc Việt Nam dân chủ cộng hòa còn trong nước? Chẳng lẽ
lịch sử đã coi đó là những hành động ngoại giao khôn khéo lại không
phải là sự đánh giá công bằng, chính xác?
Rút lại nhà Mạc thường bị lên án về ba tội: cướp ngôi nhà Lê, cắt đất
của Tổ quốc dâng cho nhà Minh, đầu hàng nhà Minh một cách nhục nhã. Với
quan điểm của chúng ta hiện tại: việc giành lấy ngôi vua từ tay một
triều đại, một dòng họ đã suy tàn là hợp quy luật, việc trá hàng nhẫn
nhục để giữ yên bờ cõi và bảo toàn chủ quyền là khôn khéo. Còn tội “cắl
đất” dâng cho kẻ thù rõ ràng là không có chứng cứ chính xác. Chờ đến
khi có nhà nghiên cứu nào đưa ra được chứng cứ lịch sử khác, tôi có thể
khẳng định rằng:
NHÀ MẠC KHÔNG HỀ MẮC TỘI PHẢN QUỐC!
Đó là chưa kể các tác giả của Đại Việt sử ký toàn thư và Đại Việt thông sử
đều ghi nhận và khen ngợi một lời di chúc vô cùng đôn hậu và chứa chan
tình yêu nước, thương dân của một đại thần nhà Mạc là Phò mã đô uý Thái
phó Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn. Trước khi mất, ông đã đưa thư khuyên
Mạc Kính Cung rằng:
“Nay nhà Mạc khí vận đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời vậy.
Dân ta là dân vô tội, mà để cho mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế. Bọn
ta nên tránh ra ở nước khác, chứa nuôi uy lực, chịu khuất đợi thời, xem
khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được, rất không nên lấy sức
chọi sức, hai con hổ đánh nhau tất có một con bị thương, không được
việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, cần
phải phòng bị cẩn thận là hơn. Lại chớ nên mời người nước Minh vào
trong nước ta, để đến nỗi dân ta phải chịu lầm than, đó cũng là tội
không gì nặng bằng” . (tôi nhấn mạnh - T.K).
Giá như mọi thứ Mạt Trần, Mạt Lê, Mạt Nguyễn... đều biết suy nghĩ như
thế! Và chẳng lẽ một lời nói đẹp như vậy không đáng được nhắc lại để
con cháu chúng ta ngẫm nghĩ hay sao? Và chẳng lẽ những lời nói đẹp
tương tự đã vang lên dưới các triều vua Mạc lại không đáng được đưa vào
sách giáo khoa hay sao:
“(...) Kính xin bệ hạ ban sắc cho triều thần bàn những điều luật thương
dân. Lại cần bồi dưỡng gốc nước, cố kết nhân tâm, hậu đãi dân mà không
bắt dân khốn, giúp đỡ dân mà không bắt dân mệt, không nên dùng phí sức
dân, nên giảm bớt sự phục dịch của dân. Đó là kế sách trị bình vậy”
(trích tờ sớ của Lại bộ thượng thư Tô Khê hầu Giáp Trưng dâng vua Mạc
Mậu Hợp phê phán việc thuế khóa khiến dân không được yên) .
Khảo sát nghiên cứu về nhà Mạc, tôi thấy triều Mạc lúc xuống dốc suy
tàn cũng xấu xa chẳng kém bất cứ triều đại phong kiến chính thống nào
trong lịch sử dân tộc. Những đấng bậc cầm bút trước tôi cũng đã chép và
phê phán tới mức dư thừa rồi. Do đó tôi thấy chẳng cần thêm gì nữa.
Nhưng còn những mặt tốt đẹp của nhà Mạc? Tất cả hầu như bị lãng quên,
hầu như cho rỗng không đáng nói đến. Vậy thì tôi thấy cần phải nói đến,
cần phải viết ra, ít nhất là một cuốn sách. Đó chính là cuốn “Bàn về
Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà Mạc” có độ dày khoảng trên dưới 300 trang.
Trong phạm vi bài tham luận này, tôi chỉ xin phép nêu một số luận điểm
về Vương triều Mạc mong góp phần thảo luận với giới nghiên cứu sử học
và giới nghiên cứu văn học:
1. Nhà Mạc là một triều đại được nhân dân đương thời công nhận và ủng hộ.
Tác giả Đại Việt sử ký toàn thư dù khinh ghét “ngụy triều”
Mạc vẫn đã khách quan ghi nhận: “Tháng 6 Đinh hợi (1527) Mạc Đăng Dung
từ Cổ Trai vào kinh bắt hiếp vua phải nhường ngôi. Bấy giờ thần dân
trong nước đều theo Mạc Đăng Dung, đều đón vào kinh sư”. (Đại Việt sử ký toàn thư. q. 4, tr. 118).
67 năm trị vì ở Đông Kinh cộng với 75 năm tồn tại trên đất Cao Bằng đã
xác nhận vương triều Mạc có một cơ sở xã hội khá vững chắc, đáng được
tìm hiểu và nghiên cứu.
2. Nhà Mạc là một triều đại đã từng tạo ra được một xã hội ổn định, no ấm, có kỷ cương và pháp luật.
Sách Ô châu cận lục có ghi khá cụ thể những cảnh sinh hoạt phồn thịnh của thời kỳ này. Và ngay tác giả Đại Việt sử ký toàn thư và Lê Quý Đôn cũng đã ghi nhận:
“Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và
binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đó
những người đi buôn hán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự
vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến
không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm
liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”.
Tác giả Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi thêm hiện tượng “đường sá không nhặt của rơi, cổng ngoài không cần đóng”.
3. Đó là một vương triều có chính sách khuyến khích phát triển
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương.
Việc buôn bán với các nước Nhật Bản, Triều Tiên, các nước Đông Nam Á và
bán đảo Tiểu Á được mở rộng. Một số thuyền buôn phương Tây cũng đã có
mặt. Đường, hồ tiêu, tơ lụa, quế, hồi, sa nhân và đồ gốm là các mặt
hàng được các nước ưa chuộng.
4. Vương triều Mạc chú ý phát triển giáo dục và đào tạo được nhiều nhân tài kiệt xuất.
Vua Mạc khuyến khích xây trường học, trực tiếp sai một đại thần trông
nom việc sửa chữa trong Quốc tử giám và đích thân đi thăm nhà Thái học.
Trong 67 năm, nhà Mạc tổ chức đều đặn 20 kỳ thi Hội, đào tạo được 20
Trạng nguyên và khoảng 456 Tiến sĩ. Có nhiều nhân vật kiệt xuất như
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguycn Thiến, Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Bùi
Vinh, Giáp Hải, Giáp Trưng, Nguyễn Năng Nhuận, Đặng Vô Cạnh, Trần Văn
Nghi, Hoàng Sĩ Khải, Phạm Quỳnh, Phạm Dao, Hà Nhậm Đại, Bùi Văn Khuê,
Mạc Kính Điển, Dương Văn An, Nguyễn Quang Bật, v.v... Đặc biệt có
Nguyễn Thị Duệ người Chí Linh (Hải Dương) là người phụ nữ Việt Nam đầu
tiên cải trang nam giới đi thi đỗ Tiến sĩ dưới triều Mạc.
5. Đó là một vương triều trọng chữ Nôm, khuyến khích sáng tác
văn thơ Nôm và tạo ra một thời kỳ văn học Nôm rực rỡ trong lịch sử văn
học dân tộc.
Thơ văn Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Hoàng Sĩ Khải, Lê Bá
Ly... đã đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử văn học dân tộc. Tô công phụng sứ và Lâm tuyền kỳ ngộ là những truyện thơ Nôrn viết theo thể Đường luật có giá trị.
Một bài phú Nôm của Bùi Vinh mà được vua Mạc thưởng tới 10 lạng vàng
thật là chuyện hiếm thấy trong lịch sử văn học nước nhà. (Với cả một
tập Đại Nam quốc sử diễn ca
mà Lê Ngô Cát chỉ được vua Tự Đức thưởng cho một tấm lụa với hai đồng
tiền khiến cho tác giả nhếch mép cười khẩy: “Vua khen thằng Cát có tài;
Ban cho cái khố với hai đồng tiền).
6. Dưới vương triều Mạc, nhiều ngành nghệ thuật phát triển rực rỡ và độc đáo.
Hầu hết các chùa đổ nát đều được trùng tu và các chùa Tây Phương, Phổ
Minh đã đánh dấu một nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ khá tài hoa độc
đáo. Tượng bà chúa Mạc ở chùa Phổ Minh và các pho tượng La Hán chùa Tây
Phương là những công trình nghệ thuật đậm đà màu sắc dân tộc . Đặc biệt
là gốm thời Mạc lại ghi khắc cả niên hiệu, nơi sản xuất và tên nghệ
nhân. Ghi tên tác giả trên tác phẩm gốm có lẽ là một hiện tượng hiếm
thấy trong lịch sử sáng tác gốm ở nước ta và thế giới. Đó là một hiện
tượng cực kỳ độc đáo và lý thú đáng được nhiều ngành khoa học và nghệ
thuật quan tâm nghiên cứu.
Dưới thời nhà Mạc, nghệ thuật kiến trúc lâu đài và thành lũy cũng có nhiều vẻ độc đáo không nên bỏ qua.
7. Triều Mạc có nhiều cởi mở về tư tưởng và ngôn luận.
Nghiên cứu một loạt bản sớ tấu và một số cuộc đàm thoại giữa vua và
đình thần, một số cuộc tranh luận giữa các đại thần nhà Mạc, tôi thấy
dưới triều Mạc có sự cởi mở khá rộng rãi về mặt tư tưởng ngôn luận.
Đặc biệt có sự phê phán chỉ đích danh từng đại thần. Đáng kinh ngạc là
sự phê phán cả nhà vua. Đọc mấy hàng sớ của Lại bộ thượng thư Nghĩa Sơn
bá Trần Văn Nghi cũng tạm hình dung được cái không khí đấu tranh tư
tưởng trong triều đình nhà Mạc mạnh mẽ nhường nào: “Những tờ sớ của các
vị đình thần trước sau đã tâu bày, đều nói thẳng những sự sai lầm, có
thể như những liều thuốc hay rất đáng cứu xét tu tỉnh. Bệ hạ đã ban chỉ
dụ khen ngợi, mà vẫn chưa thấy mở rộng lượng theo lời can gián (...)
Không biết đó có phải do ý định của bệ hạ mà tạo ra tình trạng đó hay
là hoặc có kẻ làm mờ ám thông minh, lừa dối bệ hạ chăng?
Những việc như thế rất trái với đường lối trị nước. Cho nên thể thống
triều đình ngày càng rối lọan, những lời công luận, ngày càng bế tắc”.
Hàng loạt sớ nói năng thẳng thắn theo kiểu ấy mà lạ thay vua Mạc không hề hạ lệnh tống giam hoặc giết bỏ một ai.
Tóm lại, có thể nói không quá đáng rằng: nhà Mạc là một vương triều
chẳng có gì xấu hơn các vương triều khác và nó cũng tốt chẳng kém bất
kỳ vương triều chính thống nào trong lịch sử dân tộc. Riêng về những
nét độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc thì hầu như ít có vương triều sau
này sánh nổi.
Do đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng 6 con trai ông và rất nhiều nhân tài khác
(có một số là cựu thần nhà Lê) tình nguyện và tận tụy phụng sự vương
triều Mạc tưởng cũng chẳng có gì khó hiểu. Tất cả đều đóng góp vào một
giai đoạn phát triển của dân tộc về mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kinh
tế và văn hóa. Giai đoạn này tương ứng với giai đoạn phát triển của một
số nước ở châu Âu sau dó khoảng nửa thế kỷ. Riêng về sự thất hại của
nhà Mạc, tôi sẽ lý giải trong một dịp khác. Chỉ xin nói ngay một điều:
đó là sự thất bại nằm trong sự thất bại của tầng lớp thương nhân Việt
Nam bắt đầu tính từ thời nhà Hồ, qua nhà Mạc, nhà Tây Sơn, cho đến tận
nhà Nguyễn với cuộc đàn áp khốc liệt, dẫm máu của vua Minh Mệnh đối với
cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi trên đất Gia Định vốn có một nền kinh tế
hàng hóa phát triển. Sự thắng thế của các tập đoàn quý tộc quan liêu và
ý thức hệ tiểu nông đã nhiều phen cản trở sự phát triển của nền kinh tế
hàng hóa, đồng thời tạo ra những thảm họa cho đất nước và dân tộc.
Ngẫm như thế, càng thấy thấm thía cái ý nghĩa của chủ trương đẩy mạnh
sự phát triển nền kinh tế hàng hóa và mở rộng cửa giao lưu kinh tế và
văn hóa với thế giới trong giai đoạn hiện nay. Đường lối, chủ trương đã
đúng, nếu lại kèm theo việc sử dụng đúng nhân tài và có biện pháp tổ
chức thích hợp, còn lo gì không đuổi kịp các nước tiên tiến trong một
tương lai không xa.
TP.HCM, tháng 7-1991.
Ghi thêm:
Thông qua ông Hoàng Lê - chuyên viên nghiên cứu Viện Hán Nôm (Hà Nội),
chúng tôi có dịp liên hệ với các chi họ Mạc ở các tỉnh phía Bắc và được
sự giúp đỡ để tiến hành hai đợt khảo sát điền dã:
Đợt 1: Khảo sát các di tích của vương triều Mạc và tiếp xúc với các vị
hậu duệ dòng họ Mạc ở 5 tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Hải Hưng, Hải Phòng, Nam
Hà (tháng 10-1993).
Đợt 2: Khảo sát phòng tuyến sông Đáy và một số di tích khác ở Nam Hà và
Hà Nội. Đồng thời chúng tôi có dịp họp bàn với các vị đại diện các chi
họ Mạc tại Hà Nội (tháng 7-1995).
Tháng 5-1995, trong dịp sang Pháp dự hội thảo quốc tế về Việt Nam,
chúng tôi đến thăm giáo sư Hoàng Xuân Hãn và có trao đổi với giáo sư về
vương triều Mạc.
Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các ông Hoàng Lê, Bùi Trần
Chuyên, Thạch Văn Thụ, Lều Thọ Vực, Lê Xuân Quang, Phạm Trọng Thanh,
Phan Đăng Nhật, Hoàng Nhật Tân, Phạm Minh Nguyệt (con trai liệt sĩ Phạm
Hồng Thái) và nhiều vị khác đã nhiệt tình giúp đỡ cung cấp tư liệu hoặc
góp phần tài trợ cho các chuyến đi điền dã khảo sát của chúng tôi. Trân
trọng cảm ơn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã cho nhiều ý kiến quý báu. Chúng
tôi dự kiến tiếp tục khảo sát dần các vùng Cao Bằng, Bắc Giang, Thái
Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định... vào thời gian tới.
Tháng 7-1995.
Trần Khuê
GÓP Ý VỚI HỌC GIẢ TRẦN KHUÊ VỀ NGHI VẤN LỊCH SỬ: MẠC ĐĂNG DUNG
Trương Nhân Tuấn
Nhân buổi hội-thảo khoa-học « Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch-sử
phát-triển văn-hóa dân-tộc » do trung-tâm Nghiên-Cứu Hán-Nôm, viện KHXH
Saigon, tổ-chức vào tháng 10 năm 1991, học-giả Trần Khuê có viết một
bài tham-luận mang tựa-đề « Cần Hiểu Ðúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương
Triều Mạc ». Ðây là một bài viết khá công-phu, tài-liệu phong-phú, đã
đặt lại một số vấn-đề về hai nhân-vật lịch-sử Nguyễn Bỉnh Khiêm và Mạc
Ðăng Dung. Người viết đọc được bài tham-luận này không lâu, nhờ sự
tình-cờ « gặp » được học-giả Trần Khuê trên mạng lưới thông-tin
toàn-cầu internet. Ông Trần Khuê gởi cho người viết bài tham-luận trên
vào ngày 20-8-2005. Những vấn-đề mà học-giả Trần-Khuê đề-cập trong bài
đã bất-động trong lịch-sử từ gần năm trăm năm nay. Việc này cho thấy,
trong lịch-sử, không có sự quá trễ mà chỉ có sự việc đúng hay sai. Vì
thế, người viết bài này xin được góp ý về một số chi-tiết trong bài
tham-luận của học-giả Trần Khuê về nghi-vấn Mạc Ðăng Dung : thực sự họ
Mạc có dâng đất cho Tàu hay không ? Cũng xin nhấn mạnh người viết chỉ
góp ý về nghi-vấn Mạc Đăng Dung và không đặt vấn-đề về Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
Như tựa đề bài tham-luận « Cần Hiểu Ðúng Vương Triều Mạc », học-giả
Trần Khuê đã hàm ý cho rằng đã có nhiều người - nếu không nói là mọi
người – đã hiểu sai về Mạc Ðăng Dung. Vì hiểu sai nên mới cần hiểu lại
cho đúng.
Nhưng thực sự người ta có hiểu sai ?
Học-giả Trần Khuê viết : « Nếu Mạc Đăng Dung có mắc tội thì không phải
là cái tội “cắt đất mà dâng cho người” mà “tội” của Mạc Đăng Dung là đã
xâm lấn đất của người rồi không giữ nổi lại phải đem nộp trả lại đất dã
lấn. »
Ta thấy qua bài viết, dựa vào tài-liệu trong Phương-Đình Địa-Dư Chí của cụ Nguyễn Văn Siêu và Minh Sử do cụ Đào Duy Anh diễn-giải, học-giả Trần Khuê đã phản-bác các luận-cứ từ Đại-Việt Sử-Ký Toàn-Thư của Ngô Sĩ Liên (và nhiều tác-giả khác) và Việt-Nam Sử-Lược
của Trần Trọng Kim về các lời buộc tội trong các sách này đối với Mạc
Đăng Dung. Học-giả Trần Khuê kết-luận : « tội “cắt đất” (của Mạc Đăng
Dung) dâng cho kẻ thù rõ ràng là không có chứng cứ chính xác. Chờ đến
khi có nhà nghiên cứu nào đưa ra được chứng cứ lịch sử khác, tôi có thể
khẳng định rằng: NHÀ MẠC KHÔNG HỀ MẮC TỘI PHẢN QUỐC! ».
Phải nói tất-cả các sử-liệu mà học-giả Trần Khuê đã trình-bày trong bài
tham-luận (về nghi-vấn Mạc Đăng Dung) đều có chung một khuyết-điểm là
thiếu chính-xác. Tác-giả bàn về địa-chí mà không đưa ra một tấm bản-đồ
nào. Tác-giả cũng không xác-định được các vùng đất (trả hay dâng) đó ở
đâu, rộng bao nhiêu, ranh-giới các vùng này được xác-định thế nào. Lỗi
này không phải do ông Trần Khuê mà do cách viết địa-chí của các sử-gia
Việt-Nam ngày xưa. Ta thấy các tài-liệu đã dẫn cũng không thống-nhất về
các tên và con số bao nhiêu vùng đất (động) đổi chủ. Mặt khác,
quan-trọng nhất, những chi-tiết về vụ cắt đất của nhà Mạc trong PĐĐDC
của cụ Nguyễn Văn Siêu thì trích từ Minh-sử. Cần phải kiểm-chứng lại sự trung-thực của Minh-sử trong các vấn-đề tranh-chấp đất-đai với Việt-Nam.
Với những dữ-kiện mù-mờ như thế thì người nghiên-cứu sử hiện nay chỉ có
thể đặt nghi-vấn chứ không thể dựa vào đó để có một kết-luận được. Nếu
học-giả Trần Khuê cho rằng lời kết tội « Mạc Đăng Dung cắt đất dâng cho
kẻ thù » không rõ ràng thì đương-nhiên lời biện-luận « Mạc Đăng Dung
không hề mắc tội phản quốc » cũng không rõ ràng luôn. Vì đâu có ai
xác-định được cụ-thể các vùng đất đó ở nơi nào ?
Nhưng các tài-liệu đã dẫn trên cùng đồng-ý ở điểm: các vùng đất « dâng » hay « nhượng » một số động thuộc về châu Vĩnh-An. Ðại-Việt Sử-Ký Toàn Thư chép 6 động bị dâng thuộc châu Vĩnh-An là Tư-Phù, Kim-Lặc, Cổ-Sâm, Liễu-Cát, An-Lương và La-Phù. Theo Việt-Nam Sử-Lược của Trần Trọng Kim thì ghi 5 động là Tê-Phù, Kim-Lặc, Cổ-Xung (Cổ-Sâm), Liễu-Cát và La-Phù. Theo Ðại-Việt Thông-Sử của Lê Quí Ðôn Tư-Lẫm, Kim-Lặc, Cổ-Sâm, Liễu-Cát thuộc châu An-Quảng và châu Vĩnh-An. Theo Việt-Hoa Thông-Sứ Sử-Lược
của Bế Lãng Ngoạn (Quốc-Học Thư-Xã, Hà-Nội, 1944) thì ghi Tê-Phù (thuộc
Thiếp-Lãng), Kim-Lặc, Cổ-Lâm, Liễu-Cát, La-Phù (thuộc Như-Tích)
Như thế, để có thể kết-luận họ Mạc dâng đất hay chỉ trả đất cho nhà
Minh, ít nhất ta phải xác-định rõ-rệt vị-trí địa-lý của châu Vĩnh-An và
ranh-giới đất này (của nhà Lê) với đất của nhà Minh qua các thời-kỳ.
Bài góp ý này tác-giả cố gắng thục-hiện việc đó.
I. Xác-định đường biên-giới lịch-sử các vùng đất theo sử Việt và sử Tàu:
1. Các chi-tiết tổng-quát lịch-sử, địa-lý giữa các vùng đất
Theo Lê sử, năm thứ 10 của triều Quang-Thuận (1469) chia bản-đồ làm 12
thừa-tuyên, An-Bang gồm có 1 phủ, 3 huyện và 3 châu. Sách Thiên-Nam Dư Hạ
chép : «An-Bang thừa-tuyên có 1 phủ và 7 châu huyện. Phủ là phủ
Ðông-Hải. 3 huyện là Hoành-Bồ, An-Hưng và Chi-Phong. 4 châu là Tân-An,
Vạn-Ninh, Vân-Ðồn và Vĩnh-An. » .
Như thế, thời hậu Lê, châu Vĩnh-An thuộc phủ Hải-Đông, trực-thuộc An-Bang thừa-tuyên. Nhưng : « Tạp-Trú
của Nguyễn Thiên Tích chép : (An-Bang thừa-tuyên có) hai phủ, tám
huyện, sáu châu : Phủ Hải-Ðông gồm 3 huyện 4 châu là Hoa-Phong,
An-Hưng, Hoành-Bồ, Vân-Ðồn, Tân-An, Vạn-Ninh, Vĩnh-An. Phủ Dương-Tuyền
gồm 5 huyện, 2 châu : Hoành-Cừ, Vân-An, Hoa-Nha, An-Hóa, An-Phố,
Như-Tích, Chiêm-Lãng. Mạc Ðăng Dung nộp hai châu Như-Tích, Chiêm-Lãng
cho nhà Minh thuộc vào Khâm-Châu. Sau khi nhà Lê trung-hưng, chúa Trịnh
Thanh Vương cầu riêng với nhà Minh, phong cho là phó quốc-vương mới
dâng đất 3 huyện thuôc phủ Dương-Tuyền, nay (An-Bang thừa Tuyên) chỉ
còn một phủ, 3 huyện, 3 châu mà thôi. »
Có nhiều chi-tiết thú-vị trong đoạn trích trên. Thực ra An-Bang
thừa-tuyên gồm có hai phủ : phủ Dương-Tuyền và phủ Hải-Đông. Lê-sử chép
An-Bang thừa-tuyên chỉ có một phủ Hải-Đông vì rõ-ràng phủ Dương-Tuyền
đã không còn nữa. An-Bang thừa-tuyên chỉ còn một phủ, 3 huyện, 3 châu mà thôi.
Phủ Dương-Tuyền không còn vì hai châu Như-Tích và Chiêm-lãng đã bị Mạc
Đăng Dung nộp cho nhà Minh. Riêng Trịnh Thanh Vương thì dâng cho nhà
Minh 3 huyện. Đáng lẽ phủ Dương-Tuyền phải còn lại 2 huyện, nhưng không
biết hai huyện này ở đâu và số phận ra sao. Ta thấy 6 động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù
thuộc châu Vĩnh-An, phủ Hải-Đông, không thuộc về phủ Dương-Tuyền. Vì
vậy có thể không phải chỉ có một vụ nộp đất châu Vĩnh-An (5, 6 hay 7
động) do Mạc Đăng Dung mà còn có thêm 2 vụ dâng đất khác thuộc phủ
Dương-Tuyền. Đó là các vụ Trịnh Thanh Vương dâng 3 huyện và Mạc Đăng
Dung dâng 2 châu Như-Tích và Chiêm-Lãng cho nhà Minh.
Ðại-Việt Thông-Sử của Lê Quí Ðôn (bản dịch của Trúc-Viên Lê Mạnh
Liêu, bộ Văn-Hóa Giáo-Dục và Thanh-Niên, Sài-Gòn, 1973) mô-tả việc Mạc
Đăng Dung dâng đất như sau: « Mạc Ðăng Dung do cửa quan bên tả bước ra
quì gối, hướng mặt về phương Bắc, dâng tờ biểu hàng và địa-bạ (sổ)
ghi-chép thổ-địa quân-dân trong nước, tình-nguyện nộp các động :
Tư-Lẫm, Kim-Lặc, Cổ-Sâm, Liễu-Cát thuộc châu An-Quảng và châu Vĩnh-An
(của nước ta), để lệ-thuộc vào Khâm-Châu. Trong tờ hàng-biểu có đoạn :
Thủ-thần Khâm-Châu tâu xưng : hai đô Như-Tích, Chiêm-Lăng và bốn động
Tư-Phiêu (đoạn trên ghi là Tư-Lẫm), La-Phù, Cổ-Lâm (trước ghi là
Cổ-Sâm), Liễu-Cát, là đất cũ của Khâm-Châu. Nếu quả như vậy, thì những
đất ấy do triều trước họ Lê mạo nhận. Nay hạ-thần xin tình-nguyện dâng
các đất ấy lệ-thuộc vào Khâm-Châu ». Việc này xãy ra năm 1540.
Ta thấy danh-sách các động do Mạc Đăng Dung nộp và danh-sách do
thủ-thần Khâm-Châu đòi không phù-hợp hoàn-toàn. Danh sách nộp của họ
Mạc ghi dư động Kim-Lặc nhưng thiếu động La-Phù và hai đô Như-Tích và
Chiêm-Lãng.
So-sách các địa-danh trong đoạn vừa dẫn của Lê Quí Đôn với tài-liệu của Nguyễn Văn Siêu trích từ Lê-sử và Tạp-Trú của Nguyễn Thiên Tích dẫn trên, ta thấy có các điểm đáng ghi nhận như sau:
Lê Quí Đôn viết bốn động Tư-Lẫm (Tư-Phiêu), Kim-Lặc, Cổ-Sâm, Liễu-Cát
thuộc châu An-Quảng và Vĩnh-An. Nhưng động nào thuộc châu An-Quảng và
động nào thuộc châu Vĩnh-An ? Châu Vĩnh-An thì đã nhận-diện, thuộc về
phủ Hải-Đông thuộc An-Bang thừa-tuyên, nhưng châu An-Quảng thì không
biết ở đâu. Hai địa danh Như-Tích và Chiêm-Lăng (Nguyễn Văn Siêu viết
Chiêm-Lãng) được viết là “đô”, có thể tương-đương với “châu”, là một
vùng đất tương-đương với “huyện”. Theo Tạp-Trú
của Nguyễn Thiên Tích thì hai châu Như-Tích và Chiêm-Lãng thuộc phủ
Dương-Tuyền, thuộc An-Bang thừa-tuyên. So-sánh danh-sách các động
“dâng” cho nhà Minh thì ta thấy Lê Quí Đôn đưa ra 4 động và 2 châu, Đại-Việt Sử-Ký Toàn Thư đưa ra 6 động. Hai danh-sách này có các tên trùng-hợp là : Kim-Lặc, Cổ-Sâm, Liễu-Cát và La-Phù. Như thế, tác-giả Đại-Việt Sử-Ký Toàn Thư
đã không ghi lại vụ dâng đất Như-Tích và Chiêm-Lãng. Còn cụ Lê Quí Đôn
thì nhập hai vụ dâng (hay trả) đất của Mạc Đăng Dung vào làm một. Một
vụ là các động thuộc châu Vĩnh-An, một vụ là hai “đô” Như-Tích và
Chiêm-Lãng thuộc phủ Dương-Tuyền.
Dựa trên sử-sách của nhà Tống và nhà Minh, cụ Nguyễn Văn Siêu
chứng-minh rằng vùng đất tên gọi Như-Tích vốn thuộc về Trung-Hoa (vào
thời nhà Tống): « Nay xét sách Dư Ðịa Kỷ Thắng
thì trại Như-Tích ở phía Tây Khâm-Châu 160 dặm cách châu Vĩnh-An của
giao-Chỉ 20 dặm, giữ trên đỉnh núi cao, thế rất hiểm-trở, trước đặt
trại để quản-hạt 7 động. Sách Thông-Chí chép : Phía Tây châu (châu
Khâm, chú-thích của tác-giả) có Như-Tích, Cát, Chiêm-Lãng, Tư-Lẫm,
Cổ-Sâm, Thời-La. 7 động (đến) đầu nhà Tống (khoảng năm 960) đều đặt
động trưởng, niên-hiệu Hồng-Vũ nhà Minh mới đặt chức Tuần-Tư ở Như-Tích
để thống-hạt cả, đất ấy phía bắc giáp hai sông Ðông, Tây, phía Nam giáp
Giao-Chỉ. »
Ta thấy cụ Nguyễn Văn Siêu ghi lầm vì chỉ có 6 động thay vì 7. So-sánh danh-sách này với các danh-sách Đại-Việt Sử-Ký Toàn Thư
dẫn trên, ta thấy chỉ có 2 động trùng-hợp : Cát (Liễu-Cát?) và Cổ-Sâm.
Ranh-giới vùng đất này, phía Bắc là hai sông Đông và Tây, phía Nam giáp
Giao-Chỉ. Tìm trong Đại-Thanh Nhứt Thống Chí 大清一統志 và Đại-Thanh Hội Điển Đồ
大清會典圖 người viết bài này không thấy xác-định hai sông Đông và Tây. Có
thể hay sông này đã đổi tên khác mà không ghi-chú lại. Riêng ranh-giới
phía Nam “giáp” Giao-Chỉ thì vô-phương xác-định.
Cụ Nguyễn Văn Siêu viết tiếp: « Năm thứ 14 hiệu Vĩnh-Lạc (1417) lại đặt
thêm chức Vỹ-Ðào Tuần-Tư, năm thứ 2 niên-hiệu Tuyên-Ðức (1428), các
động Tư-Lẫm, Thời-La, Cổ-Sâm, Cát làm phần phụ vào nước Giao-Chỉ, năm
thứ 19 niên-hiệu Gia-Tĩnh (1541), Mạc Ðăng Dung cầu hòa, giả lại đất 4
động cho nhà Minh. Năm thứ 21 tri-châu là Lâm Hy Nguyên vạch-định
bờ-cõi, nhưng chỉ còn Chiêm-Lãng, Thời-La 2 châu mà thôi. Quốc-sử chép
: Vua Lê Ðại Hành năm thứ 3 niên-hiệu Ứng-Thiên (997), người đất
Triều-Dương (nay là Vĩnh-Yên) là lũ Văn-Dũng làm loạn, trốn sang trấn
Như-Tích thuộc châu Khâm nhà Tống, thế thì mấy động Như-Tích thuộc châu
Vĩnh-An, mới có từ niên-hiệu Thuận-Thiên nhà Lê (Tuyên-Ðức nhà Minh),
nhà Mạc giả lại nhà Minh, là giả lại đất lấn, không phải cắt đất để đút
lót vậy ».
Ta thấy cụ Nguyễn Văn Siêu có một lầm-lẫn. Như trên có dẫn, năm
Quang-Thuận thứ 10, châu Vĩnh-An mới được đặt. Thuận-Thiên là hiệu của
vua Lê Thái Tổ (1428-1433), Quang-Thuận là hiệu của vua Lê Thánh Tôn từ
năm 1460 đến 1469 và hiệu Hồng-Ðức từ năm 1470 đến 1497. Vì vậy dưới
triều Thuận-Thiên, châu Vĩnh-An chưa có. Trước đó, thuộc Minh, thì có
châu Tĩnh-An thuộc phủ Tân-An.
Vấn-đề địa-danh Như-Tích có nhiều điểm không thống-nhứt. Giả-sử rằng
động Như-Tích và các động Tư-lẫm, Thời-La, Cổ-Sâm, Cát (Liễu-Cát) thuộc
đất nhà Minh (việc này không có gì chứng-minh), họ Mạc trả đất là trả
đất mà nhà Lê đã lấn trước đó, thì các động La-Phù, Tê-Phù, Kim-Lặc,
An-Lương đã về đâu? Địa-danh Như-Tích, khi thì viết là động, là một
vùng đất nhỏ vùng núi, tương-đương một làng, có khi viết là “đô”, khi
viết là châu. Châu là vùng đất núi, tương-đương với huyện ở đồng-bằng.
Châu có thể do nhiều động góp lại. Có khi viết là “trấn”, là một vùng
đất rất lớn, lớn hơn cả phủ (do nhiều châu, huyện góp lại). Mặt khác,
đơn-vị hành-chánh của Tàu hoàn-toàn khác với Việt-Nam. Minh-sử gọi
Như-Tích là “trại”, Tống-sử gọi là động. Một châu của Tàu có thể bằng
một tỉnh hay nhiều tỉnh của Việt-Nam góp lại. Địa-vực của Như-Tích
không thể xác-định cụ-thể. Vấn-đề xác định ranh-giới vì thế càng
phức-tạp.
2. Xác-định đường biên-giới lịch-sử châu Vĩnh-An và vùng chung-quanh:
Theo Ðào Duy Anh trong Ðất Nước Việt-Nam (Hà-Nội, 1964)
thì động Kim-Lạc có biên-giới là sông Ðàm-Lân, động Liễu-Cát biên-giới
là sông Mang-Khê, động Tư-Lâm (hay Tư-Phù theo sử-ký Việt-Nam)
biên-giới là sông Tam-Kỳ, động Cổ-Sâm có biên-giới là sông Cổ-Sâm. Các
sông này do viên-tướng họ Vương phân-định để lấy làm biên-giới .
Xét Đại-Thanh Nhứt Thống Chí và Đại-Thanh Hội Điển Đồ
người viết không thấy tên các sông Đàm-Lân, Mang-Khê, Tam-Kỳ, Cổ-Sâm.
Địa-chí Việt-Nam thì hình-như không có quyển nào mô-tả các con sông
biên-giới này.
Vị-trí tương-đối các vùng đất tranh-chấp ở khoảng giữa Khâm-Châu của
Trung-Hoa và tỉnh Quảng-Yên của Việt-Nam. « Tỉnh Quảng-Yên tiếp-giáp
tỉnh Quảng-Ðông, Trung-Hoa. Ðất này xưa gọi là châu Giao-Chỉ, nhà Lương
gọi là Hoàng-Châu Ninh-Hải quận, đến nhà Tùy gọi là Ninh-Việt quận. Nhà
Ðường gọi là Lục-Châu, Ngọc-Sơn quận. Sách Vân-Ðài Loại-Ngữ chép : «
Ðường chí : quận Ngọc-Sơn, châu Lục thuộc quận Giao-Chỉ, vốn là
Ngọc-Châu, năm thứ 2 niên-hiệu Thượng-Nguyên đổi là Lục-Châu vì trong
châu có sông Lục-Thủy, cho nên đặt tên, có lẽ là đất Quảng-Yên. Ðời nhà
Minh, nhà Tiền Lê gọi là Triều-Dương trấn, đến đời nhà Lý đổi thành
Vĩnh-Yên châu. Sang đời nhà Trần thì đổi thành Hải-Ðông lộ. Thời Minh
thuộc thì đổi thành châu Tĩnh-An thuộc phủ Tân-An. Sang thời Lê gọi là
An-Bang thuộc Ðông-Ðạo ».
Ta thấy vùng đất này đã nhiều lần bị phân-chia hành-chánh và bị đổi
tên. Mỗi thời-kỳ, mỗi triều-đại vùng đất này được phân-chia khác nhau
và mang tên khác nhau. Những lần phân-chia lại và đổi tên khác như thế,
không thấy một bản-đồ nào mô-tả việc qui-định thẩm-quyền hành-chánh như
ranh-giới các lộ, phủ, huyện, châu … vừa được thành-lập. Mặt khác, có
nhiều biến-cố đã làm cho một số châu, động thuộc vùng đất này bị đổi
chủ-quyền. Nhưng đoạn dẫn trên có ghi tên sông Lục-Thủy.
Ðất Lục-Châu, « có lẽ là đất Quảng-Yên », thuộc Giao-Chỉ và trong đất
nầy có sông Lục-Thủy. Xác-định được sông Lục-Thủy là xác-định được đất
Lục-Châu. Sông Lục-Thủy được mô-tả : « Sông Minh-Giang có hai nguồn,
một phía Nam và một phía Bắc, cả hai đều mang tên Lục-Thủy 綠 水. Dòng
Lục-Thủy Bắc thuộc lãnh-địa Quảng-Tây, dòng Lục-Thủy Nam thì đến từ
huyện Khâm-Châu, chảy theo hướng Bắc – Tây để vào lãnh-địa phủ
Thái-Bình (Quảng-Tây) (Ðại Thanh Hội Ðiển Ðồ , q 122, tờ 26) ».
Nhìn bản-đồ ta thấy cả 2 sông Lục-Thủy đều ở sâu trong lãnh-vực
Quảng-Tây và Quảng-Đông. Đất của Giao-Chỉ đời Ðường (618-907) mở rất xa
về phía Bắc so với biên-giới hiện-hành.
Cụ Nguyễn Văn Siêu viết tiếp: « Châu Khâm phía Ðông-Nam giáp bể có núi
Ô-Lôi, lại có dãy núi Phân-Mao giáp An-Bang nước ta. Ô-Lôi, Thanh-Hoa,
An-Hải vốn thuộc quận Hợp-Phố. Ðời Lưu-Tống là Việt-Châu, đời Ðường là
Lục-Châu. Quận Ngọc-Sơn thuộc An-Nam đô-hộ, sau khi nhà Ðinh dựng nước,
Ô-Lôi mất vào Châu-Khâm ».
Núi Ô-Lôi trước thuộc nước ta, sau nhà Ðinh thì thuộc về Khâm-Châu, nếu
vậy thì biên-giới nước ta ở nơi này phải tiếp-cận với một trái núi mang
tên Ô-Lôi, ở cận biển. Nhưng những trái núi vùng cận-biển hiện nay đều
ở sâu trong lãnh-thổ Trung-Hoa. Núi Ô-Lôi chắc-chắn là phần cuối của
rặng Thập-Vạn Đại Sơn. Trên bản-đồ hiện nay, những núi đó ở cận
Long-Môn. Riêng núi Phân-Mao, Theo Ðại-Thanh Nhứt Thống-Chí thì
Phân-Mao Lĩnh 分 茅 嶺 tọa-lạc về phía Tây huyện-đường Khâm-Châu, cách đây
300 dặm và ở trên đường biên-giới với Việt-Nam.
Theo địa-chí thời Minh thì Phục-Ba tướng-quân Mã-Viện đã dựng dưới chân
ngọn Phân-Mao một trụ đồng vào năm 43 trước TC để đánh dấu biên-giới
hai nước Việt-Nam và Trung-Hoa. Cũng từ chân ngọn núi này, vào năm 74,
quân Hán vượt biên-giới, qua châu Tiên-Yên tiến chiếm Việt-Nam .
« Theo Gia-Khánh Trùng-Tu Nhất Thống Chí
(tức bộ sách địa-dư đời vua Gia-Khánh nhà Minh bên Tàu), núi Phân-Mao ở
về phía Tây Khâm-Châu. Theo Dư Ðịa Chí của Nguyễn Trãi, núi Phân-Mao ở
về phía tây lộ Hải-Đông khoảng 300 dặm. Nơi đây có kim-tiêu quen gọi là
cột đồng Mã-Viện. Theo Đại-Thanh Nhất Thống Chí, núi Phân-Mao ở
động Cổ-Sâm, cách Khâm-Châu (hay Châu Khâm) khoảng 300 dặm về phía tây.
Tương-truyền trên đỉnh núi Phân-Mao có thứ cỏ tranh, do ảnh-hưởng của
khí-hậu và địa-thế, ngọn cỏ tranh ngả theo hai hướng Bắc và Nam cho nên
mới có tên gọi là núi Phân-Mao nghĩa là núi có thứ cỏ chia ra làm hai
hướng. Đại-Việt Sử-Ký Toàn-Thư của ta cũng ghi thêm là : Cột
đồng Đông-Hán do Mã-Viện dựng ở động Cổ-Lâu thuộc Châu Khâm. » Ta thấy
Cổ-Sâm còn có tên là Cổ-Lâu.
Theo Ðại-Thanh Hội Ðiển Ðồ,
một con sông có tên Thiếp-Lãng Giang 貼朗江, cách Khâm-Châu 240 dặm, chảy
theo đường biên-giới Việt-Nam . Sông này bắt nguồn từ những ngọn núi về
phía Tây-Bắc huyện Khâm-Châu . Có một trùng-hợp giữa động Tư-Phù thuộc
Thiếp-Lãng và sông Thiếp-Lãng. Sông Thiếp-Lãng, trên bản-đồ hiện-hành
thì chảy vô Vịnh Bắc-Việt, gần Trường-Bình , phía Bắc sông Gia-Long,
cách sông này khoảng 20km.
Đại-Thanh Nhứt Thống Chí cũng ghi tương-tự : Thiếp-Lãng Giang
貼朗江, cách Khâm-Châu 240 dặm, chảy theo đường biên-giới Việt-Nam. Ta
thấy Thiếp-Lãng Giang (viết trên bản-đồ là Tich-Lang) ở phía bắc một
con sông được đạt tên Ngan-Nan Kiang (An-Nam Giang). Ta cũng thấy trên
đường biên-giới dãy La-Phù Sơn 羅 桴 山, cách huyện Khâm-Châu 65 đến 95
dặm theo hướng Tây-Bắc.
Vậy đường biên-giới lịch-sử khu-vực này được xác-định bằng sông
Thiếp-Lãng, sông Lục-Thủy và núi Phân-Mao. Nếu ta ghi-nhận thêm núi
Ô-Lôi thì điểm chấm dứt đường biên-giới này ở biển, cận Long-Môn.
Đường biên-giới cụ-thể sẽ là: đường biên-giới theo sông Lục-Thủy, qua
chân núi Phân-Mao (giả-sử Cổ-Sâm thuộc về Tàu), nhập vào sông
Thiếp-Lãng, gần đến biển, đường biên-giới rời sông để đánh một vòng
cung để chấm dứt ở Long-Môn. Vòng cung bao-bọc châu Trường-Bình và bán
đảo Bạch-Long. Hai vùng này thuộc về Việt-Nam (hình 2).
Nếu cho rằng Mạc Ðăng Dung trả lại đất mà nhà Lê đã lấn thì đất đó phải
ở phía Bắc núi Phân-Mao (giả-sử là động Cổ-Sâm), phía Bắc sông Lục-Thủy
và phía Bắc sông Thiếp-Lãng và phía Bắc núi Ô-Lôi.
So-sánh đường biên-giới lịch-sử với bản-đồ hiện nay ta thấy Việt-Nam bị
mất một vùng đất quan-trọng. Vùng đất quan-trọng này được xác-định bằng
tứ-giác mà 3 trong 4 cạnh xác-định bằng : 1/ đường nối sông Thiếp-Lãng,
sông Lục-Thủy, núi Phân-Mao dài khoảng 80km, 2/ đường biển từ Long-Môn
đến Móng-Cái dài khoảng 50km, 3/ đường biên-giới hiện nay (sông
Gia-Long hay Bắc-Luân), từ biển, bắt đầu từ Móng-Cái cho đến một phần
tỉnh Lạng-Sơn, chiều dài ước tính khoảng 80km.
Vị-trí núi Phân-Mao trên bản-đồ sẽ mô-tả ở phần sau.
Tại sao đường biên-giới lấn sang Việt-Nam nhiều như vậy ? Ðất mất về
Trung-Hoa lên đến nhiều ngàn cây-số vuông (4.000km²). Nguyên-nhân mất
đất này do đâu ? Do Mạc Ðăng Dung, Trịnh Thanh Vương hay do người Pháp
(theo công-ước 1887) ?
II. Xác-định đường biên-giới lịch-sử vùng Quảng-Đông theo hồ-sơ Công-Ước Phân-Định Biên-Giới 1887 .
Ðiều 3 hiệp-ước Thiên-Tân tháng 6 năm 1885 ghi rằng: « Trong một khoảng
thời-gian 6 tháng, các ủy-viên của hai bên sẽ ra thực-địa để nhìn-nhận
đường biên-giới giữa Trung-Hoa và Bắc-Kỳ. Những người này sẽ cắm mốc ở
mọi nơi thấy cần-thiết để đường biên-giới được rõ-ràng. Trường-hợp hai
bên không thống-nhất về vị-trí những cột mốc hay nếu có những
điều-chỉnh trên đường biên-giới hiện-trạng, vì quyền-lợi hai nước, việc
này sẽ đưa về hai chính-phủ để giải-quyết ». [« Dans un délai de six
mois à partir de la signature du présent traité, des commissaires
désignés par les hautes parties contractantes se rendront sur les lieux
pour reconnaître la frontière entre la Chine et le Tonkin ; ils
poseront, partout où besoin sera, des bornes destinées à rendre
apparente la ligne de démarcation ; dans le cas où ils ne pourraient se
mettre d'accord sur l'emplacement de ces bornes ou sur les
rectifications de détail qu'il pourrait y avoir lieu d'apporter à la
frontière actuelle du Tonkin, dans l'intérêt commun des deux pays. Ils
en référeraient à leurs gouvernements respectifs».]
Đoạn dẫn trên từ Hiệp-Ước Thiên-Tân cho thấy hai nước Pháp và Thanh đã
cùng đồng-ý rằng giữa hai nước Việt-Nam và Trung-Hoa đã hiện-hữu một
đường biên-giới. Hai bên Pháp-Thanh cho một thời-gian là 6 tháng để ra
thực-địa nhìn-nhận đường biên-giới đó. Đường biên-giới này gọi là « la
frontière actuelle » đường biên-giới hiện-trạng. Để nhận-diện, phía
người Pháp đã nghiên-cứu lịch-sử của Việt-Nam cũng như Trung-Hoa. Các
bộ địa-chí của Trung-Hoa và Việt-Nam như bộ Ðại-Thanh Nhứt Thống Chí, Đại-Thanh Hội Điển Đồ, Kiến-Văn Tiểu Lục
đều đuợc dịch ra Pháp-ngữ để làm bằng-chứng thiết-lập lại đường
biên-giới. Ðiều này hợp-lý, vì người Hoa cũng như người Việt đều không
phủ-nhận giá-trị các sử-liệu này. Nội-dung của ÐTNTC thể-hiện rõ-rệt
đường biên-giới hiện-trạng của hai nước Việt-Trung. Bộ Đại-Thanh Nhứt Thống Chí
chia đường biên-giới ra làm 3 vùng : Quảng-Đông, Quảng-Tây và Vân-Nam.
Có thể người Pháp vì thế cũng chia biên-giới ra làm ba vùng tương-tự.
Những vùng đất Mạc Đăng Dung « dâng » hay « nhượng » cho nhà Minh thuộc
về đoạn biên-giới Quảng-Đông và một phần tỉnh Quảng-Tây, tương-ứng tỉnh
Quảng-Yên và một phần tỉnh Lạng-Sơn. Người viết bài tôn-trọng thứ-tự
này. Hiện nay ranh-giới hai tỉnh Quảng-Đông và Quảng-Tây thay-đổi.
Quảng-Đông không còn tiếp-giáp với Việt-Nam và Khâm-Châu thuộc về
Quảng-Tây.
Kết-quả sau khi nghiên-cứu tài-liệu của Trung-Hoa, Ủy-Ban Phân-Ðịnh
Biên-Giới Pháp cho rằng lãnh-thổ Việt-Nam, riêng vùng tiếp giáp tỉnh
Quảng-Đông, mở ra tới Long-Môn (Long-Men, thành-phố cận biển của
Trung-Hoa, kế-cận hải-cảng Phòng-Thành – FangChengGang – hiện nay thuộc
Quảng-Tây).
Trong một lá thư của ông Dillon, chủ-tịch Ủy-Ban Phân-Ðịnh Biên-Giới,
gởi Constans, Ðặc-Sứ Toàn-Quyền Pháp tại Bắc-Kinh ngày 23 Mars 1887,
viết về chủ-quyền của Pack-lung (Bạch-Long) cũng như đường biên-giới
giữa An-Nam và Trung-Hoa. Nội-dung thư cho thấy Ủy-Ban Pháp đã có
đầy-đủ dữ-kiện về biên-giới giữa Việt-Nam với tỉnh Quảng-Ðông. « Dựa
lên địa-chí của Trung-Hoa thì lãnh-thổ An-Nam mở rộng cho đến Long-men
(Long-Môn) ». Việc này cho thấy Pack-Lung (Bạch-Long) thuộc An-Nam. Ông
viết rằng khoảng từ 20 năm nay, bọn cướp Tàu đã chiếm Bạch-Long cũng
như Long-Môn để làm sào-huyệt. Ðây là lý-do duy-nhất mà vùng đất này đã
ra ngoài tầm kiểm-soát của An-Nam. Ông Dillon nhấn mạnh, không có một
lý-do nào có thể phản-bác được thẩm-quyền của Pháp tại Bạch-Long. Trên
thực-địa, đường biên-giới thực-sự được cụ-thể hoá qua những đồn canh
(cửa ải) của Trung-Hoa đã dựng lên. Ðường nối các công-sự đã chừa ra
ngoài vùng Trường-Bình (châu Trường-Bình, bao gồm Packlung -
Bạch-Long). Rõ-ràng Trường-Bình thuộc về Việt-Nam.
Những bằng-chứng của Ủy-Ban Pháp, thứ nhứt, châu Trường-Bình đã được
triều-đình Huế bổ một vị quan cùng gia-đình về quản-trị, thâu-thuế dân
chúng từ nhiều thập niên trước. Nhưng người hậu-duệ cuối cùng của viên
quan đã bị quân cướp Tàu giết, thân-xác bị chặt làm nhiều khúc qua
biến-cố tháng 11 năm 1886 (biến-cố nầy làm thiệt-mạng một số quân-đội
Pháp và ông Haitce, nhân-viên của Ủy-Ban Phân-Ðịnh Biên-Giới). Thứ hai,
những nhân-chứng sống, là những người dân địa-phương, người Hoa cũng
như người Việt, đã hướng-dẫn ông Bohin, vào tháng 11 năm 1886, và
đội-quân của Ông Dugenne vào tháng 1 năm 1887, để các ông này làm
công-tác trắc-địa. Những dữ-kiện đo-đạc từ công-tác trên thì phù-hợp
với những điều-tra trong vùng Móng-Cáy. Thứ ba là sổ bạ ghi-chép
điền-địa từ các huyện, phủ trong vùng. Thứ tư là bản-đồ chính-thức của
An-Nam. Thứ năm là sự xác-nhận của nha Kinh-Lược từ triều-đình Huế. Ông
Dillon cũng đưa thêm hai bằng-chứng nữa là vùng trên đã được hải-quân
Pháp kiểm-soát vào những năm sau này và các bản-đồ An-Nam do Pháp
thiết-lập. Những yếu-tố mà ông Dillon cho là bất-lợi « négative» là
thái-độ thiếu lương-thiện của người Hoa trong việc thiết-lập chứng-cớ
như bản-đồ không đúng với thực-tế và diễn-giải sai-lệch qui-tắc
hàng-hải Pékin 1811 để dành vùng đất của An-Nam, bao gồm luôn mũi
Bạch-Long. Dillon cho rằng việc này gây nguy-hiểm cho Pháp-Quốc. Bức
thư nguyên-văn như sau :
« Je vous ai télégraphié le 17. Le Commandant Bouinais est parti le 16 avec un long rapport et des pièces à l’appui.
La géographie chinoise établit que le territoire annamite va jusqu’à
Long-men, par là même et implicitement mais à fortiori qu’il comprend
le Cap. Il en était réellement ainsi jusqu’à ces vingt dernières années
; depuis, le pays entre Packlung et Long-men a été occupé par des
pirates chinois ; C’est ainsi que de fait seulement il a cessé d’être
annamite. Rien à partir du Cap inclusivement n’est venu ébranler nos
droits.
Sur le terrain, la vraie frontière chinoise était et est encore marquer
par un cordon de postes en dehors duquel se trouvent l’enclave et le
Cap.
Le Cap Packlung est une dépendance de la principale commune de
l’enclave. Etant prouvé que cette commune est annamite, le Cap l’est
aussi.
Ceci dit, voici pour le Cap en particulier :
1 : Preuves positives. Une famille annamite délégué par la Cour de Hue,
touchait les redevances des rares habitants du Cap. Son dernier
descendant a été coupé en morceaux par les chinois, lors des évènements
de novembre. Témoignage des guides chinois ou annamites, pris sur les
lieux, qui ont conduit Mr Bohin en novembre et la colonne Dugenne en
Janvier pour leurs relevés topographiques. Concordance des
renseignements recueillis à Monkay. Notoriété publique. Cartes
officielles de l’Annam. Affirmation écrite du Kinh-luoc. Police exercé
pendant ces dernières années par notre Marine, et cartes de l’Annamite
française.
2 : preuves négative. Vices des raisonnements chinois. L’autorité
qu’ils attribuent contre nous à leur géographie où la presqu’ile
montagneuse de Packlung est, en principe, inadmissible. La carte
spéciale qu’ils nous ont montrée fourmille de graves erreurs et la
frontière Sud n’y est même pays marquée. Ils tirent les plus fausses
déductions du règlement maritimes de Pekin (1811) et elles seraient
pour nous pleines de dangers. »
Ðiều rất đáng tiếc là các tài-liệu (như giấy xác-nhận của nha Kinh-Lược
của triều-đình Huế, bản-đồ của Việt-Nam thời đó v.v..) đính kèm lá thư
này thì không tìm thấy .
Trong bản tường-trình về công-tác phân-giới ngày 12 tháng 9 năm 1890,
ông Chiniac de Labastide ghi rằng : « Tôi có nghe linh-mục R.G.
Grandpierre, nhà truyền-giáo ở Trực-Sơn, nói rằng ngày trước thì có rất
nhiều trụ đồng ở miền giáp-giới với mũi Bạch-Long (cap Paklung), nhưng
chúng đã bị phá-hủy từ nhiều thế-kỷ nay và ngày hôm nay không thể biết
chính-xác vị-trí của chúng ở nơi nào ». Chi-tiết này có ghi lại trong
tập bút-ký «Sur Les Frontières du Tonkin» của Bác-Sĩ Néis đăng thành
nhiều kỳ trên báo Le Tour du Monde
năm 1885. Theo đó thì các trụ đồng bị phá bỏ vào thế-kỷ thứ 16.
Thời-điểm này phù-hợp với việc « dâng đất » của Mạc Đăng Dung. Các trụ
đồng phá bỏ để phù-hợp với biên-giới đã dời về phía Nam.
Cũng trong bản tường-trình của Delabastide, viết : « nếu chúng ta nhìn
trên bản-đồ của phần phía Tây của (hình 1) phủ Khâm-Châu và nếu chúng
ta khảo-sát cẩn-thận với dữ-kiện trong sách của ông Dévéria, thì chúng
ta có kết-luận hợp-lý là từ vùng chung-quanh Bắc-Luân cho đến biển, con
sông đi qua Bắc-Thị và Ðông-Hưng, không phải luôn là đường biên-giới
An-Nam – Trung-Hoa, nhưng rặng núi bắt đầu từ Thập-Vạn Ðại Sơn, chấm
dứt tại Long-Môn, chắc-chắn, trong những thế-kỷ đầu của Tây-Lịch, mới
là giới-hạn giữa hai nước An-Nam và Trung-Hoa.
Bởi vì, vào thời-kỳ xa-xưa của nhân-loại cũng như ở dưới thời của chúng
ta, những giòng sông bao giờ cũng là một đường biên-giới xấu; ở khắp
mọi nơi trên địa-cầu, các giống dân có khác nhau là do ngăn cách bởi
những rặng núi cao và nó có vượt qua được dễ-dàng hay không. »
Như vậy, theo các tài-liệu này, đường biên-giới đáng lẽ phải được hai
bên nhìn-nhận là đường biên-giới từ núi Phân-Mao, theo sông Thiếp-Lãng,
trước khi đến biển khoảng 10 km, biên-giới rời sông, đánh một vòng cung
bao bọc Trường-Bình và mũi Bạch-Long, để chấm dứt tại gần Long-Môn.
Bạch-Long cũng như Trường-Bình thuộc về Việt-Nam.
Ðường biên-giới hiện-trạng vì thế không khác nhiều lắm đường biên-giới lịch-sử đã thiết-lập ở phần trên.
III. Kết-quả phân-định biên-giới 1887
1. Tìm hiểu vùng đất mang tên « l’Enclave Paklung »
L’enclave, Đào Đăng Vĩ dịch là « đất nội-phận » (Tự-điển Pháp-Việt),
danh-từ để chỉ một vùng đất được xác-định rõ-rệt, có thể có một
pháp-chế, nằm trong một vùng đất có chủ-quyền thuộc về một quốc-gia
khác. « Paklung », hay « cap Paklung », là cách phát-âm của Pháp cho
bán đảo Bạch-Long (Bailong). Bán đảo này ở phía Bắc sông Thiếp-Lãng.
Sông Thiếp-Lãng ở phía Bắc sông Gia-Long (tức sông Bắc-Luân, là đường
biên-giới hai nước việt-Nam và Trung-Hoa hiện nay). Nhìn trên bản-đồ
hiện nay, vùng đất chen vào giữa Móng-Cái (thuộc Việt-Nam) và mũi
Bạch-Long (thuộc Tàu) là Đông-Hưng (thuộc Tàu). Trong giai-đoạn
phân-định biên-giới 1886-1887, vùng Bạch-Long, do lệnh của Tổng-Đốc
Lưỡng-Quảng là Trương Chi Động, phe Tàu nhất-định không nhượng-bộ, cho
dầu phe người Pháp đã trình-bày được những bằng-chứng không thể
phản-biện. Hai phái-đoàn phân-định đã không thể giải-quyết việc
tranh-chấp này trên thực-địa. Nội-vụ đã được đưa về Tổng-Lý Nha Môn
(hay nha Tổng-Lý, tương-đương bộ Ngọai-Giao Trung-Hoa) và Đặc-Sứ Pháp
tại Bắc-Kinh là ông Constans để giải-quyết. Vụ tranh-chấp này gọi là vụ
« l’enclave annamite ». Kết-quả tranh-chấp sẽ được ghi lại phần dưới.
Thế nhưng từ khi nào mũi Bạch-Long trở thành « l’enclave », một vùng
đất Việt trong lãnh-thổ Trung-Hoa ? Ta thấy lá thư của ông Dillon,
Chủ-Tịch Ủy-Ban Phân-Định Biên-Giới, ghi ở trên, xác-định đường
biên-giới lịch-sử với những bằng-chứng không thể phản-biện : lãnh-thổ
Việt-Nam mở rộng đến Long-Môn. Long-Môn, kế-cận Phòng-Thành, ở xa, về
phía Bắc bán đảo Bạch-Long. Để tìm hiểu vì sao mũi đất này trở thành «
enclave », ta phải tìm hiểu vì sao những vùng đất chen giữa Móng-Cái và
Bạch-Long, tức là Đông-Hưng và vùng phụ-cận, đã trở thành đất của Tàu.
Phe Tàu đã đưa ra bằng-chứng nào để chứng-minh những vùng đất này thuộc
về Trung-Hoa mà ông Dillon không thể phản-biện được ?
Biên-bản phân-định ký ngày 19 tháng 3 năm 1887 giữa Ông Dillon Chủ-Tịch
Ủy-Ban Pháp và Ông Đặng Thừa Tu (Tseng Tcheng Sieou), Thượng-Thư Bộ Lễ,
Chủ-Tịch Ủy-Ban Trung-Hoa cùng một số nhân-viên khác cho chúng ta một
vài chi-tiết quí-giá để soi-sáng việc này. Biên-bản này phân-định đoạn
biên-giới từ Trúc-Sơn đến ải Chí-Mã. Trúc-Sơn là tên gọi một cồn nhỏ ở
cửa sông Gia-Long (Bắc-Luân) và ải Chí-Mã là một cửa biên-giới thuộc
tỉnh Lạng-Sơn.
«Les membres de la commission franco-chinoise de délimitation
ont reconnu que : à partir de Tchou-chan (Trúc-sơn 竹山), qui appartient
au territoire chinois, la frontière suit la rivière, de l’est à
l’ouest, jusqu’à Tong-hing (Ðông-Hưng 東興) et Mang-kiai (Mang-Nhai 硭 鈣).
Dans cette section, le milieu de la rivière forme la limite frontière,
séparant Lo-feou-t’ong (La-phù-đồng 羅浮峒), Tong-hing et autres lieux ;
qui appartiennent à la Chine, de Wou-che (Ngũ-sĩ 伍仕), Monkaï et autres
lieux qui appartiennent à l’Annam.
Depuis Tong-hing et Monkaï jusqu’à Pei-che (Bắc-thị, Pacsi 北市) et
Kia-long (Gia-long 加隆), la frontière est assez sinueuse et se dirige de
l’est au nord-nord-ouest ; suivant le milieu de la rivière depuis
Tong-hing et Monkaï jusqu’à Pei-che et Kia-long et séparent ainsi
Na-tche (Ná-chi 那芝), kia-long et autres localités, qui appartiennent à
la Chine, de T’o-ling (Thác-lãnh 托嶺), Nan-li (Nam-lý 南里), Pei-che et
autres localités, qui appartiennent à l’Annam.
Depuis Pei-che et Kia-long, la frontière suit le milieu de la rivière
Kia-long, qui est un affluent occidental de la rivière de Pei-che
(rivière de Pacsi 北 市 江). Le cours de cette rivière a une longueur de
trente li environs [ Note : chaque li équivaut à 561 mètres ], et
au-delà de ces trentes li, la ligne frontière se dirige directement
jusqu’à trois li comptés juste au nord de l’ancien marché du village de
T’ong-tchong 峝 中 村, c’est-à-dire jusqu’au point A 甲de la carte n° 1.
Les localités de Ling-Houai (嶺 懷 Lãnh-hoài), de P’i-lao (Phi-lao 披 勞),
de Pan-hing (Bản-hưng 板 興), la montagne située au sud-est de Pan-hing,
touchant à la frontière et appelée Fen-mao-ling (Phân-mao-lãnh 分 茅 嶺)
et autres lieux ; sont attribués à la Chine. Na-yang (Ná-duong 那 陽),
Tong-tchong (Ðộng-trung 峝 中) et autres lieux sont attribués à l’Annam.»
Tạm dịch như sau :
« Ủy-ban phân-định biên-giới đã công-nhận rằng từ Trúc-Sơn 竹山, thuộc
Trung-Hoa, đường biên-giới theo dòng sông, hướng Ðông sang Tây, cho đến
Mang-Nhai 硭 鈣 – Ðông-Hưng 東興. Ðường trung-tuyến của dòng sông được dùng
làm ranh-giới và chia các khu-vực thuộc Trung-Hoa là La-Phù Ðộng 羅浮峒,
Ðông-Hưng 東興 v.v.. với các khu-vực thuộc An-Nam là Ngũ-Sĩ 伍仕, Mang-Nhai
v.v..
Từ Mang-Nhai 硭 鈣 – Ðông-Hưng 東興 đến Bắc-Thị 北市- Gia-Long 加隆: đường
biên-giới khá quanh-co, có hướng chung Bắc đến Bắc Tây-Bắc và theo
trung-tuyến của dòng sông, phân-chia những vùng đất Na-Chi 那芝, Ka-Long
v.v.. thuộc về Trung-Hoa những vùng Thác-Lãnh 托嶺, Nam-Lý 南里, Bắc-Thị
v.v.. thì thuộc An-Nam.
Từ Bắc-Thị - Gia-Long đường biên-giới theo trung-tuyến sông Gia-Long,
là một phụ-lưu tây-ngạn của sông Bắc-Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30
lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí nầy đường
biên-giới rời sông, theo đường thẳng trực-tiếp để đến điểm cách
Ðộng-Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản
đồ số 1. Ðường biên-giới chia cho phía Trung-Hoa các vùng Lãnh-Hòa 嶺懷,
Phi-Lao 披勞, Bản-Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân-Mao Lĩnh
分茅嶺, núi này ở phía Ðông-Nam của Bản-Hưng 板興 và dựa lên đường
biên-giới. Các vùng Ná-Dương 那陽, Ðộng-Trung 峝中 và những nơi khác thì
thuộc về An-Nam.
Ta thấy rằng, trước hết, con sông Thiếp-Lãng, phía Bắc sông Gia-Long và
cách sông này trên 20km, đã không được dùng làm biên-giới, mặc dầu sông
Thiếp-Lãng đã được xác-nhận qua các bộ sử của Trung-Hoa như Đại-Thanh
Nhứt Thống Chí và Đại-Thanh Hội Điển Đồ. Các bộ sử này hiện nay vẫn
được xem là sử chính-thức của Trung-Hoa. Tại sao ? Có phải vì Đông-Hưng
(xưa gọi là Đông-Hưng Nhai), ở giữa Bạch-Long và Móng-Cái (Mang-Nhai),
thuộc về Tàu ? Bác-sĩ Neis mô-tả Đông-Hưng trong tập bút-ký như sau : «
En face de Monkay, sur le territoire du Kouang-tong, se trouve le
village de Tong-hin-kaï, qui possède un mirador, mais ou l'on ne
rencontre ni commerce ni richesse. » Tạm dịch : « Đối-diện Móng-Cái,
trên lãnh-địa Quảng-Đông là làng Đông-Hưng Nhai. Ở đây có một chòi
canh, nhưng người ta không thấy sinh-hoạt buôn-bán cũng như sự
phồn-thịnh ». Việc này cho thấy, dầu trực-thuộc Khâm-Châu, Đông-Hưng
chỉ là một làng tạm-bợ, không tính chuyện lâu dài.
Đông-Hưng chưa phải là bằng-chứng cụ-thể để Bạch-Long trở thành «
enclave ». Vấn-đề sẽ rõ-rệt nếu ta xét đến biên-bản ghi trên : Ðường
trung-tuyến của dòng sông được dùng làm ranh-giới và chia các khu-vực
thuộc Trung-Hoa là La-Phù Ðộng 羅浮峒, Ðông-Hưng 東興 v.v.. với các khu-vực
thuộc An-Nam là Ngũ-Sĩ 伍仕, Mang-Nhai 硭 鈣 (Móng-Cáy) v.v.. Ta thấy
địa-danh La-Phù Động, tức động La-Phù, thuộc Như-Tích, ở kế cận
Đông-Hưng. Việc này thể-hiện cụ-thể qua tấm bản-đồ đính-kèm. Ta cũng
thấy ghi phần I, có sự trùng-hợp giữa động Tư-Phù thuộc Thiếp-Lãng và
sông Thiếp-Lãng. Ta thấy hai tên Chiêm-Lãng và Thiếp-Lãng, hai chữ «
chiêm » và « thiếp » đọc và viết rất gần giống nhau. Chữ Thiếp 貼 có âm
là chữ « Chiêm占 » và bộ « bối 貝 ». Như vậy rất có thể Thiếp-Lãng chính
là Chiêm-Lãng. Nếu vậy, La-Phù thuộc Như-Tích, Tư-Phù thuộc Chiêm-Lãng.
Có một điều chắc-chắn là phía người Hoa đã sử-dụng « văn-bản dâng đất »
của Mạc Đăng Dung hay của Trịnh Thanh Vương trong vấn-đề phân-định
biên-giới. Động La-Phù (Như-Tích) theo lịch-sử thuộc về Trung-Hoa,
Tư-Phù thuộc Thiếp (hay Chiêm)-Lãng cũng thế. Chỉ có thể vì những lý-do
này mà Bạch-Long mới trở thành « enclave annamite ».
Như đã dẫn trên, Tạp-Trú
của Nguyễn Thiên Tích chép : « (An-Bang thừa-tuyên có) hai phủ, tám
huyện, sáu châu : Phủ Hải-Ðông gồm 3 huyện 4 châu là Hoa-Phong,
An-Hưng, Hoành-Bồ, Vân-Ðồn, Tân-An, Vạn-Ninh, Vĩnh-An. Phủ Dương-Tuyền
gồm 5 huyện, 2 châu : Hoành-Cừ, Vân-An, Hoa-Nha, An-Hóa, An-Phố,
Như-Tích, Chiêm-Lãng. Mạc Ðăng Dung nộp hai châu Như-Tích, Chiêm-Lãng
cho nhà Minh thuộc vào Khâm-Châu. Sau khi nhà Lê trung-hưng, chúa Trịnh
Thanh Vương cầu riêng với nhà Minh, phong cho là phó quốc-vương mới
dâng đất 3 huyện thuôc phủ Dương-Tuyền, nay (An-Bang thừa Tuyên) chỉ
còn một phủ, 3 huyện, 3 châu mà thôi »
Hai châu Như-Tích và Chiêm-Lãng thuộc phủ Dương-Tuyền do Mạc Đăng Dung
nộp cho nhà Minh. Hai châu này kế-cận nhau, ở phía tả ngạn sông
Gia-Long (Bắc-Luân), đối-diện châu Hà-Cối (Móng-Cáy thực ra là xã
Hòa-Lạc thuộc tổng Vạn-Ninh, châu Hà-Cối). Các châu này thuộc An-Bang
thừa-tuyên đời Lê Thánh Tôn.
Động Cổ-Sâm, nơi có núi Phân-Mao, thì cách biên-giới hiện nay đến «
nhiều ngày đường ». Nếu đất Cổ-Sâm chỉ trả cho nhà Minh thì tại sao
hiện nay núi Phân-Mao tít-mù trong nội-địa Trung-Hoa?
Việc dâng đất của Trịnh Thanh Vương rất tiếc, dường như bị lịch-sử bỏ sót.
Ta thấy động La-Phù và Tư-Phù nằm trong danh-sách dâng đất của Mạc Đăng
Dung (Như-Tích và Thiếp-Lãng cũng thế). Cho dầu sau này Bạch-Long thuộc
về Tàu vì sự trao đổi quyền-lợi giữa Pháp và nhà Thanh, cho dầu các
động khác còn lại trong danh-sách này chưa xác-định được trên bản-đồ,
nhưng chắc-chắn một điều là việc « dâng đất » của Mạc Đăng Dung là một
sự thật lịch-sử.
Biên-bản viết : « một ngọn núi mang tên Phân-Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở
phía Ðông-Nam của Bản-Hưng 板興 và dựa lên đường biên-giới. » Việc này
cho thấy đường biên-giới lịch-sử do phái-đoàn Pháp thiết-lập, những
chứng-cứ lịch-sử góp phần tạo nên đường biên-giới thì được tôn-trọng.
Nhưng từ lý-thuyết đến thực-tế sẽ cách nhau rất xa. Việc phân-giới sau
này sẽ cho thấy mưu-mô của quan-chức người Tàu trong việc lấn đất của
Việt-Nam. Việc này trình-bày rõ hơn trong sách Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 - lịch-sử thành-hình và những tranh-chấp của người viết sắp ra mắt.
2. Những âm-mưu của quan-chức Tàu trong vấn-đề tranh-chấp lãnh-thổ
Sau khi các biên-bản phân-định các đoạn biên-giới đã ký-kết, biên-bản
bế-mạc công-trình phân-giới làm tại Bắc-Kinh giữa Tổng-Lý Nha Môn và
ông Constans (tức công-ước 1887) được ký, nội-dung công-ước giải-quyết
những vùng tranh-chấp đã không thể giải-quyết trên thực-địa và
công-nhận hiệu-lực các biên-bản phân-định, 2 năm sau, 1889, các ủy-ban
phân-giới được thành-hình để ra thực-địa cắm mốc.
Việc cắm mốc trên 3 vùng biên-giới kéo dài từ năm 1889 đến năm 1897. Đã
có rất nhiều sơ-hở và sai-lầm về nội-dung của các biên-bản phân-định
(1885-1887) được phát-hiện. Trong đó có vị-trí của trái núi lịch-sử
mang tên Phân-Mao. Bản tường-trình của ông Chiniac de Labastide,
chủ-tịch Ủy-Ban Phân-Giới Pháp (1889-1890) viết :
« Tôi đã hỏi thăm tất-cả dân làng ở các nơi mà tôi đi qua: quan-lại,
nhân-sĩ, ông bà lão; tôi đã hỏi những người đi buôn, khách lữ-hành, phu
khuân-vác từ lâu đã đi qua lại vùng này. Các sĩ-quan trắc-địa cũng nhận
được lệnh làm công-tác tương-tự. Các cuộc điều-tra tỉ-mỉ đã được
thực-hiện ở các nơi, và mọi nơi đều có cùng kết-quả. Không có người nào
biết đến một ngọn núi có tên Phân-Mao Lãnh; cũng không có người nào
nghe đến danh-xưng này, ngoại trừ một lần, một ông già đã nói với tôi
một ngày đó, sau khi đã suy-nghĩ hồi lâu, rằng ông đã nghe nói đến tên
ngọn núi này, nhưng nó ở cách đây rất xa, ít nhất là năm hay sáu ngày
đường; ông cũng không thể nói ở về hướng nào.
Người ta vì thế có thể xem như là chắc-chắn là núi Phân-Mao Lãnh không
thuộc về tổng Bát-Tràng và cũng không thuộc về tổng Kiến-Duyên. »
Ta thấy, phía người Hoa đã công-nhận trên văn-bản 1887 rằng núi
Phân-Mao ở trên đường biên-giới. Nhưng khi ra thực-địa cắm mốc thì các
nhân-viên phân-giới người Pháp mới biết trái núi này không ở trong vùng.
Ông Chiniac de Labastide viết tiếp :
« … khi tôi cho ông Chủ-Tịch Ủy-Ban Phân-Giới Trung-Hoa biết rằng,
mặc-dầu có nhiều nỗ-lực tìm kiếm, tôi vẫn không tìm ra trái núi mà dưới
chân nó có trụ đồng để đánh dấu biên-giới của tướng Mã-Viện là Phân-Mao
Lãnh. Núi này hoàn-toàn không ai biết. Ông này trước tiên im-lặng, và
vài ngày sau, ông chỉ tôi ở trên bản-đồ, không phải ở phía Ðông-Nam mà
ở phía Ðông-Bắc của Bản-Hưng, phía nam Pi-Lao, một trái núi nhỏ và cho
đó là Phân-Mao-Lãnh. Khi tôi la lớn về sự xác-nhận phi-lý này thì ông
ta mới trả lời cho tôi, bằng một dáng-điệu trịnh-trọng, trái núi này
không phải là Ðại Phân-Mao Lãnh, nổi tiếng do trụ đồng của tướng
Mã-Viện, mà chỉ là một Tiểu Phân-Mao Lãnh. »
Kết-quả làm cho: «
trên một chiều dài khoảng 40 cây số, người ta đã bỏ biên-giới lịch-sử
của An-Nam và Trung-Hoa để lấy một đường biên-giới khác, ở xa về phía
nam, một đường biên-giới hoàn-toàn qui-ước. Việc này đã nhường cho
Trung-Hoa 7 xã rưỡi thuộc tổng Bát-Tràng của An-Nam và hai xã khác cũng
của An-Nam thuộc tổng Kiến-Duyên.»
Vấn-đề người Tàu tạo dựng bằng-chứng để lấn lãnh-thổ Việt-Nam không
phải là hiếm-hoi trong lịch-sử. Ta vừa thấy người Hoa đã dựng lên ngọn
núi Phân-Mao để lường-gạt các ủy-viên phân-giới Pháp. Cũng cùng
thời-điểm đó người Hoa cũng dựng lên sông « Đổ-Chú » để lấn đất
Tụ-Long. Khi người Pháp biết được sự thật thì họ gọi đó là Tiểu Đổ Chú
Hà . Cũng tại vùng Tụ-Long, Kiến-Văn Tiểu-Lục chép lại dữ-kiện người
Hoa bịa chuyện để lấn đất. Họ lấy một vài địa-danh nào đó thuộc Tàu rồi
đặt những tên này lên các vùng đất Việt-Nam, sau đó đem quân qua chiếm:
« Năm Bảo-Thái thứ 5 (1724) Tổng-đốc Vân-Nam tên Cao Kỳ Trác, ra
khẩu-lệnh cho tổng-thôi 摠催 Dương Gia Công 楊加功, qua sông để chiếm mỏ
đồng của làng Bán-Gia và mỏ kẽm của làng Kha-Thôn, cả hai thuộc
Tụ-Long. Họ cho rằng vùng đất này thuộc về Trung-Hoa và đã bị các
thổ-quan của nước ta chiếm đoạt. Họ cũng tâu lên vua Thanh yêu-cầu
chấm-dứt việc điều-tra và thương-thảo.
Rõ-ràng đây là một âm-mưu chiếm-đoạt của ông Cao Kỳ Trác, vì ông ta
thấy vùng này quặng mỏ trù-phú. Nhưng quan-lại nước ta nói rằng ông này
đã « lầm-lẫn làng Ma-Tu 痲須 thuộc Tụ-Long với trại Mã-Đô 馬都; làng Tà-Lộ
斜路 với trại Bố-Ðô 布都; làng Phù-Không 扶空 với trại A-Không 阿空; làng
Phù-Ni 扶尼 với trại Bạch-Nê 白泥; làng Nhĩ-Hô 爾呼 với trại Ngưu-Hô-Hắc 牛呼黑
và cuối cùng là ông ta lẫn-lộn con nước Tam-Khê 三溪 (hay là ba con suối
?) với sông Ðổ-Chú ».
Lần này người Hoa không thành-công vì tổ-tiên ta thông-hiểu đất-đai
thuộc lãnh-thổ nước mình, người Hoa phải trả đất Tụ-Long lại cho ta vào
năm 1728. Ta thấy mánh-khóe này họ đã lập lại nhiều lần. Gần đây nhất,
họ lấy những tên bá-vơ nào đó trong cổ-sử để đặt tên cho hai quần đảo
Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt-Nam để làm cớ đánh chiếm. Những chi-tiết
này cũng được mô-tả cặn-kẻ trong quyển sách Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 của người viết.
Trở lại nghi-vấn « dâng đất » của Mạc Đăng Dung, qua các dữ-kiện trên,
ta có thể nghi-ngờ rằng có một số địa-danh thuộc Việt-Nam đã bị tráo
tên Tàu và trở thành đất Tàu. Nếu vậy thì họ Mạc trí-trá, lấy đất dâng
Tàu, nhưng sợ người đời nguyền-rủa nên cho rằng chỉ trả đất.
III. Kết-luận
Thời nào cũng vậy, việc cắt đất dâng cho ngoại-bang là một điều cấm-kỵ,
người dâng đất phạm đại-tội. Họ Mạc vì sợ lưu-xú vạn niên nên mới
nhập-nhằng việc dâng đất thành việc trả đất. Nhưng các sử-gia Việt-Nam
đã không lầm. Quí ông Ngô Sỹ Liên, Trần Trọng Kim v.v.. đã viết đúng
hành-vi bán nước của Mạc Đăng Dung. Quí ông này phê-bình Mạc Đăng Dung
ra sao, nặng nhẹ thế nào, người viết không có ý-kiến.
Thời nay, ta thấy lịch-sử bán nước lại tái-diễn. Hồ Chí Minh và đảng
CSVN do ông dựng lên đã từng bước theo chân của Mạc Đăng Dung dâng đất,
dâng biển cho Tàu. Bằng-chứng rõ-ràng, nhưng bọn bán nước vẫn lấp-liếm,
giấu kín. Vịnh Bắc-Việt, nhượng 11.000km² thì họ cho rằng không có
nhượng, chỉ vì chưa phân-định nên phân-định lại cho công-bằng. Riêng
công-hàm do Phạm Văn Đồng ký theo lệnh của Hồ Chí Minh năm 1958,
công-nhận Hoàng-Sa và Trường-Sa cho Tàu. Ta có thể xem nguyên-bản
công-hàm này tại bộ Ngọai-Giao Trung-Cộng. Họ triển-lãm phóng-ảnh
công-hàm này trên trang web từ nhiều năm nay. Thác Bản-Giốc, một
thắng-cảnh vùng Cao-Bằng, nhượng cho Tàu. Lý-do nhượng vì cột mốc số 53
do Pháp và nhà Thanh cắm tại đây ở « trên cái cồn, giữa suối », nên
thác này phải chia hai. Cột mốc số 18 vùng Nam-Quan bị lấn 200m, nhưng
thực-tế mất đất khu này còn nhiều hơn nữa… .
Ngày hôm nay viết bài góp ý với học-giả Trần Khuê về nghi-vấn Mạc Đăng
Dung, người viết hy-vọng đã đóng-góp chút ít công-sức trong việc soi
sáng lại một sự thật lịch-sử. Viết được bài này là nhờ tác-giả vừa
nghiên-cứu xong lịch-sử đường biên-giới Việt-Trung từ năm 1885 đến năm
2000. Qua công-việc đó, nhiều sự thật đã được phơi bày. Sự thật thì cho
dầu khó nghe hay khó tin, nhưng người làm công-tác khoa-học chỉ biết có
sự thật. Hy-vọng học-giả Trần Khuê kiểm-chứng sự thật về Mạc Đăng Dung
cũng như kiểm-chứng những sự-thật rất khó nghe về Hồ Chí Minh và đảng
CSVN mà người viết vừa nói sơ-lược phần trên cũng như trong quyển sách
viết về biên-giới mà người viết ra mắt trong nay mai. Rất mong học-giả
Trần-Khuê cho biết ý-kiến của mình.
Pháp-Quốc ngày 29 tháng 9 năm 2005
Trương Nhân Tuấn
1. 1364 1644
2. Quang Thuận (1460 1469), Hồng Đức (1470 1497) là hiệu của vua Lê Thánh Tôn.
3. Phương Ðình Ðịa Dư Chí, Nguyễn Văn Siêu, nxb Văn Hóa Thông Tin, năm 2001, tr 395.
4. idem
5. Theo
6. Trích từ Sử Liệu về Biên Giới Ta Và Tàu Từ Ðời Nhà Lý Cho Tới Ðầu Thời Pháp Thuộc. Tác giả Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng. NXB Mai Hiên, PO BOX 1061 Campell, CA, 95009, không đề năm xuất bản.
7. 1368 1399
8. Bản dịch của ông Devéria, Ðại-Thanh Nhứt Thống Chí 大清一統志 ĐTNTC (500 quyển, in năm 1764 theo lệnh của vua Càn-Long), trong quyển La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphique et ethnographique
(d’après les documents officiels traduits pour la première fois), do
l’Ecole des Langues Orientales Vivantes xuất-bản, Paris năm 1886.
9. 1368 1399
10. 1426 1436
11. 1522 1567
12. Vua Lê Đại Hành có các hiệu : Thiên Phúc (980 988), Hưng Thống (989 993) và Ứng Thiên (994 1005).
13. Thuận Thiên là hiệu của vua Lê Thái Tổ (1428 1433).
14. PĐĐDC, sđd, 397
15. Dẫn bởi Tâm Quách Langlet, “La Perception des Frontière dans
l’Ancien Vietnam à travers quelques cartes vietnamiennes et
occidentales”, trong quyển Les Frontières du VietNam, tr 29, nxb Harmattan, Paris 1979.
16. PĐĐDC, sđd, 395
17. Như ghi chú 7, Ðại Thanh Hội Ðiển Ðồ 大清會典圖 ĐTHĐĐ (80 quyển, in năm 1818 theo lệnh của Thanh Triều)
18. PĐĐDC, sđd, 187
19. Phân Mao Lãnh có thể ở cách Khâm Châu khoảng 360 lí, tức 140 Km.
Ðơn vị lí được tính là 400 m trong tác phẩm của ông Dévéria.
20. Ðại Thanh Nhứt Thống Chí, tờ 8 và tờ 15.
21. Hà Mai Phương và Lưu Chu Thanh Tao, trong bài « Từ cửa Nam Quan đến ải Chi Lăng, Châu Ôn và núi Phân Mao ».
22. ĐTHĐĐ, sđd, q 348, tờ thứ 9.
23. ÐTHÐÐ, sđd, quyển 122, tờ thứ 26.
24. Châu Trường Bình (còn gọi là Cưong Bình), đến năm 1887 vẫn còn
thuộc Việt Nam. Châu này ở phía Bắc Móng Cái (Vạn Ninh), bên kia sông
Gia Long, bao gồm luôn bán đảo Bạch Long, đã bị Pháp nhượng cho Tàu
theo công ước 1887 để có quyền lợi kinh tế.
25. ÐTNTC, sđd, q 348, tờ thứ 9.
26. Hồ sơ phân định biên giới 1886 1894 : CAOM, Aix En Provence, Pháp
Quốc. Cartons : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360.
Indo, GGI. Carton : 31735 hồ sơ phân định biên giới Vân Nam vùng tả
ngạn sông Hồng. Indo, GGI.
27. Trên bản đồ hiện nay thì Long Môn ở trong một cái mũi đất, tương tự
như mũi Bạch Long, và ở phía Bắc của mũi Bạch Long. Giữa hai mũi nầy là
Phòng Thành, có sông Phòng Thành Giang chảy ra biển ở khoảng giữa hai
mũi đất ghi trên.
28. CAOM, fond Indo, GGI carton 65354.
29. Tuy nhiên ý kiến qua lá thư trên của ông Dillon, Chủ Tịch Ủy Ban
Pháp về biên giới đã không được tôn trọng, mặc dầu ông này có đầy đủ
tài liệu chứng minh. Ông Ernest Constans, Ðặc Sứ Toàn Quyền Pháp tại
Bắc Kinh, người đại diện Pháp để ký kết với nhà Thanh cùng lúc 2 công
ước liên quan về biên giới và kinh tế, ông này đã nhận được lệnh từ
Pháp nhượng bộ về lãnh thổ để được quyền lợi kinh tế. Ðường biên giới
hiện trạng do ông Dillon thiết lập dựa trên sử liệu của Tàu và Việt vì
thế đã không được tôn trọng.
30. Móng Cái, tiếng nói trại đi từ Monkay, là tiếng Pháp gọi Mang Nhai,
tên của Tàu chỉ cho xã Hòa Lạc thuộc tổng Vạn Ninh, châu Hà Cối, tỉnh
Hải Ninh, Việt Nam (theo tài liệu Protectorat du Tonkin 1891). Học giả
Đổ Thông Minh trong một dịp thuyết trình trên mạng lưới toàn cầu
paltalk có nói rằng Móng Cái có tên Tàu là Mang Nhai và thị trấn này
thuộc Tàu, nhượng cho VN sau công ước phân giới 1887. Đây là một điều
hoàn toàn sai. Bởi vì ngay cả sử liệu của Tàu như Đại Thanh Nhứt Thống Chí và Đại Thanh Hội Điển Đồ
cũng xác nhận rằng biên giới nơi đây là con sông Thiếp Lãng. Sông này ở
phía Bắc sông Gia Long, cách sông này khoảng 20km. Mặt khác, theo nội
dung Công Ước 1887, « Tại Quảng Ðông, hai bên thỏa thuận rằng những
điểm tranh chấp ở về phía Ðông và phía Ðông Bắc Móng Cái, những điểm
này ở phía bên kia của đường biên giới đã được ủy ban phân định xác
định, thì chúng được giao cho Trung Hoa. » Ta thấy Công Ước ghi rõ
những vùng tranh chấp thì ở phía Bắc và Đông Bắc Móng Cái. Không hề có
tranh chấp chủ quyền ở Móng Cái. Thực tế Trung Hoa không hề nhượng cho
Việt Nam một tất đất nào. Ngược lại, Pháp vì quyền lợi kinh tế đã
nhượng nhiều vùng đất quan trọng về kinh tế và chiến lược của Việt Nam
cho Tàu. Đó là các vùng đất : Tổng Tụ Long (750km², thuộc Hà Giang),
tổng Đèo Lương (Cao Bằng), mũi Bạch Long cùng một số xã của hai tổng
Kiến Duyên và Bát Tràng thuộc tỉnh Hải Ninh (diện tích tổng cộng theo
ước tính của ông Dillon là 1.700km²).
31. Xem sách Biên Giới Việt Trung 1885 2000 – Lịch sử thành hình và những tranh chấp của tác giả, ra mắt vào tháng 11 2005.
32. Sông này chắc là sông Ðổ Chú.
33. Những vấn đề liên quan vịnh Bắc Việt, Hoàng Sa, Trường Sa, các vùng
đất bị nhượng cho Tàu theo HGBG 1999… đều được ghi lại và chú dẫn đầy
đủ trong sách của tác giả.